[02] Hạnh Tạng II – Cariyāpiṭaka Pāḷi II

Wednesday March 16, 2022

SUTTANTAPIṬAKE KHUDDAKANIKĀYE
TẠNG KINH - TIỂU BỘ

CARIYĀPIṬAKA PĀḶI
HẠNH TẠNG

Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda
(Trương đình Dũng)

SRI JAYAWARDHANARAMAYA
COLOMBO – 2006

--------------------

 

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!

--ooOoo--

III. NEKKHAMMAPĀRAMITĀ
III. SỰ TOÀN HẢO VỀ XUẤT LY:

1. Yudhañjayacariyaṃ
1. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Yudhañjaya: [1]

***

242. Yadā ahaṃ amitayaso rājaputto yudhañjayo
ussāvabinduṃ suriyātape patitaṃ disvāna saṃvijiṃ.

242. Khi ta là hoàng tử Yudhañjaya có danh tiếng vô lượng, ta đã động tâm sau khi nhìn thấy giọt sương mai bị tiêu tan dưới ánh nắng mặt trời. [2]

243. Taññevādhipatiṃ katvā saṃvegamanubrūhayiṃ
mātāpitu ca vanditvā pabbajjamanuyācahaṃ.

243. Sau khi trầm tư về chính điều ấy, ta đã làm cho nỗi động tâm tăng trưởng. Ta đã cúi lạy mẹ cha và xin phép xuất gia.

244. Yācanti maṃ pañjalikā sanegamā saraṭṭhakā
ajjeva putta paṭipajja iddhaṃ phītaṃ mahāmahiṃ.

244. Họ cùng với các thị dân và các cư dân của xứ sở, hai tay chắp lại, thỉnh cầu ta rằng: “Này con, ngay ngày hôm nay con hãy cai quản lãnh địa rộng lớn, tiến triển, và thịnh vượng.”

245. Sarājake sahorodhe sanegame saraṭṭhake
karuṇaṃ paridevante anapekkho hi pabbajiṃ.

245. Trong khi họ, có cả đức vua, có cả phi tần, có thị dân, có cư dân của xứ sở, đang khóc lóc thảm thương, bởi vì ta đã xuất gia, không lưu luyến.

246. Kevalaṃ paṭhaviṃ rajjaṃ ñāti parijanayasaṃ
cajamāno na cintesiṃ bodhiyāyeva kāraṇā.

246. Trong khi từ bỏ toàn bộ trái đất, vương quốc, quyến thuộc, người hầu, và danh vọng, ta đã không suy nghĩ (đến điều gì khác) với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.

247. Mātā pitā na me dessā napi dessaṃ mahāyasaṃ
sabbaññutaṃ piyaṃ mayhaṃ tasmā rajjaṃ pariccajinti.

247. Me cha không có bị ta ghét bỏ, danh vọng lớn lao cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.

Yudhañjayacariyaṃ paṭhamaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Yudhañjaya là phần thứ nhất.

--ooOoo--

 

2. Somanassacariyaṃ
2. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Somanassa: [3]

***

248. Punāparaṃ yadā homi indapatte puruttame
kāmito dayito putto somanassoti vissuto.

248. Vào một thời điểm khác nữa, khi ở tại kinh thành Indapatta, ta là người con trai được mong mỏi, được yêu quý, được nổi tiếng (với tên) là Somanassa.

249. Sīlavā guṇasampanno kalyāṇapaṭibhāṇavā
vuddhāpacāyī hirimā saṅgahesu ca kovido.

249. Ta là người có giới, được thành tựu đức hạnh, có lối ứng xử lịch thiệp, có sự tôn kính bậc trưởng thượng, có sự khiêm tốn, và rành rẽ về các cách tiếp độ.

250. Tassa rañño patikaro ahosi kuhakatāpaso
ārāmaṃ mālāvacchañca ropayitvāna jīvati.

250. Có gã đạo sĩ giả trá được đức vua ấy yêu mến. Ông ta trồng trọt rau quả hoa màu rồi sinh sống.

251. Tamahaṃ disvāna kuhakaṃ thusarāsiṃva ataṇḍulaṃ.
dumaṃ anto va susiraṃ kadaliṃ va asārakaṃ.

251. Nhận biết ông là giả trá ví như đống trấu không có hạt gạo, ví như thân cây có lỗ bọng lớn ở bên trong, ví như cây chuối không có lỏi cứng.

252. Natthi ’massa sataṃ dhammo sāmaññāpagato ayaṃ
hirisukkadhammajahito jīvitavuttikāraṇā.

252. Không có pháp của các bậc thiện trí ở người này. Vì lý do nuôi dưỡng mạng sống, người này đã xa rời Sa-môn hạnh, đã từ bỏ pháp trong sạch là sự khiêm tốn.

253. Kupito ahosi paccanto aṭavīhi parantihi
taṃ nisedhetuṃ gacchanto anusāsi pitā mamaṃ.

253. Vùng biên giới đã bị khuấy động bởi những kẻ lâm tặc thuộc các xứ lân bang. Khi ra đi để dẹp yên việc ấy, cha (ta) đã dạy bảo ta rằng:

254. Mā pamajji tuvaṃ tāta jaṭilaṃ uggatāpanaṃ
yadicchakaṃ pavattehi sabbakāmadado hi so.

254. “Này con yêu dấu, con chớ có lơ là với vị đạo sĩ tóc bện nghiêm trì khổ hạnh. Hãy thi hành điều (vị ấy) ước muốn bởi vì vị ấy là người ban bố (cho chúng ta) mọi điều lạc thú.”

255. Tamahaṃ gantvā’nupaṭṭhānaṃ idaṃ vacanamabraviṃ
kaccite gahapati kusalaṃ kiṃ vā te āharīyatu.

255. Ta đã đi đến phục vụ vị ấy và đã nói lời này: “Này gia chủ, ông có được an vui không?” hoặc “Vật gì cần được mang lại cho ông?”

256. Tena so kupito āsi kuhako mānanissito
ghātāpemi tuvaṃ ajja raṭṭhā pabbājayāmi vā.

256. Vì thế, kẻ giả trá, chất chứa ngã mạn ấy đã giận dữ (nói rằng): “Hôm nay, ta sẽ làm cho ngươi hoặc là bị giết chết, hoặc là bị trục xuất ra khỏi vương quốc.”

257. Nisedhayitvā paccantaṃ rājā kuhakamabravi
kacci te bhante khamanīyaṃ sammāno te pavattito
tassa ācikkhati pāpo kumāro yathā nāsiyo.

257. Sau khi bình định khu vực biên giới, đức vua đã nói với kẻ giả trá (ấy) rằng: “Thưa ngài, ngài có được thoải mái, có được sự tôn kính không?” Gã xấu xa đã nói với đức vua rằng: “Hoàng tử cần phải bị trừng trị như thế.”

258. Tassa taṃ vacanaṃ sutvā āṇāpesi mahīpati
sīsaṃ tattheva chinditvā katvāna catukhaṇḍikaṃ
rathiyā rathiyaṃ dassetha sā gatī jaṭilahīḷito.

258. Sau khi nghe được lời nói ấy của kẻ ấy, vị chúa tể của trái đất đã ra lệnh rằng: “Hãy chém đầu ngay tại chỗ, rồi phân (thây) thành bốn mảnh, và cho trưng bày ở khắp các ngã đường; đó là phần số dành cho kẻ miệt thị vị đạo sĩ tóc bện.”

259. Tattha kāraṇikā gantvā caṇḍā luddā akāruṇā
mātu aṅke nisinnassa ākaḍḍhitvā nayanti maṃ.

259. Tại nơi ấy, [4] những người hành quyết độc ác, hung dữ, bất nhân đã lôi kéo ta đang ngồi ở lòng mẹ rồi dẫn đi. [5]

260. Tesāhaṃ evamavacaṃ bandhataṃ gāḷhabandhanaṃ
rañño dassetha maṃ khippaṃ rājakiriyāni atthime.

260. Ta đã nói với họ như vầy: “Hãy cấp tốc đưa ta đã bị trói bằng gông xiềng chắc chắc đến trình diện đức vua, ta có các việc cần làm cho đức vua.”

261. Te maṃ rañño dassayiṃsu pāpassa pāpasevino
disvāna taṃ saññapesiṃ mamañca vasamānayiṃ.

261. Bọn họ đã đưa ta đến gặp vị vua ác xấu là người thân cận với kẻ ác xấu. Sau khi tiếp kiến, ta đã làm cho đức vua hiểu rõ và ta đã tạo được uy thế cho ta.

262. So maṃ tattha khamāpesi mahārajjamadāsi me
sohaṃ tamaṃ dāḷayitvā pabbajiṃ anagāriyaṃ.

262. Đức vua đã yêu cầu thứ lỗi về việc ấy và đã trao vương quốc rộng lớn lại cho ta. Ta đây, sau khi phá tan sự mê muội, đã xuất gia theo hạnh không nhà.

263. Na me dessaṃ mahārajjaṃ kāmabhogo na dessiyo
sabbaññutaṃ piyaṃ mayhaṃ tasmā rajjaṃ pariccajinti.

263. Vương quốc rộng lớn không có bị ta ghét bỏ, sự hưởng thụ các dục không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.

Somanassacariyaṃ dutiyaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Somanassa là phần thứ nhì.

--ooOoo--

 

3. Ayogharacariyaṃ
3. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Ayoghara: [6]

***

264. Punāparaṃ yadā homi kāsirājassa atrajo
ayogharamhi saṃvaḍḍho nāmenāsi ayogharo.

264. Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là người con trai của đức vua Kāsi, ta đã lớn lên trong căn nhà bằng sắt [7] và đã được gọi với tên là Ayoghara.

265. Dukkhena jīvito laddho sampīḷe patiposito
ajjeva putta paṭipajja kevalaṃ vasudhaṃ imaṃ.

265. (Vua cha đã phán rằng:) “Này con, mạng sống của con được tiếp nhận một cách khó khăn, được nuôi dưỡng ở nơi bực bội. Ngay chính ngày hôm nay, con hãy cai quản toàn thể trái đất này

266. Saraṭṭhakaṃ sanigamaṃ sajanaṃ vanditvā khattiyaṃ
añjalimpaggahetvāna idaṃ vacanamabruviṃ.

266. cùng với cư dân trong xứ sở, luôn cả phố chợ, và loài người nữa.” Sau khi đảnh lễ vị Sát-đế-lỵ, ta đã chắp tay lên và đã nói lời này:

267. Ye keci mahiyā sattā hīnamukkaṭṭhamajjhimā
nirārakkhā sake gehe vaḍḍhanti saha ñātihi.

267. “Bất cứ chúng sanh nào ở trên trái đất, dầu kém cỏi, cao quý, hoặc trung bình, lớn lên trong nhà của chính họ cùng với các thân quyến không cần sự bảo vệ.”

268. Idaṃ loke uttariyaṃ sampīḷe mama posanaṃ
ayogharamhi saṃvaḍḍho appabhe’candasūriye.

268. (Rồi ta đã suy nghĩ rằng:) “Sự nuôi dưỡng này của ta ở trong nơi bực bội là hy hữu ở trên thế gian. Ta đã được lớn lên trong căn nhà bằng sắt thiếu hẳn ánh sáng mặt trăng và mặt trời.

269. Pūtikuṇapasampuṇṇā muccitvā mātukucchito
tato ghoratare dukkhe puna pakkhitto ayoghare.

269. Có được tấm thân hối thối này sau khi rời khỏi bụng mẹ, từ đó ta lại bị ném vào căn nhà sắt khổ sở và kinh hãi hơn một lần nữa.

270. Yadihaṃ tādisaṃ patvā dukkhaṃ paramadāruṇaṃ
rajjesu yadi rañjāmi pāpānaṃ uttamo siyā.

270. Nếu sau khi đã đạt đến khổ đau vô cùng ghê rợn như thế ấy, nếu ta còn thích thú trong vương quyền thì ta là kẻ tồi tệ nhất trong số những kẻ ác xấu.”

271. Ukkaṇṭhitomhi kāyena rajjenamhi anatthiko
nibbutiṃ pariyesissaṃ yattha maccu na maddiye.

271. Ta nhàm chán xác thân, ta không mong muốn vương quyền, ta sẽ tầm cầu sự tịch diệt Niết-bàn là nơi tử thần không thể đày đọa.”

272. Evāhaṃ cintayitvāna viravantaṃ mahājanaṃ
nāgova bandhanaṃ chetvā pāvisiṃ kānanaṃ vanaṃ.

272. Trong lúc đó đám đông đang kêu gào, ta đã suy nghĩ như vậy và đã đi vào khu rừng rậm, giống như con voi đã giật đứt xiềng xích.

273. Mātā pitā na me dessā napi me dessaṃ mahāyasaṃ
nabbaññutaṃ piyaṃ mayhaṃ tasmā rajjaṃ pariccajinti.

273. Mẹ cha không có bị ta ghét bỏ, danh vọng lớn lao cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.

Ayogharacariyaṃ tatiyaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Ayoghara là phần thứ ba.

--ooOoo--

 

4. Bhisacariyaṃ
4. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Bhisa: [8]

***

274. Punāparaṃ yadā homi kāsīnaṃ puravaruttame
bhaginī bhātaro satta nibbattā sotthiye kule.

274. Vào một thời điểm khác nữa, khi ta ở tại kinh thành của xứ Kāsi, (ta có) một người em gái và bảy người em trai được sanh ra trong gia đình quý phái (dòng Bà-la-môn).

275. Etesaṃ pubbajo āsiṃ hirisukkamupāgato
bhavaṃ disvāna bhayato nekkhammābhirato ahaṃ.

275. Trong số những người này, ta đã được sanh ra trước tiên, đạt được pháp trong sạch là sự khiêm tốn. Sau khi nhận thấy sự hiện hữu là nguy hại, ta đã thỏa thích trong việc xuất gia.

276. Mātā pitūhi pahitā sahāyā ekamānasā
kāmehi maṃ nimantenti kulavaṃsaṃ dharehīti.

276. Các thân hữu, được mẹ và cha nhắn đến, đồng tâm mời mọc (ta) bằng các dục lạc: “Bạn hãy duy trì dòng dõi gia tộc.”

277. Yaṃ tesaṃ vacanaṃ vuttaṃ gihī dhamme sukhāvahaṃ
tamme ahosi kaṭhinaṃ tattaphālasamaṃ viya.

277. Lời nào của những người ấy được nói ra về việc đem lại lạc thú trong cuộc sống gia đình, điều ấy đối với ta được xem tương tợ như lưỡi cày đã được nung đỏ, thô thiển.

278. Te maṃ tadā ukkhipantaṃ pucchiṃsu patthitaṃ mama
Kiṃ tvaṃ patthayasī? Samma ! Yadi kāme na bhuñjasi.

278. Khi ấy, họ đã hỏi ta, kẻ từ khước (cuộc sống gia đình), về nguyện vọng của ta: “Này bạn, nếu bạn không hưởng thục các dục thì bạn mong muốn điều gì?”

279. Tesāhaṃ evamavacaṃ atthakāmo hitesinaṃ
nāhaṃ patthemi gihībhāvaṃ nekkhammābhirato ahaṃ.

279. Là người mong muốn điều tốt đẹp, ta đã nói với họ, những người đang tầm cầu lợi ích (cho ta) rằng: “Tôi không mong muốn trạng thái người tại gia, tôi thỏa thích trong sự xuất ly.”

280. Te mayhaṃ vacanaṃ sutvā pitu mātu ca sāvayuṃ
mātā pitā evamāhu sabbepi pabbajāma bho.

280. Sau khi lắng nghe lời nói của ta, họ đã thuật lại cho cha mẹ (ta). Mẹ cha ta đã nói như vầy: “Này quí vị, tất cả chúng tôi cũng xuất gia.”

281. Ubho mātā pitā mayhaṃ bhaginī ca satta bhātaro
amitaṃ dhanaṃ chaḍḍhayitvā pāvisimhā mahāvananti.

281. Cả hai mẹ cha của ta, người em gái, và bảy em trai đã buông bỏ của cải vô số rồi đi vào trong khu rừng lớn.

Bhisacariyaṃ catutthaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Bhisa là phần thứ tư.

--ooOoo--

 

5. Soṇapaṇḍitacariyaṃ
5. Hạnh của vị Hiền Trí Soṇa: [9]

***

282. Punāparaṃ yadā homi nagare brahmavaḍḍhane
tattha kulavare seṭṭhe mahāsāḷe ajāyahaṃ.

282. Vào một thời điểm khác nữa, khi ta sống ở thành phố Brahma-vaḍḍhana, tại nơi ấy ta đã được sinh ra trong gia đình cao quý, ưu tú, vô cùng giàu có.

283. Tadāpi lokaṃ disvāna andhabhūtaṃ tamotthataṃ
cittaṃ bhavato patikuṭati tuttavegahataṃ viya.

283. Khi ấy, ta cũng đã nhận thấy thế gian là bị mù quáng, bị bao phủ bởi bóng tối. Tâm (ta) chối từ sự hiện hữu như thể bị châm chích thô bạo bởi cây gậy nhọn.

284. Disvāna vividhaṃ pāpaṃ evaṃ cintesahaṃ tadā
kadāhaṃ gehā nikkhamma pavisissāmi kānanaṃ.

284. Sau khi nhận thấy sự xấu xa dưới nhiều hình thức khác nhau, ta đã suy nghĩ như vầy: “Lúc nào ta sẽ lìa bỏ gia đình, ta sẽ đi vào rừng?”

285. Tadāpi maṃ nimantiṃsu kāmabhogehi ñātayo
tesampi chandamācikkhiṃ mānimantetha tehi maṃ.

285. Cũng vào khi ấy, các thân quyến đã mời mọc ta với các sự thọ hưởng về dục lạc, ta cũng đã nói cho những người ấy về ước muốn (của ta) rằng: “Xin các vị chớ có mời mọc ta bằng những thứ ấy.”

286. Yo me kaṇiṭṭhako bhātā nandonāmāsi paṇḍito
sopi maṃ anusikkhanto pabbajjaṃ samarocayī.

286. Em trai của ta tên là Nanda là bậc trí tuệ. Vị ấy, trong khi học tập theo ta, cũng đã thích thú với việc xuất gia.

287. Ahaṃ soṇo ca nando ca ubho mātā pitā mama
tadāpi bhoge chaḍḍetvā pāvisimhā mahāvananti.

287. Khi ấy, ta Soṇa và Nanda cùng với cả hai cha mẹ của ta cũng đã buông bỏ của cải vô số rồi đi vào trong khu rừng lớn.

Soṇapaṇḍitacariyaṃ pañcamaṃ.
Hạnh của vị hiền triết Soṇa là phần thứ năm.

Nekkhammapāramitā niṭṭhitā.
Dứt sự toàn hảo về xuất ly.

--ooOoo--

 

IV. ADHIṬṬHĀNAPĀRAMITĀ
IV. SỰ TOÀN HẢO VỀ QUYẾT ĐỊNH:

6. Temiyapaṇḍitacariyaṃ
6. Hạnh của vị Hiền Trí Temiya: [10]

***

288. Punā paraṃ yadā homi kāsirājassa atrajo
mūgapakkhoti nāmena temiyoti vadanti maṃ.

288. Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là người con trai của đức vua Kāsi có tên là Mūgapakkha, nhưng mọi người gọi ta là Temiya. [11]

289. Soḷasitthisahassānaṃ na vijjati pumo tadā
ahorattānaṃ accayena nibbatto ahamekako.

289. Khi ấy, mười sáu ngàn phi tần (của đức vua) không có được một người con trai (luôn cả con gái). Sau nhiều ngày đêm, chỉ mỗi một mình ta đã được sanh ra.

290. Kicchā laddhaṃ piyaṃ puttaṃ abhijātaṃ jutindharaṃ
setacchattaṃ dhārayitvāna sayane poseti maṃ pitā.

290. (Vua) cha đã nuôi dưỡng ta, người con trai yêu quý, đạt được một cách khó nhọc, đã được sanh ra vẹn toàn, có thân tâm sáng lạng, ở trên chiếc giường đã được che chiếc lọng màu trắng.

291. Niddāyamāno sayanavare pabujjhitvānahaṃ tadā
addasaṃ paṇḍaraṃ chattaṃ yenāhaṃ nirayaṃ gato.

291. Khi ấy, trong lúc đang ngủ trên chiếc giường cao quý, ta đã thức giấc và nhìn thấy chiếc lọng nhạt màu, nghĩa là ta sẽ bị đi địa ngục.

292. Sahadiṭṭhassa me chattaṃ tāso uppajji bheravo
vinicchayaṃ samāpanno kadāhaṃ imaṃ muñcissaṃ.

292. Có nỗi sợ hãi ghê gớm đã khởi lên ở ta khi được nhìn thấy chiếc lọng. Ta đã đi đến quyết định: “Ta sẽ được thoát khỏi điều này [12] bằng cách nào?”[13]

293. Pubbasālohitā mayhaṃ devatā atthakāminī
sāmaṃ disvāna dukkhitaṃ tīsu ṭhānesu yojayī.

293. Có vị tiên nữ trước đây cùng huyết thống với ta [14] có lòng mong muốn điều tốt đẹp cho ta, sau khi nhìn thấy bản thân ta bị đau khổ, đã căn dặn về ba thái độ:

294. Māpaṇḍiccaṃ vibhāya bālamato bhava sabbapāṇinaṃ
sabbo jano ocināyatu evaṃ tava attho bhavissati.

294. “Chớ ra vẻ khôn ngoan, hãy là kẻ ngu si đối với tất cả chúng sanh, hãy làm cho mọi người khinh khi; như thế sẽ có sự tốt đẹp cho con.”

295. Evaṃ vuttāya’haṃ tassā idaṃ vacanamabraviṃ
karomi te naṃ vacanaṃ yaṃ tvaṃ bhaṇasi devate
atthakāmāsi me amma! Hitakāmāsi devate!

295. Khi được nói như vậy, ta đã nói với bà ấy lời này: “Bà tiên ơi, con sẽ thực hành theo lời mà bà đã chỉ bảo. Mẹ ơi, mẹ đã có lòng mong muốn điều tốt đẹp cho con. Bà tiên ơi, bà đã có mong muốn điều lợi ích cho con.”

296. Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā sāgareva thalaṃ labhiṃ
haṭṭho saṃviggamānaso tayo aṅge adhiṭṭhahiṃ.

296. Sau khi nghe được lời nói của bà ấy, ta đã thọ nhận như là đã đến được đất liền ở giữa biển khơi. Mừng rỡ, với tâm ý phấn chấn, ta đã quyết định ba điều:

297. Mūgo ahosiṃ badhiro pakkho gati vivajjito
ete aṅge adhiṭṭhāya vassānaṃ soḷasaṃ vasiṃ.

297. Ta đã là người câm, điếc, què quặt, việc đi lại đã được từ bỏ. Ta đã quyết định các điều này và đã sống mười sáu năm.

298. Tato me hatthapāde ca jivhaṃ sotañca maddiya
anūnataṃ me passitvā kālakaṇṇīti nindisuṃ.

298. Do đó, họ đã xoa bóp tay chân, lưỡi và mắt của ta. Sau khi nhận thấy không có sự khiếm khuyết ở ta, họ đã chê bai là “Kẻ bất hạnh.”

299. Tato jānapadā sabbe senāpati purohitā
sabbe ekamanā hutvā chaḍḍanaṃ anumodiṃsu.

299. Sau đó, tất cả dân chúng trong xứ sở, các tướng lãnh quân đội, các viên quan tế tự, tất cả đã nhất trí bằng lòng việc truất phế.

300. Sohaṃ tesaṃ matiṃ sutvā haṭṭho saṃviggamānaso
yassatthāya tapo ciṇṇo so me attho samijjhatha.

300. Sau khi nghe ý kiến của những người ấy, ta đây đã trở nên mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn. Sự khổ hạnh đã được thể hiện (bởi ta) vì mục đích nào thì mục đích ấy của ta đã được thành công.

301. Nahāpetvā anulimpitvā veṭhetvā rājaveṭhanaṃ
chattena abhisiñcitvā kāresuṃ purapadakkhiṇaṃ.

301. Sau khi đã tắm rửa, xức dầu, đội lên vương miện, làm lễ rưới nước (cho ta), rồi với chiếc lọng che họ đã tiến hành việc đi nhiễu vòng quanh thành phố.

302. Sattāhaṃ dhārayitvāna uggate ravimaṇḍale
rathena maṃ nīharitvā sārathī vanamupāgamī.

302. Sau khi đã duy trì chiếc lọng trong bảy ngày, đến lúc vầng sáng của mặt trời hiện ra, người đánh xe đã đưa ta ra khỏi (thành phố) bằng chiếc xe ngựa rồi đi về phía khu rừng.

303. Ekokāse rathaṃ katvā sajjassaṃ hatthamuñcito
sārathī khaṇatī kāsuṃ nikhātuṃ paṭhaviyā mamaṃ.

303. Sau khi dừng chiếc xe ở một khoảng trống, người đánh xe đã buộc ngựa để được rảnh tay rồi đã đào cái hố để chôn ta ở trong lòng đất.

304. Adhiṭṭhitamadhiṭṭhānaṃ tajjento vividhakāraṇā
nābhindiṃ vatamadhiṭṭhānaṃ bodhiyā yeva kāraṇā.

304. Trong khi nhiều nguyên nhân đủ các loại đang đe dọa điều quyết tâm đã được khẳng định, ta đã không làm đổ vỡ việc tuân thủ đã được quyết định với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.

305. Mātā pitā na me dessā attā me na ca dessiyo
sabbaññutaṃ piyaṃ mayhaṃ tasmā vatamadhiṭṭhahiṃ.

305. Mẹ cha không có bị ta ghét bỏ, bản thân cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã quyết định việc tuân thủ.

306. Ete aṅge adhiṭṭhāya vassāni soḷasiṃ vasiṃ.
adhiṭṭhānena samo natthi esā me adhiṭṭhānapāramīti.

306. Sau khi quyết định các điều này, ta đã sống trong mười sáu năm. Không có ai bằng (ta) về sự quyết định, điều này là sự toàn hảo về quyết định của ta.

Temiyacariyaṃ chaṭṭhamaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Temiya là phần thứ sáu.

Adhiṭṭhānapāramitā niṭṭhitā.
Dứt sự toàn hảo về quyết định.

--ooOoo--

 

V. SACCAPĀRAMITĀ
V. SỰ TOÀN HẢO VỀ CHÂN THẬT

7. Kapirājacariyaṃ
7. Hạnh của con Khỉ Chúa: [15]

***

307. Yadā ahaṃ kapi āsiṃ nadī kule darīsaye
pīḷito suṃsumārena gamanaṃ na labhāmihaṃ.

307. Vào lúc ta là con khỉ sống trong hang ở bờ sông, ta đã bị đe dọa bởi con cá sấu nên không đạt được việc ra đi.

308. Yamhokāse ahaṃ ṭhatvā orapāraṃ patāmahaṃ
tatthacchi sattu vadhako kumbhīlo luddadassano.

308. Tại địa điểm ta thường đứng ở bờ bên này rồi nhảy qua bờ bên kia, tại chỗ ấy có con cá sấu là kẻ thù, là kẻ sát thủ, có dáng vóc hung tợn.

309. Somaṃ asaṃsi ehīti ahamemīti taṃ vadiṃ
tassa matthakamakkamma parakule patiṭṭhahiṃ.

309. Con cá sấu đã thông báo với ta rằng: “Cứ việc đi đến.” Ta đã nói với nó rằng: “Tôi đang đi đến,” rồi đã bước lên đầu của nó và đã đứng vững bờ bên kia.

310. Na tassa alikaṃ bhaṇitaṃ yathā vācaṃ akāsahaṃ
saccena me samo natthi esā me sacca pāramīti.

310. Điều đã được nói với con cá sấu không phải là không đúng sự thật (vì) ta đã hành động đúng theo lời nói. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.

Kapirājacariyaṃ sattamaṃ.
Hạnh của con khỉ chúa là phần thứ bảy.

--ooOoo--

 

8. Saccatāpasacariyaṃ
8. Hạnh của Đạo Sĩ Sacca:

***

311. Punāparaṃ yadā homi tāpaso saccasavhayo
saccena lokaṃ pālesiṃ samaggaṃ janamakāsahanti.

311. Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là đạo sĩ khổ hạnh tên gọi Sacca. Ta đã hộ trì thế gian bằng sự chân thật; ta đã làm cho mọi người hợp nhất.

Saccapaṇḍitacariyaṃ aṭṭhamaṃ.
Hạnh của đạo sĩ Sacca là phần thứ tám.

--ooOoo--

 

9. Vaṭṭapotakacariyaṃ
9. Hạnh của Chim Cút Con: [16]

***

312. Punāparaṃ yadā homi magadhe vaṭṭapotako
ajātapakkho taruṇo maṃsapesi kulāvake.

312. Vào một thời điểm khác nữa, khi ở tại Magadha, ta là con chim cút con, cánh chưa được mọc, còn non nớt, (như) là miếng thịt ở trong tổ.

313. Mukhatuṇḍake nāharitvā mātā posayatī mamaṃ
tassā phassena jīvāmi natthi me kāyikaṃ balaṃ.

313. (Chim) mẹ tha (mồi) lại ở trong mỏ và nuôi dưỡng ta. Ta sống còn do sự tiếp xúc với chim mẹ; ta không có sức mạnh ở thân.

314. Saṃvacchare gimhasamaye davaḍāho padippati
upagacchati amhākaṃ pāvako kaṇhavattanī.

314. Trong năm vào mùa nóng, có nạn cháy rừng bộc phát. Ngọn lửa cuộn khói đen tiến về hướng chúng tôi.

315. Dhūmadhūmaṃ janitvevaṃ saddāyanto mahāsikhī
anupubbena jhāpento aggī mamamupāgami.

315. Ngọn lửa lớn lao trong lúc gào thét đã tạo ra luồng khói này cuộn khói nọ. Trong khi lần lượt làm phát cháy, ngọn lửa đã tiến đến gần ta.

316. Aggivegabhayā bhītā tasitā mātā pitā mama
kulāvake maṃ chaḍḍhetvā attānaṃ parimocayuṃ.

316. Lo sợ vì sự ồ ạt của ngọn lửa, mẹ cha của ta trở nên kinh hãi, hoảng hốt, đã bỏ rơi ta lại ở trong tổ và đã giải thoát cho bản thân.

317. Pāde pakkhe pajahāmi natthi me kāyikaṃ balaṃ
so’haṃ agatiko tattha evaṃ cintesahaṃ tadā.

317. Ta đã ra sức hai chân, hai cánh; ta không có sức mạnh ở thân. Ta đây không đi được. Khi ấy tại nơi ấy, ta đã suy nghĩ như vầy:

318. Yesāhaṃ upadhāveyyaṃ bhīto tasitavedhito
te maṃ ohāya pakkantā kathaṃ me ajja kātave.

318. “Bị kinh hãi, hoảng hốt, run sợ, ta có thể chạy đến gần cha mẹ, nhưng họ đã bỏ rơi ta và tẩu thoát. Ta nên hành động như thế nào ngày hôm nay?

319. Atthi loke sīlaguṇo saccaṃ soceyyanuddayā
tena saccena kāhāmi saccakiriyamuttamaṃ.

319. Đức hạnh của giới, sự chân thật, sự trong sạch, lòng bi mẫn hiện hữu ở trên đời; với sự chân thật ấy, ta có thể hiện hành động chân thật tối thắng.”

320. Āvajjetvā dhammabalaṃ saritvā pubbako jine
saccabalamavassāya saccakiriyamakāsahaṃ.

320. Ta đã hướng về sức mạnh của Giáo Pháp, tưởng nhớ đến các đấng Chiến Thắng [17] trước đây, và nương tựa vào sức mạnh của sự chân thật, ta đã thể hiện hành động chân thật rằng:

321. Santi pakkhā apatanā santi pādā avañcanā
mātā pitā ca nikkhantā jātaveda paṭikkama.

321. “Có cánh không thể bay, có chân không thể đi. Mẹ cha đã lìa khỏi, lửa ơi hãy lui đi.”

322. Saha sacce kataṃ mayhaṃ mahā pajjalito sikhī
vajjesi soḷasa karīsāni udakampatvā yathā sikhī
saccena me samo natthi esā me saccapāramīti.

322. Với sự chân thật đã được thực hiện bởi ta, ngọn lửa cháy rực to lớn đã lùi trở lại mười sáu karīsa, [18] giống như ngọn lửa đã gặp phải nước. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.

Vaṭṭapotaka cariyaṃ navamaṃ.
Hạnh của chim cút con là phần thứ chín.

--ooOoo--

10. Maccharājacariyaṃ
10. Hạnh của Vua Cá: [19]

***

323. Punāparaṃ yadā homi maccharājā mahāsare
uṇhe suriyasantāpe sare udakaṃ khīyatha.

323. Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vua của loài cá ở trong cái hồ rộng lớn. Và nước ở trong hồ bị khô cạn vào mùa nắng, dưới sự đốt cháy của ánh mặt trời.

324. Tato kākā ca gijjhā ca bakā kuḷalasenakā
bhakkhayantī divā rattiṃ macche upanisīdiya.

324. Do đó, các con quạ, các con diều hâu, các con cò, các con chim ưng và chim ó đã đáp xuống, ăn các con cá ban ngày lẫn ban đêm. [20]

325. Evaṃ cintesahaṃ tattha saha ñātīhi pīḷito
kena nukho upāyena ñāti dukkhā pamocaye.

325. Tại nơi ấy, cùng với các thân quyến ta đã bị áp bức, và ta đã suy nghĩ như vầy: “Vậy thì bằng cách nào để ta có thể giải thoát cho thân quyến khỏi khổ đau?”

326. Vicintayitvā dhammatthaṃ saccaṃ addasa passayaṃ
sacce ṭhatvā pamocesiṃ ñātīnaṃ taṃ atikkhayaṃ.

326. Sau khi xem xét ý nghĩa của các pháp, ta đã nhận ra sự chân thật là nơi nương tựa. Căn cứ vào sự chân thật, ta đã cởi bỏ thảm họa bị diệt chủng ấy cho các thân quyến.

327. Anussaritvā saddhammaṃ paramatthaṃ vicintayaṃ
akāsiṃ saccakiriyaṃ yaṃ loke dhuvasassataṃ.

327. Sau khi hồi tưởng về thiện pháp, ta đã suy nghiệm về chân lý tuyệt đối. Ta đã thể hiện hành động chân thật là pháp bền vững và thường còn ở thế gian rằng:

328. Yato sarāmi attānaṃ yato pattosmi viññutaṃ
nābhijānāmi sañcicca ekapāṇaṃ vihiṃsitaṃ
etena saccavajjena pajjunno abhivassatu.

328. “Kể từ lúc ta nhớ được về bản thân, kể từ khi ta đạt đến sự hiểu biết, ta không biết đến việc đã cố ý hãm hại dầu chỉ một sanh mạng. [21] Do lời nói chân thật này, xin Thần Mây [22] hãy đổ mưa xuống.

329. Abhitthanaya pajjunna nidhiṃ kākassa nāsaya
kākaṃ sokāya rundhehi macche sokā pamocaya.

329. Hỡi Thần Mây, hãy vang lên tiếng sấm, hãy làm tiêu tan kho lương dự trữ của loài quạ, [23] hãy vây hãm loài quạ bằng sự buồn rầu, hãy giải thoát loài cá khỏi nỗi phiền muộn.”

330. Sahakate saccavare pajjunto cābhigajjiya
thalaṃ ninnañca pūrento khaṇena abhivassatha.

330. Đồng lúc với sự chân thật cao quý được thể hiện, Thần Mây đã gầm lên tiếng sấm và trong giây lát đã đổ mưa xuống, làm tràn ngập vùng đất liền và trũng thấp.

331. Evarūpaṃ saccavaraṃ katvā viriyamuttamaṃ
vassāpesiṃ mahāmeghaṃ saccatejabalassito
saccena me samo natthi esā me saccapāramīti.

331. Sau khi thể hiện sự tinh tấn tột đỉnh là pháp chân thật cao quý có hình thức như thế, (có sự) tin cậy vào năng lực và uy quyền của sự chân thật, ta đã làm cho đám mây lớn đổ mưa xuống. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.

Maccharājacariyaṃ dasamaṃ.
Hạnh của vua cá là phần thứ mười.

--ooOoo--

 

11. Kaṇhadīpāyanacariyaṃ
11. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Kaṇhadīpāyana: [24]

***

332. Punāparaṃ yadā homi kaṇhadīpāyano isī
paro paññāsavassāni anabhirato cariṃ ahaṃ.

332. Vào một thời điểm khác nữa, khi là vị ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana, ta đã sống không được hoan hỷ hơn năm mươi năm.

333. Na koci etaṃ jānāti anabhiratimanaṃ mama
ahaṃ kassaci nācikkhiṃ arati me carati mānase.

333. Không ai biết tâm ý không hoan hỷ này của ta. Ta đã không nói ra với ai cả và sự không hoan hỷ diễn tiến ở trong tâm ý của ta.

334. Sabrahmacārī maṇḍabyo sahāyo me mahā isī
pubbakammasamāyutto sūlamāropaṇaṃ labhī.

334. Bà-la-môn Maṇḍabya, bạn của ta, là một vị đại ẩn sĩ đã bị thọ lãnh (hành phạt) cắm cọc nhọn do trả quả của nghiệp quá khứ. [25]

335. Tamahaṃ upaṭṭhahitvāna ārogyamanupāpayiṃ
āpucchitvāna āgañchiṃ yaṃ mayhaṃ sakamassamaṃ.

335. Ta đã chăm sóc và đã phục hồi sức khỏe cho vị ấy. Sau khi cáo từ, ta đã trở về lại chốn ẩn cư của mình.

336. Sahāyo brāhmaṇo mayhaṃ bhariyaṃ ādāya puttakaṃ
tayo janā samāgantvā āgañchuṃ pāhunāgataṃ.

336. Người bạn Bà-la-môn của ta đã đưa vợ và đứa con trai nhỏ đến. Ba người cùng đi và đã đi đến với tư thế của những người khách.

337. Sammodamāno tehi saha nisinno sakamassame
dārako vaṭṭamanukkhipaṃ āsivisamakopayī.

337. Trong lúc ta đang ngồi tại chốn ẩn cư của mình chuyện trò với những người ấy, đứa bé trai đã ném trái banh và làm cho làm con rắn có nọc độc giận dữ.

338. Tato so vaṭṭagataṃ maggaṃ anvesanto kumārako
āsivisassa hatthena uttamaṅgaṃ parāmasī.

338. Sau đó, trong lúc dõi theo lộ trình di chuyển của trái banh, đứa bé trai ấy đã chạm bàn tay vào đầu của con rắn độc.

339. Tassa āmasane kuddho sappo visabalassito
kupito paramakopena aḍaṃsi dārakaṃ khaṇe.

339. Do sự đụng chạm của đứa bé, con rắn đã trở nên giận dữ. Ỷ lại vào sức mạnh của nọc độc, bị bực bội với sự bực bội cùng tột, con rắn ngay lập tức đã cắn đứa bé.

340. Saha daṭṭho āsivisena dārako papati bhūmiyaṃ
tenāhaṃ dukkhito āsiṃ mama vāhasi taṃ dukkhaṃ.

340. Khi bị cắn bởi con rắn độc, đứa bé đã ngã xuống ở trên nền đất. Vì điều ấy, ta đã trở nên đau buồn; nỗi buồn đau ấy đã tác động đến ta.

341. Tyāhaṃ assāsayitvāna dukkhite sokasallite
paṭhamaṃ ākāsiṃ kiriyaṃ aggaṃ saccaṃ varuttamaṃ.

341. Sau khi an ủi họ (là những người) đang bị đau khổ, đang bị mũi tên sầu muộn, ta đã thể hiện hành động chân thật tột đỉnh cao quý tối thượng lần đầu tiên rằng:

342. Sattāhamevāhaṃ pasannacitto
puññatthiko acariṃ brahmacariyaṃ
athāparaṃ yañcaritaṃ mamayidaṃ
vassāni paññāsa samādhikāni.

342. “Là người mong mỏi phước thiện, ta đã thực hành Phạm hạnh với tâm tín thành chỉ được bảy ngày. Từ đó về sau, Phạm hạnh của ta là năm mươi năm và thêm nữa.

343. Akāmako vāhi ahaṃ carāmi etena saccena suvatthi hoti
hataṃ visaṃ jīvatu yaññadatto.

343. Ta thực hành (Phạm hạnh) không có nhiệt tình, chỉ qua ngày. Do lời nói chân thật này, hãy có được sự tốt lành, chất độc hãy được tiêu trừ, và Yaññadatta [26] hãy sống.”

344. Saha sacce kate mayhaṃ visavegena vedhito
abujjhitvāna vuṭṭhāsi ārogo cāsi māṇavo
saccena me samo natthi esā me saccapāramīti.

344. Với sự chân thật của ta đã được thể hiện, đứa bé Bà-la-môn bị run rẩy bởi sức mạnh của nọc độc đã được tỉnh lại, đã đứng lên, không tật bệnh. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.

Kaṇhadīpāyanacariyaṃ ekādasamaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Kaṇhadīpāyana là phần thứ mười một.

--ooOoo--

 

12. Sutasomacariyaṃ
12. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Sutasoma: [27]

***

345. Punāparaṃ yadā homi sutasomo mahīpatī
gahito porisādena brāhmaṇe saṅgaraṃ sariṃ.

345. Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là đức vua Sutasoma. Bị bắt giữ bởi Porisāda (kẻ ăn thịt người), ta đã nhớ lại lời hứa với vị Bà-la-môn.

346. Khattiyānaṃ ekasataṃ āvuṇitvā karatale
ete sampamilāpetvā yaññatthe upanayī mamaṃ.

346. Sau khi xỏ dây ở lòng bàn tay của một trăm vị Sát-đế-lỵ rồi (treo lên) phơi khô họ, kẻ ấy đã đưa ta đi nhằm mục đích tế thần.

347. Apucchi maṃ porisādo kintvaṃ icchasi nissajaṃ.
yathāmati te kāhāmi yadi me tvaṃ punehisi.

347. Kẻ ăn thịt người đã hỏi ta rằng: “Có phải ngài mong muốn việc cởi trói? Ta sẽ làm theo ý thích của ngài nếu ngài còn quay trở lại.”

348. Tassa paṭissuṇitvāna paṇhe āgamanaṃ mama
upāgantvā puraṃ rammaṃ rajjaṃ nīyādayiṃ tadā.

348. Vào lúc ấy, sau khi đã hứa hẹn đối với câu hỏi của kẻ (ăn thịt người) ấy về việc trở lại của ta, ta đã đi đến thành phố tráng lệ và đã chối từ vương quốc.

349. Anussaritvā saddhammaṃ pubbakaṃ jinasevitaṃ
brāhmaṇassa dhanaṃ datvā porisādaṃ upāgamiṃ.

349. Sau khi tưởng nhớ đến Chánh Pháp đã được thực hành bởi các đấng Chiến Thắng thời quá khứ, ta đã trao lại tài sản cho vị Bà-la-môn và đã đi đến gặp kẻ ăn thịt người.

350. Natthi me saṃsayo tattha ghātayissati vā na vā
saccavācānurakkhanto jīvitaṃ cajitumupāgamiṃ
saccena me samo natthi esā me sacca pāramīti.

350. Trong trường hợp ấy, không có sự phân vân ở ta về việc kẻ ấy sẽ giết hay không (giết). Trong khi bảo vệ lời nói chân thật, ta đã đi đến để buông bỏ mạng sống. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.

Sutasomacariyaṃ dvādasamaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Sutasoma là phần thứ mười hai.

Saccapāramitā niṭṭhitā.
Dứt sự toàn hảo về chân thật.

--ooOoo--

 

VI. METTĀ PĀRAMITĀ
VI. SỰ TOÀN HẢO VỀ TỪ ÁI:

13. Suvaṇṇasāmacariyaṃ
13. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Suvaṇṇasāma: [28]

***

351. Sāmo yadā vane āsiṃ sakkena abhinimmito
pavane sīhabyagghehiva mettāya-m-upanāmayiṃ.

351. Vào lúc ta là Sāma ở trong khu rừng đã được (Chúa Trời) Sakka hóa hiện ra. Ở trong khu rừng lớn, ta đã rải tâm từ ái đến các loài sư tử và cọp.

352. Sīhabyagghehi dīpīhi acchehi mahisehi ca
pasadamigavarāhehi parivāretvā vane vasiṃ.

352. Ta đã sống ở trong khu rừng, được quây quần xung quanh bởi các loài sư tử, cọp, beo, gấu, trâu rừng, nai đốm, và heo rừng.

353. Na maṃ koci uttasati, napihaṃ bhāyāmi kassaci,
mettābalenupatatthaddho ramāmi pavane tadāti.

353. Không loài thú nào e ngại ta, ta cũng không sợ hãi loài thú nào. Lúc bấy giờ, được duy trì nhờ vào năng lực từ ái, ta hứng thú ở trong khu rừng lớn.

Suvaṇṇasāmacariyaṃ terasamaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Suvaṇṇasāma là phần thứ mười ba.

--ooOoo--

 

14. Ekarājacariyaṃ
14. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Ekarāja: [29]

***

354. Punāparaṃ yadā homi ekarājāti vissuto
paramaṃ sīlaṃ adhiṭṭhāya pasāsāmi mahāmahiṃ.

354. Vào một thời điểm khác nữa, khi ta được nổi tiếng (với tên) là Ekarāja. Ta đã phát nguyện về giới hạnh tối cao và đã cai quản trái đất to lớn. [30]

355. Dasakusalakammapathe vattāmi anavasesato
catūhi saṅgahavatthūhi saṅgaṇhāmi mahājanaṃ.

355. Ta đã thực hành về thập thiện nghiệp đạo không thiếu sót. Ta đã thâu phục đám đông dân chúng bằng bốn phép tiếp độ.

356. Evaṃ me appamattassa idhaloke parattha ca
dabbaseno upāgantvā acchindanto puraṃ mamaṃ.

356. Trong lúc ta đang tinh tấn như thế vì lợi ích ở đời này và thế giới khác, Dabbasena [31] đã tiến đến chiếm cứ thành phố của ta.

357. Rājūpajīve nigame sabalaṭṭhe saraṭṭhake.
sabbaṃ hatthagataṃ katvā kāsuyaṃ nikhaṇī mamaṃ.

3357. Sau khi thực hiện việc thâu tóm tất cả gồm có nhân sự của đức vua, các thị dân, cùng với quân đội, vá các cư dân của xứ sở, (vị ấy) đã chôn ta ở trong cái hố.

58. Amaccamaṇḍalaṃ rajjaṃ phītaṃ antepuraṃ mama
acchinditvāna gahitaṃ piyaṃ puttaṃva passahaṃ
mettāya me samo natthi esā me mettāpāramīti.

358. (Vị ấy) đã chiếm đoạt quần thần, vương quốc thịnh vượng, và hậu cung của ta. Ta đã nhìn thấy chính đứa con trai yêu dấu đang bị bắt đi. Không có ai bằng (ta) về từ ái, điều này là sự toàn hảo về từ ái của ta.

Ekarājacariyaṃ cuddasamaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Ekarāja là phần thứ mười bốn.

Mettā pāramitā niṭṭhitā.
Dứt sự toàn hảo về từ ái.

--ooOoo--

 

VII. UPEKKHĀPĀRAMITĀ
VI. SỰ TOÀN HẢO VỀ HÀNH XẢ

15. Mahālomahaṃsacariyaṃ
15. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Mahālomahaṃsa: [32]

***

359. Susāne seyyaṃ kappemi chavaṭṭhikaṃ upanidhāya ’haṃ
gomaṇḍalā upāgantvā rūpaṃ dassenti nappakaṃ.

359. Ta nằm ở trong bãi tha ma tựa vào bộ xương người chết. Đám trẻ con nhà quê đã đi đến và đã phô diễn hình thức (khuấy rối) không phải là ít.

360. Apare gandhañca mālañca bhojanaṃ vividhaṃ bahuṃ
upāyanānyupanenti haṭṭhā saṃviggamānasā.

360. Các đứa khác mừng rỡ, với tâm trí phấn chấn, mang lại các quà tặng là hương thơm, vòng hoa, và vô số thực phẩm các loại.

361. Ye me dukkhaṃ upadahanti ye ca denti sukhaṃ mama
sabbesaṃ samako homi dayākopo na vijjati.

361. Ta đều bình đẳng đối với tất cả những ai gây ra khổ đau cho ta cũng như những ai đem lại cho ta an lạc; thương và giận đều không được biết đến.

362. Sukhadukkhatulā bhūto yasesu ayasesu ca
sabbattha samako homi esā me upekkhā pāramīti.

362. Là thăng bằng giữa an lạc và khổ đau, giữa các danh thơm và những tiếng xấu, ta đều bình đẳng trong mọi trường hợp; điều này là sự toàn hảo về hành xả của ta.

Mahālomahaṃsacariyaṃ paṇṇarasamaṃ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mahālomahaṃsa là phần thứ mười lăm.

Upekkhā pāramitā niṭṭhitā.
Dứt sự toàn hảo về hành xả.

--ooOoo--

 

UDDĀNA GĀTHĀ
BÀI KỆ TÓM TẮT

***

363. Yudhañjayo somanasso ayoghara bhisenaca
soṇanando mūgapakkho kapirājā saccasavhayo.

363. Chuyện Yudhañjaya, chuyện Somanassa, chuyện Ayoghara (ngôi nhà sắt), và chuyện Bhisa, chuyện Soṇa và Nanda, chuyện Mūgapakkha (Temiya), chuyện con khỉ chúa, và chuyện vị (đạo sĩ) tên Sacca.

364. Vaṭṭako maccharājā ca kaṇhadīpāyano isi
sutasomo puna āsiṃ sāmoca ekarājahu
upekkhā pāramī āsi iti vuttaṃ mahesinā.

364. Chuyện chim cút con, và chuyện vua cá, chuyện ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana, lại nữa ta đã là Sutasoma, Sāma, và Ekarājā, và đã có sự toàn hảo về hành xả; như thế đã được thuyết giảng bởi vị Đại Ẩn Sĩ.

365. Evaṃ bahuvidhiṃ dukkhaṃ sampatti ca bahuvidhā
bhavā bhave anubhavitvā patto sambodhimuttamaṃ.

365. Sau khi kinh nghiệm khổ đau dưới nhiều hình thức và thành công với nhiều thể loại ở lần tái sanh này đến lần tái sanh khác như thế, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.

366. Datvā dātabbakaṃ dānaṃ sīlaṃ pūretvā asesato
nekkhamme pāramiṃ gantvā patto sambodhimuttamaṃ.

366. Sau khi bố thí những gì cần được bố thí, sau khi làm viên mãn giới hạnh không thiếu sót, sau khi đạt đến sự toàn hảo về xuất ly, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.

367. Paṇḍite paripucchitvā viriyaṃ katvāna muttamaṃ.
khantiyā pāramiṃ gantvā patto sambodhi muttamaṃ.

367. Sau khi đã vấn hỏi các bậc hiền trí, sau khi đã thể hiện sự tinh tấn tối thượng, sau khi đã đạt đến sự toàn hảo về nhẫn nại, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.

368. Katvā daḷhamadhiṭṭhānaṃ saccavāvānurakkhiya
mettāya pāramiṃ gantvā patto sambodhimuttamaṃ.

368. Sau khi đã thực hành sự quyết định vững chắc, sau khi đã hộ trì lời nói chân thật, sau khi đã đạt đến sự toàn hảo về từ ái, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.

369. Lābhālābhe yasāyase sammānanāvamānane
sabbattha samako hutvā patto sambādhi muttamaṃ.

369. Ðối với lợi lộc và không lợi lộc, đối với danh thơm và tiếng xấu, đối với sự kính trọng và chê bai, sau khi đã là bình đẳng trong mọi trường hợp, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.

370. Kosajjaṃ bhayato disvā viriyārambhañca khemato
āraddhaviriyā hotha esā buddhānusāsanī.

370. Sau khi thấy được sự biếng nhác là nguy hiểm và việc khởi sự tinh tấn là an toàn, hãy nỗ lực tinh tấn; đây là lời giáo huấn của chư Phật.

371. Vivādaṃ bhayato disvā avivādañca khemato
samaggā sakhilā hotha esā buddhānusāsanī.

371. Sau khi thấy được sự tranh cãi là nguy hiểm và sự không tranh cãi là an toàn, hãy hợp nhất, thân thiện; đây là lời giáo huấn của chư Phật.

372. Sau khi thấy được sự dễ duôi là nguy hiểm và sự không dễ duôi là an toàn, hãy tu tập đạo lộ tám chi phần; đây là lời giáo huấn của chư Phật. [33]

Yudhañjayavaggo tatiyo.
Phẩm Yudhañjaya là thứ ba.

--ooOoo--

 

Itthaṃ sudaṃ bhagavā attano pubbacariyaṃ sambhāvayamāno
buddhāpadāniyaṃ nāma dhammapariyāyaṃ abhāsitthāti.

Ở đây, trong khi trình bày về phẩm hạnh quá khứ của bản thân, đức Thế Tôn đã thuyết giảng về bản thể của Giáo Pháp có tên là Buddhāpadāniyaṃ. [34]

Cariyāpiṭakapāḷi samattā.
Hạnh Tạng được đầy đủ.

--ooOoo--

 

[1] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 460.

[2] Do tác động của sự tưởng đến vô thường, CpA. 183.

[3] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 505

[4] tattha, được giải thích là: “với sự ra lệnh của đức vua ...,” CpA. 191.

[5] Lúc ấy, đức Bồ-tát được bảy tuổi, CpA. 189.

[6] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 510.

[7] Đức Bồ-tát đã được nuôi lớn lên trong ngôi nhà lớn hoàn toàn bằng sắt được xây dựng theo hình thức gian nhà hình tứ giác nhằm mục đích ngăn ngừa các tai họa do phi nhân. Hai người anh trai của đức Bồ-tát đã bị con nữ Dạ-xoa ăn thịt lúc mới sanh ra (CpA. 195-6).

[8] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 488.

[9] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 532.

[10] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 538.

[11] Vào ngày đức Bồ-tát được sanh ra, trời đã đổ cơn mưa xuống toàn thể vương quốc Kāsi, nên được gọi là Temiya (được ầm ướt), CpA. 216-7.

[12] Là thoát khỏi vương quốc xui xẻo này, CpA. 218.

[13] Dịch theo kathāhaṃ imaṃ muñcissaṃ thay vì kadāhaṃ ...? (Khi nào ta sẽ ...?)

[14] Vị này ngự ở trên chiếc lọng ấy và là người mẹ ruột trong một kiếp sống trước đây, CpA. 218.

[15] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 57.

[16] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 35.

[17] Jina (đấng Chiến Thắng) cũng là danh hiệu đề cập đến đức Phật.

[18] karīsa là đơn vị đo diện tích.

[19] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 75.

[20] Lúc này, hồ đã bị cạn nước, các con cá nằm trong các bãi bùn rải rác đó đây, CpA. 237.

[21] Dịch theo câu văn Pāḷi ở phần cước chú.

[22] Dịch theo Chú Giải ... pajjuno megho abhivassatu, CpA. 238.

[23] Kho lương dự trữ ám chỉ đến các con cá đang vướng trong bùn. Nếu trời đổ mưa làm đầy nước trong hồ thì kho lương dự trữ của loài quạ sẽ bị tiêu tan (CpA. 238-9).

[24] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 444.

[25] Trong thời quá khứ, tiền thân vị này đã dùng một mảnh gỗ mun đâm xuyên qua con ruồi, CpA. 243.

[26] Tên của đứa bé trai, CpA. 245.

[27] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 537.

[28] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 540.

[29] Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 303.

[30] Đã cai quản vùng đất rộng lớn ở vương quốc Kāsi ba trăm do-tuần, CpA. 264.

[31] Dabbasena là đức vua xứ Kosala, CpA. 264.

[32] Có thể liên quan đến Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 94.

[33] Câu kệ 372 không có ở Tạng Tích Lan, nhưng được thấy ở Tạng Thái, Miến Điện, Anh:

Pamādaṃ bhayato disvā, appamādañca khemato
bhāvethaṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ esā buddhānusāsanī.

[34] Buddhāpadāniyaṃ là đề tài được thuyết giảng, là đề tài được trình bày có liên quan đến công hạnh khó làm thuộc thời xa xưa nghĩa là việc làm quá khứ của chư Phật, CpA. 335.

-ooOoo-

Những tập kinh khác:

[00] Mục Lục và Giới Thiệu

[01] Hạnh Tạng I – Cariyāpiṭaka Pāḷi I

[02] Hạnh Tạng II – Cariyāpiṭaka Pāḷi II

Những bộ Kinh khác :