MN5: Anaṅgaṇasutta – Kinh Không Uế Nhiễm – Discourse on No Blemishes

Saturday May 6, 2023
Majjhima Nikāya 5 Trung Bộ Kinh The Middle Length Sayings
Anaṅgaṇasutta Kinh Không Uế Nhiễm Discourse on No Blemishes

Evaṃ me sutaṃ—​   ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anātha­piṇḍi­kassa ārāme. Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti. “Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā sāriputto etadavoca: 

 

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở tại đây, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo. “Chư Hiền Tỷ-kheo”.:” Thưa Hiền giả”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:

Thus have I heard: At one time the Lord was staying near Sāvatthī in the Jeta Grove in Anāthapiṇḍika's monastery. While he was there the venerable Sāriputta addressed the monks, saying: “Reverend monks.” “Your reverence,” these monks answered the venerable Sāriputta in assent. Then the venerable Sāriputta spoke thus:

“Cattārome, āvuso, puggalā santo saṃvijjamānā lokasmiṃ. Katame cattāro? Idhāvuso, ekacco puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti. Idha panāvuso, ekacco puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti. Idhāvuso, ekacco puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti. Idha panāvuso, ekacco puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti.

 

Này chư Hiền, ở đời có bốn hạng người. Thế nào là bốn? Chư Hiền, ở đây, có hạng người có cấu uế, nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Lại nữa chư Hiền, ở đây, có hạng người có cấu uế, và như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Lại nữa chư Hiền, ở đây có hạng người không có cấu uế, nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Lại nữa, chư Hiền, ở đây, có hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”.

 

 

Your reverences, these four kinds of persons are found existing in the world. What are the four? (1) Your reverences, there is here some person with a blemish who thinks: ‘I have a subjective blemish,’ but who does not comprehend it as it really is. (2) And there is the person with a blemish who, thinking: ‘I have a subjective blemish,’ comprehends it as it really is. (3) There is here the person without a blemish who thinks: ‘I have no subjective blemish,’ but who does not comprehend it as it really is. (4) And there is the person without a blemish who, thinking: ‘I have no subjective blemish,’ comprehends it as it really is.
Tatrāvuso, yvāyaṃ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti, ayaṃ imesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ sāṅgaṇānaṃyeva sataṃ hīnapuriso akkhāyati. Tatrāvuso, yvāyaṃ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ imesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ sāṅgaṇānaṃyeva sataṃ seṭṭhapuriso akkhāyati.

Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Trong hai hạng người có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt. Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Trong hai hạng người có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng.

 

Where, your reverences, there is this person with a subjective blemish who thinks, ‘I have a subjective blemish,’ but does not comprehend it as it really is, this one, of these two persons with a blemish, is shown to be the inferior man. Where, your reverences, there is a person with a subjective blemish who thinks, ‘I have a subjective blemish,’ and comprehends it as it really is, this one, of these two persons with a blemish, is shown to be the best man.

Tatrāvuso, yvāyaṃ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti, ayaṃ imesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ anaṅga­ṇā­naṃ­yeva sataṃ hīnapuriso akkhāyati. Tatrāvuso, yvāyaṃ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ imesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ anaṅga­ṇā­naṃ­yeva sataṃ seṭṭhapuriso akkhāyatī”ti.

 

Chư Hiền, ở đây, có hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Trong hai hạng người không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt. Chư Hiền, ở đây, hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Trong hai hạng người không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng.

 

Where, your reverences, there is a person without a subjective blemish who thinks, ‘I have no subjective blemish,’ but does not comprehend it as it really is, this one, of these two persons without a blemish, is shown to be the inferior man. Where, your reverences, there is a person without a subjective blemish who thinks, ‘I have no subjective blemish,’ and comprehends it as it really is, this one, of these two persons without a blemish, is shown to be the best man.

Evaṃ vutte, āyasmā mahāmoggallāno āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca: 

“Ko nu kho, āvuso sāriputta, hetu ko paccayo yenimesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ sāṅgaṇānaṃyeva sataṃ eko hīnapuriso akkhāyati, eko seṭṭhapuriso akkhāyati? Ko panāvuso sāriputta, hetu ko paccayo yenimesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ anaṅga­ṇā­naṃ­yeva sataṃ eko hīnapuriso akkhāyati, eko seṭṭhapuriso akkhāyatī”ti?

 

Ðược nói như vậy, Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên) nói với Tôn giả Sāriputta như sau:

—Tôn giả Sāriputta, do nhân gì, do duyên gì, trong hai hạng người có cấu uế này, một hạng người được gọi là hạ liệt, một hạng người được gọi là ưu thắng? Tôn giả Sāriputta, do nhân gì, do duyên gì trong hai hạng người không có cấu uế này, một hạng người được gọi là hạ liệt, một hạng người được gọi là ưu thắng?

When this had been said, the venerable Moggallāna the Great spoke thus to the venerable Sāriputta:

“Now, reverend Sāriputta, what is the cause, what the reason why, of these two persons with a blemish, one is shown as being the inferior man, while the other is shown as being the best man?”

 

Tatrāvuso, yvāyaṃ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ—na chandaṃ janessati na vāyamissati na vīriyaṃ ārabhissati tassaṅgaṇassa pahānāya; so sarāgo sadoso samoho sāṅgaṇo saṃ­kiliṭ­ṭha­citto kālaṃ karissati. Seyyathāpi, āvuso, kaṃsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā rajena ca malena ca pariyonaddhā. Tamenaṃ sāmikā na ceva paribhuñjeyyuṃ na ca pariyodapeyyuṃ, rajāpathe ca naṃ nikkhipeyyuṃ. Evañhi sā, āvuso, kaṃsapāti aparena samayena saṃ­kiliṭ­ṭha­tarā assa malaggahitā”ti?  Ở đây, Hiền giả, hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ không khởi lên ước muốn, sẽ không cố gắng, sẽ không tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn ô nhiễm”. Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, phủ đầy bụi bặm, và người chủ cái bát ấy không dùng đến, không lau chùi và quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian càng ô nhiễm hơn, càng đầy bụi bặm hơn. Where, your reverence, there is this person with a blemish who thinks: ‘I have a subjective blemish,’ but who does not comprehend it as it really is, this may be expected for him: that he will not generate desire, or strive, or stir up energy for getting rid of that blemish; he will pass away while he has attachment, aversion, and confusion, while he has the blemish, while his mind is tarnished. Your reverence, it is like a bronze bowl, brought back from a shop or smithy covered with dust and dirt and that the owners would not make use of or clean, but would throw away in the dust. In consequence, your reverence, would that bronze bowl become more tarnished with dirt after a time?

“Evamāvuso”ti. “Evameva kho, āvuso, yvāyaṃ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ—na chandaṃ janessati na vāyamissati na vīriyaṃ ārabhissati tassaṅgaṇassa pahānāya; so sarāgo sadoso samoho sāṅgaṇo saṃ­kiliṭ­ṭha­citto kālaṃ karissati.

 

Này Hiền giả, sự thật là vậy. Này Hiền giả, như vậy hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ không khởi lên ước muốn, sẽ không cố gắng, sẽ không tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn nhiễm”.

“Yes, your reverence.” “Even so, your reverence, for that person with a blemish who thinks: ‘I have a subjective blemish,’ but does not comprehend it as it really is, this is to be expected: that he will not generate desire, or strive, or stir up energy for getting rid of that blemish; he will pass away while he has attachment, aversion, confusion, while he has the blemish, while his mind is tarnished.

Tatrāvuso, yvāyaṃ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ—chandaṃ janessati vāyamissati vīriyaṃ ārabhissati tassaṅgaṇassa pahānāya; so arāgo adoso amoho anaṅgaṇo asaṅki­liṭṭha­citto kālaṃ karissati. Seyyathāpi, āvuso, kaṃsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā rajena ca malena ca pariyonaddhā. Tamenaṃ sāmikā pari­bhuñ­jey­yuñ­ceva pari­yo­da­peyyuñca, na ca naṃ rajāpathe nikkhipeyyuṃ. Evañhi sā, āvuso, kaṃsapāti aparena samayena parisuddhatarā assa pariyodātā”ti?

 

Ở đây, này Hiền giả, hạng người có cấu uế, và như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi không còn tham, không còn sân, không còn si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm”. Này Hiền giả, giống như cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, phủ đầy bụi bặm, và người chủ cái bát ấy dùng đến, lau chùi và không quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian được thanh tịnh hơn, được sạch sẽ hơn. Where, your reverence, there is this person with a blemish who thinks: ‘I have a subjective blemish,’ and comprehends it as it really is, this may be expected for him: that he will generate desire, and strive, and stir up energy for getting rid of that blemish; he will pass away without attachment, without aversion, without confusion, without the blemish, his mind untarnished. Your reverence, it is like a bronze bowl, brought back from a shop or smithy covered with dust and dirt, but which the owners would use and would clean, and would not throw away in the dust. In consequence, your reverence, would that bronze bowl become cleaner after a time with the cleaning?
“Evamāvuso”ti. “Evameva kho, āvuso, yvāyaṃ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ—chandaṃ janessati vāyamissati vīriyaṃ ārabhissati tassaṅgaṇassa pahānāya; so arāgo adoso amoho anaṅgaṇo asaṅki­liṭṭha­citto kālaṃ karissati.

Này Hiền giả, sự thật là vậy. Này Hiền giả, như vậy hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Với hạng người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ tinh tấn, để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi không còn tham, không còn sân, không còn si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm”.

“Yes, your reverence.” “Even so, your reverence, for that person with a blemish who thinks: ‘I have a subjective blemish,’ and who comprehends it as it really is, this is to be expected: that he will generate desire and strive, and stir up energy for getting rid of that blemish; he will pass away without attachment, without aversion, without confusion, without the blemish, his mind untarnished.

Tatrāvuso, yvāyaṃ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ—subhanimittaṃ manasi karissati, tassa subhani­mittassa manasikārā rāgo cittaṃ anuddhaṃ­ses­sati; so sarāgo sadoso samoho sāṅgaṇo saṅki­liṭṭha­citto kālaṃ karissati. Seyyathāpi, āvuso, kaṃsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā parisuddhā pariyodātā. Tamenaṃ sāmikā na ceva paribhuñjeyyuṃ na ca pariyodapeyyuṃ, rajāpathe ca naṃ nikkhipeyyuṃ. Evañhi sā, āvuso, kaṃsapāti aparena samayena saṅki­liṭṭha­tarā assa malaggahitā”ti? Ở đây, này Hiền giả, hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ tư niệm tịnh tướng. Do tư niệm tịnh tướng, tham sẽ làm ô nhiễm tâm của người này. Người này sẽ từ trần, trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn ô nhiễm”. Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, thanh tịnh và sạch sẽ. Và người chủ cái bát ấy không dùng đến, không lau chùi và quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian, càng ô nhiễm hơn, càng bụi bặm hơn. Where, your reverence, there is this person without a blemish who thinks, ‘I have no subjective blemish,’ but who does not comprehend it as it really is, this may be expected for him: that he will attend to the fair aspect (of things); because of attention to the fair aspect, attachment will deprave his mind; he will pass away while he has attachment, aversion and confusion, while he has a blemish, while his mind is tarnished. Your reverence, it is like a bronze bowl, brought back from a shop or smithy quite pure, quite clean, but which its owners would neither use nor clean, but would throw away in the dust. In consequence, your reverence, would that bronze bowl become more tarnished with dirt after a time?”

“Evamāvuso”ti. “Evameva kho, āvuso, yvāyaṃ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ— subhanimittaṃ manasi karissati, tassa subhani­mittassa manasikārā rāgo cittaṃ anuddhaṃ­ses­sati; so sarāgo sadoso samoho sāṅgaṇo saṅki­liṭṭha­citto kālaṃ karissati.

 

Này Hiền giả, sự thật là vậy. Này Hiền giả, như vậy hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này có thể chờ đợi sau: “Người này sẽ tư niệm tịnh tướng. Do tư niệm tịnh tướng, tham sẽ làm ô nhiễm tâm của người này. Người này sẽ từ trần trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn ô nhiễm”.

Yes, your reverence.” “Even so, your reverence, for that person without a blemish but who does not comprehend it as it really is, this may be expected for him; that he will attend to the fair aspect (of things); because of attention to the fair aspect, attachment will deprave his mind; he will pass away while he has attachment, aversion and confusion, while he has a blemish, while his mind is tarnished.

Tatrāvuso, yvāyaṃ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ—subhanimittaṃ na manasi karissati, tassa subhani­mittassa amanasikārā rāgo cittaṃ nānuddhaṃ­ses­sati; so arāgo adoso amoho anaṅgaṇo asaṅki­liṭṭha­citto kālaṃ karissati. Seyyathāpi, āvuso, kaṃsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā parisuddhā pariyodātā. Tamenaṃ sāmikā pari­bhuñ­jey­yuñ­ceva pari­yo­da­peyyuñca, na ca naṃ rajāpathe nikkhipeyyuṃ. Evañhi sā, āvuso, kaṃsapāti aparena samayena parisuddhatarā assa pariyodātā”ti? 

 

Ở đây, này Hiền giả, hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ không tư niệm tịnh tướng. Do không tư niệm tịnh tướng, tham sẽ không làm ô nhiễm tâm của người này. Người này sẽ từ trần, trong khi không có tham, không có sân, không có si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm”. Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, thanh tịnh và sạch sẽ và người chủ cái bát ấy dùng đến, lau chùi và không quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian, càng được thanh tịnh hơn, càng được sạch sẽ hơn. Where, your reverence, there is this person without a blemish who thinks, ‘I have no subjective blemish,’ and comprehends it as it really is, this may be expected for him: that he will not attend to the fair aspect (of things); because there is no attention to the fair aspect, attachment will not deprave his mind; he will pass away without attachment, without aversion, without confusion, without a blemish, his mind untarnished. Your reverence, it is like a bronze bowl, brought back from a shop or smithy quite pure, quite clean, but which the owners would use and would clean, and would not throw away in the dust. In consequence, your reverence, would that bronze bowl become cleaner after a time with the cleaning?”

 “Evamāvuso”ti. “Evameva kho, āvuso, yvāyaṃ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṃ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ—subhanimittaṃ na manasi karissati, tassa subhani­mittassa amanasikārā rāgo cittaṃ nānuddhaṃ­ses­sati; so arāgo adoso amoho anaṅgaṇo asaṅki­liṭṭha­citto kālaṃ karissati.

 

Này Hiền giả, sự thật là vậy. Này Hiền giả, như vậy hạng người không có cấu uế, và như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ không tư niệm tịnh tướng. Do không tư niệm tịnh tướng, tham sẽ không làm ô nhiễm tâm người này. Người này sẽ từ trần, không có tham, không có sân, không có si, không còn cấu uế, tâm không còn ô nhiễm”.

 

“Yes, your reverence.” “Even so, your reverence, for this person without a blemish who thinks, ‘I have no subjective blemish,’ and who comprehends it as it really is, this may be expected for him: that he will not attend to the fair aspect (of things); because there is no attention to the fair aspect, attachment will not deprave his mind; he will pass away without attachment, without aversion, without confusion, without blemish, his mind untarnished.

Ayaṃ kho, āvuso moggallāna, hetu ayaṃ paccayo yenimesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ sāṅgaṇānaṃyeva sataṃ eko hīnapuriso akkhāyati, eko seṭṭhapuriso akkhāyati. Ayaṃ panāvuso moggallāna, hetu ayaṃ paccayo yenimesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ anaṅga­ṇā­naṃ­yeva sataṃ eko hīnapuriso akkhāyati, eko seṭṭhapuriso akkhāyatī”ti. Này Hiền giả Moggallāna, do nhân này, do duyên này, trong hai người có cấu uế này, một người được gọi là hạ liệt, một người được gọi là ưu thắng. Này Hiền giả Moggallāna, do nhân này, do duyên này, trong hai người không có cấu uế này, một người được gọi là hạ liệt, một người được gọi là ưu thắng.

This, reverend Moggallāna, is the cause, this the reason why, of these two persons with a blemish, the one is shown to be the inferior man, while the other is shown to be the best man. This, reverend Moggallāna, is the cause, this the reason why, of these two persons without a blemish, the one is shown to be the inferior man, while the other is shown to be the best man.”

“Aṅgaṇaṃ aṅgaṇanti, āvuso, vuccati. Kissa nu kho etaṃ, āvuso, adhivacanaṃ yadidaṃ aṅgaṇan”ti? “Pāpakānaṃ kho etaṃ, āvuso, akusalānaṃ icchāvacarānaṃ adhivacanaṃ, yadidaṃ aṅgaṇan”ti. Này Hiền giả, cấu uế gọi là cấu uế, danh từ gì là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế? Này Hiền giả, các ác bất thiện pháp, cảnh giới của dục là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế. “‘Blemish, blemish,’ is it called, your reverence? Now, of what is this a synonym, your reverence, that is to say ‘blemish’?” 

Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘āpattiñca vata āpanno assaṃ, na ca maṃ bhikkhū jāneyyuṃ āpattiṃ āpanno’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ taṃ bhikkhuṃ bhikkhū jāneyyuṃ: ‘āpattiṃ āpanno’ti. ‘Jānanti maṃ bhikkhū āpattiṃ āpanno’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ.

 

 

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Nếu ta có phạm giới tội, mong rằng các Tỷ-kheo chớ có biết về ta rằng là đã phạm giới tội”. Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo có thể biết được các Tỷ-kheo ấy đã phạm giới tội. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Tỷ-kheo đã biết được ta đã phạm giới tội”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

 

 

Your reverence, this, that is to say ‘blemish’, is a synonym for being occupied with evil unskilled wishes. This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘Indeed, should I fall into an offence, the monks might not find out about me, that I have fallen into an offence.’ This situation occurs, your reverence, when monks may find out about that monk, that he has fallen into an offence. He, thinking that the monks have found out that he has fallen into an offence, becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.

Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘āpattiñca vata āpanno assaṃ, anuraho maṃ bhikkhū codeyyuṃ, no saṅghamajjhe’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ taṃ bhikkhuṃ bhikkhū saṅghamajjhe codeyyuṃ, no anuraho. ‘Saṅghamajjhe maṃ bhikkhū codenti, no anuraho’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ.

 

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Nếu ta có phạm giới tội, mong rằng các Tỷ-kheo hãy quở trách ta ở chỗ kín đáo, không phải ở giữa Tăng chúng”. Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo quở trách Tỷ-kheo ấy ở giữa Tăng chúng, không phải ở chỗ kín đáo. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Tỷ-kheo quở trách ta ở giữa Tăng chúng, không phải ở chỗ kín đáo”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ, và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế. This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘But if I have fallen into an offence, the monks might reprove me in private, not in the midst of an Order.’ This situation occurs, your reverence, when monks might reprove him in the midst of an Order, not in private. He, thinking: ‘The monks are reproving me in the midst of an Order, not in private, becomes angry and discontented.’ Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.

Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘āpattiñca vata āpanno assaṃ, sappaṭipuggalo maṃ codeyya, no appaṭipuggalo’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ taṃ bhikkhuṃ appaṭipuggalo codeyya, no sappaṭipuggalo. ‘Appaṭipuggalo maṃ codeti, no sappaṭipuggalo’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ.

 

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Nếu ta có phạm giới tội, mong rằng một Tỷ-kheo đồng đẳng hãy quở trách ta, chớ không phải một vị không đồng đẳng”. Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo không đồng đẳng quở trách Tỷ-kheo ấy, không phải một Tỷ-kheo đồng đẳng. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo không đồng đẳng quở trách ta, không phải một Tỷ-kheo đồng đẳng”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế. This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘Should I have fallen into an offence, an equal should reprove me, not one who is not an equal.’ This situation occurs, your reverence, when one who is not an equal might reprove that monk. He, thinking: ‘One who is not an equal is reproving me, not one who is an equal,’ becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.
Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata mameva satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseyya, na aññaṃ bhikkhuṃ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseyyā’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ aññaṃ bhikkhuṃ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseyya, na taṃ bhikkhuṃ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseyya. ‘Aññaṃ bhikkhuṃ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseti, na maṃ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṃ dhammaṃ desetī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ. Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng bậc Ðạo Sư hãy hỏi ta nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo! Mong rằng bậc Ðạo Sư không hỏi Tỷ-kheo khác nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo!”. Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: bậc Ðạo Sư hỏi một Tỷ-kheo khác nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư không hỏi Tỷ-kheo ấy nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Bậc Ðạo Sư hỏi một Tỷ-kheo khác nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo. Bậc Ðạo Sư không hỏi ta nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế. This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may the Teacher teach dhamma to the monks, having interrogated me only time and again.’ This situation occurs, your reverence, when the Teacher may teach dhamma to the monks having interrogated some other monk time and again, and when the Teacher may teach dhamma to the monks not having interrogated that monk time and again. He, thinking: ‘The Teacher teaches dhamma to the monks having interrogated another monk time and again; the Teacher teaches dhamma to the monks not having interrogated me time and again,’ becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.
Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata mameva bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṃ bhattāya paviseyyuṃ, na aññaṃ bhikkhuṃ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṃ bhattāya paviseyyun’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ aññaṃ bhikkhuṃ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṃ bhattāya paviseyyuṃ, na taṃ bhikkhuṃ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṃ bhattāya paviseyyuṃ. ‘Aññaṃ bhikkhuṃ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṃ bhattāya pavisanti, na maṃ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṃ bhattāya pavisantī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ. Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng các Tỷ-kheo hãy để ta đi trước trong khi vào làng để dùng cơm! Mong rằng các Tỷ-kheo không để một Tỷ-kheo khác đi trước trong khi vào làng để dùng cơm!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo để một Tỷ-kheo khác đi trước trong khi vào làng để dùng cơm, các Tỷ-kheo không để Tỷ-kheo ấy đi trước trong khi vào làng để dùng cơm. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Tỷ-kheo để một Tỷ-kheo khác đi trước trong khi vào làng để dùng cơm, các Tỷ-kheo không để ta đi trước trong khi vào làng để dùng cơm”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế. This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may the monks enter the village for rice having put me in front; may the monks not enter the village for rice having put another monk in front.’ This situation occurs, your reverence, when the monks may enter the village for rice having put another monk in front, they may enter a village for rice not having put that monk in front. He, thinking: ‘The monks are entering the village for rice having put another monk in front, they are entering the village for rice not having put me in front,’ becomes angry and discontented.’ Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.

Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva labheyyaṃ bhattagge aggāsanaṃ aggodakaṃ aggapiṇḍaṃ, na añño bhikkhu labheyya bhattagge aggāsanaṃ aggodakaṃ aggapiṇḍan’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ añño bhikkhu labheyya bhattagge aggāsanaṃ aggodakaṃ aggapiṇḍaṃ, na so bhikkhu labheyya bhattagge aggāsanaṃ aggodakaṃ aggapiṇḍaṃ. ‘Añño bhikkhu labhati bhattagge aggāsanaṃ aggodakaṃ aggapiṇḍaṃ, nāhaṃ labhāmi bhattagge aggāsanaṃ aggodakaṃ aggapiṇḍan’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ.

 

 

Này Hiền giả, sự tình xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng tại chỗ ăn, ta được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất! Mong rằng Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất; còn Tỷ-kheo ấy tại chỗ ăn không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất. Tại chỗ ăn, ta không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may I, when I have eaten in a refectory, give the thanks, may no other monk, when he has eaten in a refectory, give the thanks.’ This situation occurs, your reverence, when another monk, when he has eaten in the refectory, may give the thanks, when that monk, when he has eaten in the refectory, may not give the thanks. He, thinking: ‘Another monk, when he has eaten in the refectory, is giving the thanks; I, when I have eaten in the refectory, am not giving the thanks,’ becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.

 

 

Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva bhattagge bhuttāvī anumodeyyaṃ, na añño bhikkhu bhattagge bhuttāvī anumodeyyā’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ añño bhikkhu bhattagge bhuttāvī anumodeyya, na so bhikkhu bhattagge bhuttāvī anumodeyya. ‘Añño bhikkhu bhattagge bhuttāvī anumodati, nāhaṃ bhattagge bhuttāvī anumodāmī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ.

 

 

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng tại chỗ ăn sau khi ăn xong, ta sẽ thuyết tùy hỷ pháp, không phải Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, sẽ thuyết tùy hỷ pháp!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, thuyết tùy hỷ pháp; Tỷ-kheo ấy tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, không thuyết tùy hỷ pháp. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, thuyết tùy hỷ pháp. Ta tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, không thuyết tùy hỷ pháp”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế. This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may I teach dhamma to the monks who are in a monastery, may no other monk teach dhamma to the monks who are in the monastery.’ This situation occurs, your reverence, when another monk may teach dhamma to the monks who are in a monastery, when that monk may not teach dhamma to the monks who are in a monastery. He, thinking, ‘Another monk is teaching dhamma to the monks who are in a monastery, I am not teaching dhamma to the monks who are in the monastery,’ becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.
Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseyyaṃ, na añño bhikkhu ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseyyā’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ añño bhikkhu ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseyya, na so bhikkhu ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseyya. ‘Añño bhikkhu ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseti, nāhaṃ ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ desemī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ. Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng, ta sẽ thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá, chớ không phải một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá; còn Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá, còn ta không thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế. This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may I teach dhamma to the monks who are in a monastery, may no other monk teach dhamma to the monks who are in the monastery.’ This situation occurs, your reverence, when another monk may teach dhamma to the monks who are in a monastery, when that monk may not teach dhamma to the monks who are in a monastery. He, thinking, ‘Another monk is teaching dhamma to the monks who are in a monastery, I am not teaching dhamma to the monks who are in the monastery,’ becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.

Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva ārāmagatānaṃ bhikkhunīnaṃ dhammaṃ deseyyaṃ … pe … upāsakānaṃ dhammaṃ deseyyaṃ … pe … upāsikānaṃ dhammaṃ deseyyaṃ, na añño bhikkhu ārāmagatānaṃ upāsikānaṃ dhammaṃ deseyyā’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ añño bhikkhu ārāmagatānaṃ upāsikānaṃ dhammaṃ deseyya, na so bhikkhu ārāmagatānaṃ upāsikānaṃ dhammaṃ deseyya. ‘Añño bhikkhu ārāmagatānaṃ upāsikānaṃ dhammaṃ deseti, nāhaṃ ārāmagatānaṃ upāsikānaṃ dhammaṃ desemī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ.

 

 

 

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng, ta sẽ thuyết pháp cho các Tỷ-kheo-ni tụ tập tại ngôi tịnh xá, … (như trên) … ta sẽ thuyết pháp cho các Nam cư sĩ … ta sẽ thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá, chớ không phải một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá; còn Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá; còn ta không thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

 

 

This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may I teach dhamma to the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers who are in a monastery may no other monk teach dhamma to the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers who are in the monastery.’ This situation occurs, your reverence, when another monk may teach dhamma to the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers who are in a monastery, when that monk may not teach dhamma to the nuns who are in a monastery. He, thinking, ‘Another monk is teaching dhamma to the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers who are in a monastery, I am not teaching dhamma to the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers who are in the monastery,’ becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.
Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata mameva bhikkhū sakkareyyuṃ garuṃ kareyyuṃ māneyyuṃ pūjeyyuṃ, na aññaṃ bhikkhuṃ bhikkhū sakkareyyuṃ garuṃ kareyyuṃ māneyyuṃ pūjeyyun’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ aññaṃ bhikkhuṃ bhikkhū sakkareyyuṃ garuṃ kareyyuṃ māneyyuṃ pūjeyyuṃ, na taṃ bhikkhuṃ bhikkhū sakkareyyuṃ garuṃ kareyyuṃ māneyyuṃ pūjeyyuṃ. ‘Aññaṃ bhikkhuṃ bhikkhū sakkaronti garuṃ karonti mānenti pūjenti, na maṃ bhikkhū sakkaronti garuṃ karonti mānenti pūjentī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ.

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta; các vị Tỷ-kheo chớ có cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường một Tỷ-kheo khác!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng lễ bái, cũng dường một Tỷ-kheo khác, các Tỷ-kheo không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường một Tỷ-kheo khác chớ không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

 

This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may the monks revere, esteem, venerate, honour me, may the monks revere, esteem, venerate, honour no other monk.’ This situation occurs, your reverence, when the monks revere, esteem, venerate, honour some other monk, when the monks do not revere, esteem, venerate, honour that monk. He, thinking: ‘The monks revere, esteem, venerate, honour some other monk, the monks do not revere, esteem, venerate, honour me, becomes angry and discontented.’ Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.

 

Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata mameva bhikkhuniyo … pe … upāsakā … pe … upāsikā sakkareyyuṃ garuṃ kareyyuṃ māneyyuṃ pūjeyyuṃ, na aññaṃ bhikkhuṃ upāsikā sakkareyyuṃ garuṃ kareyyuṃ māneyyuṃ pūjeyyun’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ aññaṃ bhikkhuṃ upāsikā sakkareyyuṃ garuṃ kareyyuṃ māneyyuṃ pūjeyyuṃ, na taṃ bhikkhuṃ upāsikā sakkareyyuṃ garuṃ kareyyuṃ māneyyuṃ pūjeyyuṃ. ‘Aññaṃ bhikkhuṃ upāsikā sakkaronti garuṃ karonti mānenti pūjenti, na maṃ upāsikā sakkaronti garuṃ karonti mānenti pūjentī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ.

 

 

Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng các Tỷ-kheo-ni … (như trên) … các Nam cư sĩ … (như trên) … các Nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta. Các Nữ cư sĩ không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường một Tỷ-kheo khác!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường một Tỷ-kheo khác, các Nữ cư sĩ không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường một Tỷ-kheo khác; các Nữ cư sĩ không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

 

 

This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers revere, esteem, venerate, honour me, may the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers revere, esteem, venerate, honour no other monk.’ This situation occurs, your reverence, when the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers revere, esteem, venerate, honour some other monk, when the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers do not revere, esteem, venerate, honour that monk. He, thinking: ‘The nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers revere, esteem, venerate, honour some other monk, the nuns/ the layfollowers/ the women layfollowers do not revere, esteem, venerate, honour me,’ becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.
Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva lābhī assaṃ paṇītānaṃ cīvarānaṃ, na añño bhikkhu lābhī assa paṇītānaṃ cīvarānan’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ añño bhikkhu lābhī assa paṇītānaṃ cīvarānaṃ, na so bhikkhu lābhī assa paṇītānaṃ cīvarānaṃ. ‘Añño bhikkhu lābhī paṇītānaṃ cīvarānaṃ, nāhaṃ lābhī paṇītānaṃ cīvarānan’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ. Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng ta nhận được các y phục tối thắng, Tỷ-kheo khác không nhận được các y phục tối thắng!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác nhận được các y phục tối thắng, Tỷ-kheo ấy không nhận được các y phục tối thắng. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác nhận được các y phục tối thắng; ta không nhận được các y phục tối thắng”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế. This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may I receive fine robe-material, may no other monk receive fine robe-material.’ This situation occurs, your reverence, when another monk may receive fine robe-material, when that monk does not receive fine robe-material. He, thinking: ‘Another monk is receiving fine robe-material, I am not receiving fine robe-material,’ becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.
Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ idhekaccassa bhikkhuno evaṃ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva lābhī assaṃ paṇītānaṃ piṇḍapātānaṃ … pe … paṇītānaṃ senāsanānaṃ … pe … paṇītānaṃ gilā­nappac­caya­bhesaj­ja­parik­khā­rā­naṃ, na añño bhikkhu lābhī assa paṇītānaṃ gilā­nappac­caya­bhesaj­ja­parik­khā­rā­nan’ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati yaṃ añño bhikkhu lābhī assa paṇītānaṃ gilā­nappac­caya­bhesaj­ja­parik­khā­rā­naṃ, na so bhikkhu lābhī assa paṇītānaṃ gilā­nappac­caya­bhesaj­ja­parik­khā­rā­naṃ. ‘Añño bhikkhu lābhī paṇītānaṃ gilā­nappac­caya­bhesaj­ja­parik­khā­rā­naṃ, nāhaṃ lābhī paṇītānaṃ gilā­nappac­caya­bhesaj­ja­parik­khā­rā­nan’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ.

Này Hiền giả sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng ta nhận được các đồ ăn khất thực tối thắng … (như trên) … các sàng tọa tối thắng, các dược phẩm trị bịnh tối thắng. Tỷ-kheo khác không nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng, còn Tỷ-kheo ấy không nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng”. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng; còn ta không nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.

 

This situation occurs, your reverence, when a wish such as this may arise in some monk here: ‘O may I receive fine almsfood/ lodgings/ requisites of medicines for the sick, may no other monk receive fine almsfood/ lodgings/ requisites of medicines for the sick.’ This situation occurs, your reverence, when another monk may receive fine almsfood/ lodgings/ requisites of medicines for the sick, when that monk does not receive fine almsfood/ lodgings/ requisites of medicines for the sick. He, thinking: ‘Another monk is receiving fine almsfood/ lodgings/ requisites of medicines for the sick, I am not receiving fine almsfood/ lodgings/ requisites of medicines for the sick,’ becomes angry and discontented. Whatever is anger, your reverence, whatever is discontent, both are a blemish.
Imesaṃ kho etaṃ, āvuso, pāpakānaṃ akusalānaṃ icchāvacarānaṃ adhivacanaṃ, yadidaṃ aṅgaṇanti. Này Hiền giả, các ác bất thiện pháp, cảnh giới của dục này là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế. This, your reverence, that is to say ‘blemish’, is a synonym for being occupied with evil unskilled wishes. 

Yassa kassaci, āvuso, bhikkhuno ime pāpakā akusalā icchāvacarā appahīnā dissanti ceva sūyanti ca, kiñcāpi so hoti āraññiko pantasenāsano piṇḍapātiko sapadānacārī paṃsukūliko lūkha­cīvara­dharo, atha kho naṃ sabrahmacārī na ceva sakkaronti na garuṃ karonti na mānenti na pūjenti. Taṃ kissa hetu? Te hi tassa āyasmato pāpakā akusalā icchāvacarā appahīnā dissanti ceva sūyanti ca.

 

Này Hiền giả, đối với Tỷ-kheo nào, các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này còn được thấy và nghe là chưa được diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy là vị sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng, sống hạnh khất thực, thứ lớp khất thực từng nhà một, theo hạnh mang phấn tảo y, mặc y phục thô xấu, thời các đồng phạm hạnh không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này còn được thấy và còn được nghe các ác, bất thiện pháp, cảnh giới dục của Tỷ-kheo chưa được diệt trừ. In whatever monk, your reverence, it is seen and also heard that these occupations with evil unskilled wishes are not destroyed, even though he be a forest-dweller whose lodgings are remote, one who walks for almsfood on continuous almsround, a rag-robe wearer who wears robes that are worn thin, then his fellow Brahma-farers do not revere, esteem, venerate, honour him. What is the cause of this? It is that these see and also hear of this reverend one that his occupations with evil unskilled wishes are not destroyed. 
Seyyathāpi, āvuso, kaṃsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā parisuddhā pariyodātā. Tamenaṃ sāmikā ahikuṇapaṃ vā kukkurakuṇapaṃ vā manussakuṇapaṃ vā racayitvā aññissā kaṃsapātiyā paṭikujjitvā antarāpaṇaṃ paṭipajjeyyuṃ. Tamenaṃ jano disvā evaṃ vadeyya: ‘ambho, kimevidaṃ harīyati jaññajaññaṃ viyā’ti? Tamenaṃ uṭṭhahitvā apāpuritvā olokeyya. Tassa sahadassanena amanāpatā ca saṇṭhaheyya, pāṭikulyatā ca saṇṭhaheyya, jegucchatā ca saṇṭhaheyya; ­jighac­chi­tā­nampi na bhottukamyatā assa, pageva suhitānaṃ. 

Này Hiền giả, ví như một bát bằng đồng, mang từ chợ về hay từ nhà người thợ rèn về, bát ấy thanh tịnh, sạch sẽ. Nhưng người chủ của bát ấy đựng đầy bát với xác rắn, xác chó hay xác người, đậy lại với một cái bát đồng khác rồi mang về hàng chợ lại. Có người thấy vậy bèn hỏi: “Bạn mang cái gì có vẻ đẹp đẽ ngon lành vậy?” Khi cầm cái bát lên, mở ra và nhìn vào, thì với người ấy, không ưa thích khởi lên, sự ghê tởm khởi lên, và sự yếm ố khởi lên. Những người đói còn chưa muốn ăn các thứ ấy, huống nữa là những người đã no.

 

Your reverence, it is like a bronze bowl brought back from a shop or smithy quite pure, quite clean; its owners, having filled it with a dead snake or a dead dog or a dead human being, and having enclosed it in another bronze bowl, might take it back inside the shop. People, on seeing it, would say: ‘Just look, what is this that has been brought back like a very lovely thing?’ Having lifted it up and opened it, they would look at it; at the sight of it, repugnance would set in and loathing would set in and disgust would set in; those who had been hungry would have no desire for food, far less those who had eaten already. 

Evameva kho, āvuso, yassa kassaci bhikkhuno ime pāpakā akusalā icchāvacarā appahīnā dissanti ceva sūyanti ca, kiñcāpi so hoti āraññiko pantasenāsano piṇḍapātiko sapadānacārī paṃsukūliko lūkha­cīvara­dharo, atha kho naṃ sabrahmacārī na ceva sakkaronti na garuṃ karonti na mānenti na pūjenti. Taṃ kissa hetu? Te hi tassa āyasmato pāpakā akusalā icchāvacarā appahīnā dissanti ceva sūyanti ca.

 

Này Hiền giả, đối với Tỷ-kheo nào, các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này còn được thấy và được nghe là chưa được diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy là vị sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng, sống hạnh khất thực, thứ lớp khất thực từng nhà một, theo hạnh mang phấn tảo y, mặc y phục thô xấu, thời các đồng phạm hạnh không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này còn được thấy và còn được nghe các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này là chưa được diệt trừ. Even so, your reverence, of whatever monk it is seen and heard that these occupations with evil unskilled wishes are not destroyed, even though he be a forest-dweller whose lodgings are remote, one who walks for almsfood on continuous almsround, a rag-robe wearer who wears robes that are worn thin, then his fellow Brahma-farers do not revere, esteem, venerate, honour him. What is the cause of this? This reverend one's occupations with evil unskilled, wishes are seen as well as heard to be not destroyed.

Yassa kassaci, āvuso, bhikkhuno ime pāpakā akusalā icchāvacarā pahīnā dissanti ceva sūyanti ca, kiñcāpi so hoti gāmantavihārī nemantaniko gahapa­ti­cīva­ra­dharo, atha kho naṃ sabrahmacārī sakkaronti garuṃ karonti mānenti pūjenti. Taṃ kissa hetu? Te hi tassa āyasmato pāpakā akusalā icchāvacarā pahīnā dissanti ceva sūyanti ca.

 

Này Hiền giả, đối với Tỷ-kheo nào mà các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này được thấy và được nghe là đã diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy sống gần làng mạc, chấp nhận biệt thỉnh thực, mang y người gia chủ cúng, thời các đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường vị Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này được thấy và được nghe các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục của vị Tỷ-kheo ấy đã được diệt trừ. In whatever monk, your reverence, these occupations with evil unskilled wishes are seen and are heard to be destroyed, even though he were staying near a village, were one who is invited, were one who wears householder's robe-material, then his fellow Brahma-farers would revere, esteem, venerate, honour him. What is the cause of this? It is that these see and also hear of that reverend one that his occupations with evil unskilled wishes are destroyed. 

Seyyathāpi, āvuso, kaṃsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā parisuddhā pariyodātā. Tamenaṃ sāmikā sālīnaṃ odanaṃ vicitakāḷakaṃ anekasūpaṃ anekabyañjanaṃ racayitvā aññissā kaṃsapātiyā paṭikujjitvā antarāpaṇaṃ paṭipajjeyyuṃ. Tamenaṃ jano disvā evaṃ vadeyya: ‘ambho, kimevidaṃ harīyati jaññajaññaṃ viyā’ti? Tamenaṃ uṭṭhahitvā apāpuritvā olokeyya. Tassa saha dassanena manāpatā ca saṇṭhaheyya, appāṭikulyatā ca saṇṭhaheyya, ajegucchatā ca saṇṭhaheyya; suhitānampi bhottukamyatā assa, pageva jighacchitānaṃ.

 

Này Hiền giả, ví như một bát đồng, mang từ hàng chợ về hay từ nhà người thợ rèn về, bát ấy thanh tịnh, sạch sẽ. Người chủ cái bát ấy dựng đầy với gạo ngon, cơm lành, các hột đen đã lấy ra, các loại đồ ăn, đậy lại với một bát đồng khác rồi mang về hàng chợ lại. Các người thấy vậy bèn hỏi: “Bạn mang cái gì có vẻ đẹp đẽ ngon lành vậy?” Khi cầm cái bát lên, mở ra và nhìn vào, thì đối với người ấy, ưa thích khởi lên, sự không ghê tởm khởi lên, sự không yếm ố khởi lên. Người no còn muốn ăn các thứ ấy huống nữa là người đói.

 

 

Your reverence, it is like a bronze bowl, brought back from a shop or smithy quite pure, quite clean. Its owners, having filled it with fine rice; rice-water, the black grains removed, with various curries, various vegetables, and having enclosed it in another bronze bowl, might take it back inside the shop. People, seeing it, would say: ‘Just look, what is this that has been brought back like a very lovely thing?’ Having lifted it up, having opened it, they would look at it. On seeing it, liking would set in, and no loathing would set in and no disgust would set in; even those who had eaten would have a desire for food, how much more those who were hungry?

Evameva kho, āvuso, yassa kassaci bhikkhuno ime pāpakā akusalā icchāvacarā pahīnā dissanti ceva sūyanti ca, kiñcāpi so hoti gāmantavihārī nemantaniko gahapa­ti­cīva­ra­dharo, atha kho naṃ sabrahmacārī sakkaronti garuṃ karonti mānenti pūjenti. Taṃ kissa hetu? Te hi tassa āyasmato pāpakā akusalā icchāvacarā pahīnā dissanti ceva sūyanti cā”ti.

 

 

Này Hiền giả, cũng vậy, đối với vị Tỷ-kheo nào, mà các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này được thấy và được nghe là đã diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy sống ở biên giới gần làng mạc, chấp nhận biệt thỉnh thực, mang y người gia chủ cúng, thời các đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng lễ bái cúng dường Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này được thấy và được nghe các ác, bất thiện pháp cảnh giới của dục này đã được diệt trừ.

 

Even so, your reverence, of whatever monk it is seen and heard that these occupations with evil unskilled wishes are destroyed, even though he were staying near a village, were one who is invited, were one who wears householder's robe-material, then his fellow Brahma-farers would revere would revere, esteem, venerate, honour him. What is the cause of this? It is that these see and also hear of this reverend one that his occupations with evil unskilled wishes are destroyed.”
Evaṃ vutte, āyasmā mahāmoggallāno āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca: “upamā maṃ, āvuso sāriputta, paṭibhātī”ti. “Paṭibhātu taṃ, āvuso moggallānā”ti. 

Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahamoggallana thưa với Tôn giả Sāriputta: "Hiền giả Sāriputta, một ví dụ khởi lên cho tôi!""Hiền giả Moggallāna, hãy nói lên ví dụ ấy."

When this had been said, the venerable Moggallāna the Great spoke thus to the venerable Sāriputta: “A simile occurs to me, reverend Sāriputta.” “Let it be evident, reverend Moggallāna.”

Atha khvāhaṃ, āvuso, pubbaṇ­ha­samayaṃ nivāsetvā patta­cīvara­mādāya rājagahaṃ piṇḍāya pāvisiṃ. Tena kho pana samayena samīti yānakāraputto rathassa nemiṃ tacchati. Tamenaṃ paṇḍuputto ājīvako purā­ṇayāna­kāra­putto paccupaṭṭhito hoti. Atha kho, āvuso, paṇḍuputtassa ājīvakassa purā­ṇayāna­kāra­puttassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi: ‘aho vatāyaṃ samīti yānakāraputto imissā nemiyā imañca vaṅkaṃ imañca jimhaṃ imañca dosaṃ taccheyya, evāyaṃ nemi apagatavaṅkā apagatajimhā apagatadosā suddhā assa sāre patiṭṭhitā’ti. Yathā yathā kho, āvuso, paṇḍuputtassa ājīvakassa purā­ṇayāna­kāra­puttassa cetaso parivitakko hoti tathā tathā samīti yānakāraputto tassā nemiyā tañca vaṅkaṃ tañca jimhaṃ tañca dosaṃ tacchati. Atha kho, āvuso, paṇḍuputto ājīvako purā­ṇayāna­kāra­putto attamano attamanavācaṃ nicchāresi: ‘hadayā hadayaṃ maññe aññāya tacchatī’ti.

 

 

 

 

Hiền giả, một thời tôi ở thành Vương Xá, tại Giribbaja. Này Hiền giả, rồi tôi đắp y vào buổi sáng, mang theo y bát, vào thành Vương Xá để khất thực. Lúc bấy giờ, Samiti, con một người làm xe, đang đẽo một vành xe, và tà mạng ngoại đạo Panduputta, trước là con của một người làm xe, đang đứng một bên. Rồi tà mạng ngoại đạo Panduputta trước là con một người làm xe, khởi lên ý nghĩ như sau: “Mong rằng Samiti, con người thợ xe, hãy đẽo đường cong này, đường méo này và các mắt gỗ này, để vành xe này không có cong, không có đường méo, không có mắt gỗ, được trơn tru và được đặt vào trong trục chính”. Này Hiền giả, tà mạng ngoại đạo Panduputta, trước là con một người làm xe suy nghĩ như thế nào, thời đúng như vậy, Samiti, con người làm xe, đẽo đường cong này, đường méo này và các mắt gỗ này của vành xe ấy. Này Hiền giả, tà mạng ngoại đạo Panduputta trước là con người làm xe, hoan hỷ nói lên lời hoan hỷ như sau: “Hình như người này đang đẽo (vành xe ấy) như là với tâm của anh ta, anh ta biết tâm ta vậy”.

 

 

Once I, your reverence, was staying near Rājagaha in the mountain Cowpen. Then I, your reverence, having dressed in the morning, taking my bowl and robe, entered Rājagaha for alms-food. Now at that time Samīti, the son of a vehicle maker, was shaping a felloe, and the Naked Ascetic, Paṇḍu's son, who had formerly been the son of a vehicle maker, was standing near him. Then, your reverence, this reasoning arose in the mind of the Naked Ascetic, Paṇḍu's son, who had formerly been the son of a vehicle maker: ‘O that this Samīti, the son of a vehicle maker, might shape away this felloe's crookedness, its twist and notch, so that the felloe, without crookedness, without twist, without notch, might be clear and placed on the pith.’ Even while there was this reasoning in the mind of the Naked Ascetic, Paṇḍu's son, who had formerly been a vehicle maker, so did Samīti, the son of a vehicle maker, shape away that crookedness and that twist and that notch from the felloe. Then, your reverence, the Naked Ascetic, Paṇḍu's son, who had formerly been the son of a vehicle maker, was delighted; he let forth a cry of delight: ‘It seems as if he is shaping it away because with his heart he knows my heart.

Evameva kho, āvuso, ye te puggalā assaddhā, jīvikatthā na saddhā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, saṭhā māyāvino ketabino uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā, indriyesu aguttadvārā, bhojane amattaññuno, jāgariyaṃ ananuyuttā, sāmaññe anapekkhavanto, sikkhāya na tibbagāravā, bāhulikā sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā, kusītā hīnavīriyā muṭṭhassatī asampajānā asamāhitā vibbhantacittā duppaññā eḷamūgā, tesaṃ āyasmā sāriputto iminā dhamma­pariyā­yena hadayā hadayaṃ maññe aññāya tacchati.

 

 

 

 

Này Hiền giả, những ai không có lòng tin, vì mục đích sinh sống, không phải vì lòng tin mà xuất gia, sống đời sống vô gia đình, những vị gian ngụy, xảo trá, khi cuống, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm lời, tạp thoại, không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không tha thiết với hạnh Sa-môn, không nhiệt thành tôn trọng Phật pháp, ưa sống sung túc, biếng nhác, dẫn đầu về đọa lạc, chối bỏ trọng trách sống viễn ly, giải đãi không tinh tấn, lãng quên không chú niệm, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, đần độn. Tôn giả Sāriputta với pháp môn này, như là với tâm của Tôn giả, Tôn giả biết tâm của những hạng người ấy.

 

 

 

Even so, your reverence, those persons who are without faith, but who, in want of a way of living, have gone forth from home into homelessness, not from faith, who are crafty, fraudulent, deceitful, who are unbalanced and puffed up, who are shifty, scurrilous and of loose talk, the doors of whose sense-faculties are not guarded, who do not know moderation in eating, who are not intent on vigilance, indifferent to recluseship, not of keen respect for the training, ones for abundance, lax, taking the lead in backsliding, shirking the burden of seclusion who are indolent, of feeble energy, of confused mindfulness, not clearly conscious, not concentrated but of wandering minds, who are weak in wisdom, drivellers, it seems that the venerable Sāriputta, because he knows their hearts with his heart, is shaping them by means of this disquisition on dhamma.

Ye pana te kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā, indriyesu guttadvārā, bhojane mattaññuno, jāgariyaṃ anuyuttā, sāmaññe apekkhavanto, sikkhāya tibbagāravā, na bāhulikā na sāthalikā, okkamane nikkhittadhurā, paviveke pubbaṅgamā, āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatī sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te āyasmato sāriputtassa imaṃ dhamma­pariyā­yaṃ sutvā pivanti maññe, ghasanti maññe vacasā ceva manasā ca: ‘sādhu vata, bho, sabrahmacārī akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetī’ti. 

 

 

 

 

Những kẻ Thiện nam tử, do lòng tin, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; những vị nào không gian ngụy, không xảo trá, không khi cuống, không trạo cử, không kiêu mạn, không dao động, không lắm lời, không tạp thoại, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, tha thiết với hạnh Sa-môn, nhiệt thành tôn trọng Phật pháp, không sống trong sung túc, không biếng nhác, bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc, dẫn đầu về viễn ly, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, chú tâm cảnh giác, định tâm, nhất tâm, có trí tuệ, không đần độn. Những vị này sau khi nghe pháp môn này của Tôn giả Sāriputta, hình như đang uống, hình như đang nếm với lời nói và tâm ý. Thật lành thay, một vị Tôn giả đồng phạm hạnh đã khiến cho vượt khỏi bất thiện và an trú vào chánh thiện!

 

 

But those young men of respectable families who, from faith, have gone forth from home into homelessness, who are not crafty, fraudulent or deceitful, who are not unbalanced, not puffed up, not shifty, not scurrilous or of loose talk, the doors of whose sense-faculties are guarded, who know moderation in eating, who are intent on vigilance, who long for recluseship, who are of keen respect for the training, not ones for abundance, not lax, shirking back-sliding, taking the lead in seclusion, who are of stirred up energy, self-resolute, with mindfulness aroused, clearly conscious, who are concentrated, their minds one-pointed, who have wisdom, are not drivellers, these, having heard this disquisition on dhamma from the venerable Sāriputta, seem to drink it, seem to savour it with speech as well as with mind. Indeed it is good that a fellow Brahma-farer, having caused one to rise up from what is unskilled, establishes him in what is skilled.

Seyyathāpi, āvuso, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍa­na­kajā­tiko sīsaṃnhāto uppalamālaṃ vā vassikamālaṃ vā ati­mutta­ka­mālaṃ vā labhitvā ubhohi hatthehi paṭiggahetvā uttamaṅge sirasmiṃ patiṭṭhapeyya; evameva kho, āvuso, ye te kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā, indriyesu guttadvārā, bhojane mattaññuno, jāgariyaṃ anuyuttā, sāmaññe apekkhavanto, sikkhāya tibbagāravā, na bāhulikā na sāthalikā, okkamane nikkhittadhurā, paviveke pubbaṅgamā, āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatī sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te āyasmato sāriputtassa imaṃ dhamma­pariyā­yaṃ sutvā pivanti maññe, ghasanti maññe vacasā ceva manasā ca: ‘sādhu vata, bho, sabrahmacārī akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetī’”ti.

Itiha te ubho mahānāgā aññamaññassa subhāsitaṃ samanu­modiṃ­sūti.

 

 

 

 

Này Hiền giả, ví như một người đàn bà hay người đàn ông, còn đang tuổi trẻ, tánh ưa trang sức, sau khi gội đầu xong, sau khi được một vòng hoa sen xanh hay một vòng vũ sanh hoa, hay một vòng thiện tư hoa, dùng hai tay cầm lấy vòng hoa ấy và đặt trên đỉnh đầu. Này Hiền giả, cũng vậy những Thiện nam tử vì lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, không gian ngụy … (như trên) … Thật lành thay một Tôn giả đồng phạm hạnh đã khiến cho vượt khỏi bất thiện và an trú vào chánh thiện!

Như vậy hai vị cao đức ấy cùng nhau thiện thuyết, cùng nhau tùy hỷ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Your reverence, it is like a woman or a man, young and of tender years, fond of adornment, who, having washed the head, having acquired a garland of lotuses or a garland of jasmine or a garland of acacia creeper, and having taken it in both hands should place it on the top of the head, even so, your reverence, those young men of respectable families who have gone forth from home into homelessness from faith, who are not crafty, fraudulent or deceitful, who are not unbalanced, not puffed up, not shifty, not scurrilous or of loose talk, the doors of whose sense-faculties are guarded, who know moderation in eating, who are intent on vigilance, who long for recluseship, who are of keen respect for the training, not ones for abundance, not lax, shirking back-sliding, taking the lead in seclusion, who are of stirred up energy, self-resolute, with mindfulness aroused, clearly conscious, who are concentrated, their minds one-pointed, who have wisdom, are not drivellers, having heard this disquisition on dhamma from the venerable Sāriputta, seem to drink it, seem to savour it with speech as well as with mind. Indeed it is good that a fellow Brahma-farer, having caused one to rise up from what is unskilled, establishes him in what is skilled.”

In this wise did each of these great beings rejoice together in what was well spoken by the other.

 

Nguồn: 

Pali: MN 5: Anaṅgaṇasutta (Pāli) - Majjhima Nikāya - SuttaCentral

Việt: MN 5: Kinh Không uế nhiễm (Tiếng Việt) - Majjhima Nikāya - SuttaCentral

English: MN 5: Discourse on No Blemishes (English) - Majjhima Nikāya - SuttaCentral

 

 

Những tập kinh khác:

MN 1: Mūlapariyāyasutta – Kinh Pháp Môn Căn Bản – The Root of All Things

MN 2: Sabbāsavasutta – Kinh Tất cả các lậu hoặc – All the Taints

MN 3: Dhammadāyādasutta – Kinh thừa tự Pháp – Discourse on Heirs of Dhamma

MN 4: Bhayabheravasutta – Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm – Fear and Dread

MN5: Anaṅgaṇasutta – Kinh Không Uế Nhiễm – Discourse on No Blemishes

MN 6: Ākaṅkheyyasutta – Kinh Ước Nguyện – If a Bhikkhu Should Wish

Những bộ Kinh khác :