MN 2: Sabbāsavasutta – Kinh Tất cả các lậu hoặc – All the Taints

Monday April 10, 2023
Majjhima Nikāya 2 Trung Bộ Kinh Middle Length Discourses
Sabbāsavasutta Kinh Tất cả các lậu hoặc All the Taints
Evaṃ me sutaṃ—​   ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anātha­piṇḍi­kassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca: “sab­bāsava­saṃ­vara­pariyā­yaṃ vo, bhikkhave, desessāmi. Taṃ suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṃ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca:

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo!” —“ Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn phòng hộ tất cả lậu hoặc”. Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói”.:” Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Thế Tôn nói như sau


Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was living at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park. There he addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus.”—“Venerable sir,” they replied. The Blessed One said this:

“Bhikkhus, I shall teach you a discourse on the restraint of all the taints. Listen and attend closely to what I shall say.”—“Yes, venerable sir,” the bhikkhus replied. The Blessed One said this:


“Jānato ahaṃ, bhikkhave, passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi, no ajānato no apassato. Kiñca, bhikkhave, jānato kiñca passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi? Yoniso ca manasikāraṃ ayoniso ca manasikāraṃ. Ayoniso, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā uppajjanti, uppannā ca āsavā pavaḍḍhanti; yoniso ca kho, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā na uppajjanti, uppannā ca āsavā pahīyanti.

Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt. 

“Bhikkhus, I say that the destruction of the taints is for one who knows and sees, not for one who does not know and see. Who knows and sees what? Wise attention and unwise attention. When one attends unwisely, unarisen taints arise and arisen taints increase. When one attends wisely, unarisen taints do not arise and arisen taints are abandoned.

 

 

Atthi, bhikkhave, āsavā dassanā pahātabbā, atthi āsavā saṃvarā pahātabbā, atthi āsavā paṭisevanā pahātabbā, atthi āsavā adhivāsanā pahātabbā, atthi āsavā parivajjanā pahātabbā, atthi āsavā vinodanā pahātabbā, atthi āsavā bhāvanā pahātabbā.

Này các Tỷ-kheo, có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.

“Bhikkhus, there are taints that should be abandoned by seeing. There are taints that should be abandoned by restraining. There are taints that should be abandoned by using. There are taints that should be abandoned by enduring. There are taints that should be abandoned by avoiding. There are taints that should be abandoned by removing. There are taints that should be abandoned by developing.

Dassanāpahātabbaāsava

 Các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ

 Taints to be abandoned by seeing

Katame ca, bhikkhave, āsavā dassanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano—ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṃ adassāvī sap­purisa­dhammassa akovido sap­purisa­dhamme avinīto—manasikaraṇīye dhamme nappajānāti, ama­nasika­ra­ṇīye dhamme nappajānāti. So manasikaraṇīye dhamme appajānanto ama­nasika­ra­ṇīye dhamme appajānanto, ye dhammā na manasikaraṇīyā, te dhamme manasi karoti, ye dhammā manasikaraṇīyā te dhamme na manasi karoti.

Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý; vị này vì không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, vì không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.

“What taints, bhikkhus, should be abandoned by seeing? Here, bhikkhus, an untaught ordinary person, who has no regard for noble ones and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, who has no regard for true men and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, does not understand what things are fit for attention and what things are unfit for attention. Since that is so, he attends to those things unfit for attention and he does not attend to those things fit for attention.

 

 

Katame ca, bhikkhave, dhammā na manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti? Yassa, bhikkhave, dhamme manasikaroto anuppanno vā kāmāsavo uppajjati, uppanno vā kāmāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā bhavāsavo uppajjati, uppanno vā bhavāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā avijjāsavo uppajjati, uppanno vā avijjāsavo pavaḍḍhati—ime dhammā na manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti.

Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng, hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Những pháp ấy là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý.

 

What are the things unfit for attention that he attends to? They are things such that when he attends to them, the unarisen taint of sensual desire arises in him and the arisen taint of sensual desire increases, the unarisen taint of being arises in him and the arisen taint of being increases, the unarisen taint of ignorance arises in him and the arisen taint of ignorance increases. These are the things unfit for attention that he attends to. 

 

Katame ca, bhikkhave, dhammā na manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti? Yassa, bhikkhave, dhamme manasikaroto anuppanno vā kāmāsavo uppajjati, uppanno vā kāmāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā bhavāsavo uppajjati, uppanno vā bhavāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā avijjāsavo uppajjati, uppanno vā avijjāsavo pavaḍḍhati—ime dhammā na manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti.

Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng, hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Những pháp ấy là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý.

 

What are the things unfit for attention that he attends to? They are things such that when he attends to them, the unarisen taint of sensual desire arises in him and the arisen taint of sensual desire increases, the unarisen taint of being arises in him and the arisen taint of being increases, the unarisen taint of ignorance arises in him and the arisen taint of ignorance increases. These are the things unfit for attention that he attends to.

 

Katame ca, bhikkhave, dhammā manasikaraṇīyā ye dhamme na manasi karoti? Yassa, bhikkhave, dhamme manasikaroto anuppanno vā kāmāsavo na uppajjati, uppanno vā kāmāsavo pahīyati; anuppanno vā bhavāsavo na uppajjati, uppanno vā bhavāsavo pahīyati; anuppanno vā avijjāsavo na uppajjati, uppanno vā avijjāsavo pahīyati—ime dhammā manasikaraṇīyā ye dhamme na manasi karoti.

Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp cần phải tác ý mà vị ấy không tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt. Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý mà các vị ấy không tác ý. 

 

And what are the things fit for attention that he does not attend to? They are things such that when he attends to them, the unarisen taint of sensual desire does not arise in him and the arisen taint of sensual desire is abandoned, the unarisen taint of being does not arise in him and the arisen taint of being is abandoned, the unarisen taint of ignorance does not arise in him and the arisen taint of ignorance is abandoned. These are the things fit for attention that he does not attend to. 

Tassa ama­nasika­ra­ṇī­yānaṃ dhammānaṃ manasikārā manasika­ra­ṇī­yānaṃ dhammānaṃ amanasikārā anuppannā ceva āsavā uppajjanti uppannā ca āsavā pavaḍḍhanti.

Do vị ấy tác ý các pháp không nên tác ý, do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.

By attending to things unfit for attention and by not attending to things fit for attention, both unarisen taints arise in him and arisen taints increase.

 

So evaṃ ayoniso manasi karoti: ‘ahosiṃ nu kho ahaṃ atītamaddhānaṃ? Na nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ? Kiṃ nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ? Kathaṃ nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ? Kiṃ hutvā kiṃ ahosiṃ nu kho ahaṃ atītamaddhānaṃ? Bhavissāmi nu kho ahaṃ anāga­ta­maddhā­naṃ? Na nu kho bhavissāmi anāga­ta­maddhā­naṃ? Kiṃ nu kho bhavissāmi anāga­ta­maddhā­naṃ? Kathaṃ nu kho bhavissāmi anāga­ta­maddhā­naṃ? Kiṃ hutvā kiṃ bhavissāmi nu kho ahaṃ anāga­ta­maddhā­nan’ti? Etarahi vā ­pac­cup­pan­na­maddhā­naṃ 
ajjhattaṃ kathaṃkathī hoti: ‘ahaṃ nu khosmi? No nu khosmi? Kiṃ nu khosmi? Kathaṃ nu khosmi? Ayaṃ nu kho satto kuto āgato? So kuhiṃ gāmī bhavissatī’ti?

Vị ấy không như lý tác ý như sau: “Ta có mặt trong thời quá khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta đã có mặt như thế nào trong thời quá khứ? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai?” Hay nay vị ấy có nghi ngờ về mình trong thời hiện tại: “Ta có mặt hay ta không có mặt? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt hình vóc như thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu?”.

 

 

"This is how he attends unwisely: ‘Was I in the past? Was I not in the past? What was I in the past? How was I in the past? Having been what, what did I become in the past? Shall I be in the future? Shall I not be in the future? What shall I be in the future? How shall I be in the future? Having been what, what shall I become in the future?’ Or else he is inwardly perplexed about the present thus: ‘Am I? Am I not? What am I? How am I? Where has this being come from? Where will it go?’

 

 

 

 

 

Tassa evaṃ ayoniso manasikaroto channaṃ diṭṭhīnaṃ aññatarā diṭṭhi uppajjati. ‘Atthi me attā’ti vā assa 
 saccato thetato diṭṭhi uppajjati; ‘natthi me attā’ti vā assa saccato thetato diṭṭhi uppajjati; ‘attanāva attānaṃ sañjānāmī’ti vā assa saccato thetato diṭṭhi uppajjati; ‘attanāva anattānaṃ sañjānāmī’ti vā assa saccato thetato diṭṭhi uppajjati; ‘anattanāva attānaṃ sañjānāmī’ti vā assa saccato thetato diṭṭhi uppajjati; atha vā panassa evaṃ diṭṭhi hoti: ‘yo me ayaṃ attā vado vedeyyo tatra tatra kal­yāṇa­pāpakā­naṃ kammānaṃ vipākaṃ paṭisaṃvedeti so kho pana me ayaṃ attā nicco dhuvo sassato avi­pari­ṇāma­dhammo sassatisamaṃ tatheva ṭhassatī’ti. Idaṃ vuccati, bhikkhave, diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāraṃ diṭṭhivisūkaṃ diṭṭhi­vip­phan­di­taṃ diṭṭhi­saṃ­yoja­naṃ. Diṭṭhi­saṃ­yoja­na­saṃ­yutto, bhikkhave, assutavā puthujjano na parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi; ‘na parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.

Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: “Ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn; “Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn. “Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay tà kiến này khởi lên với người ấy: “Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại”. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược. Này các Tỷ-kheo, trói buộc bởi kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói kẻ ấy không thoát khỏi khổ đau.

 

 

“When he attends unwisely in this way, one of six views arises in him. The view ‘self exists for me’ arises in him as true and established; or the view ‘no self exists for me’ arises in him as true and established; or the view ‘I perceive self with self’ arises in him as true and established; or the view ‘I perceive not-self with self’ arises in him as true and established; or the view ‘I perceive self with not-self’ arises in him as true and established; or else he has some such view as this: ‘It is this self of mine that speaks and feels and experiences here and there the result of good and bad actions; but this self of mine is permanent, everlasting, eternal, not subject to change, and it will endure as long as eternity.’ This speculative view, bhikkhus, is called the thicket of views, the wilderness of views, the contortion of views, the vacillation of views, the fetter of views. Fettered by the fetter of views, the untaught ordinary person is not freed from birth, ageing, and death, from sorrow, lamentation, pain, grief, and despair; he is not freed from suffering, I say.

 

Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako—ariyānaṃ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṃ dassāvī sap­purisa­dhammassa kovido sap­purisa­dhamme suvinīto—manasikaraṇīye dhamme pajānāti ama­nasika­ra­ṇīye dhamme pajānāti. So manasikaraṇīye dhamme pajānanto ama­nasika­ra­ṇīye dhamme pajānanto ye dhammā na manasikaraṇīyā te dhamme na manasi karoti, ye dhammā manasikaraṇīyā te dhamme manasi karoti.

Này các Tỷ-kheo, và vị Thánh đệ tử nghe nhiều, được thấy các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh; được thấy các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, tuệ tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần phải tác ý. Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần phải tác ý.

 

“Bhikkhus, a well-taught noble disciple, who has regard for noble ones and is skilled and disciplined in their Dhamma, who has regard for true men and is skilled and disciplined in their Dhamma, understands what things are fit for attention and what things are unfit for attention. Since that is so, he does not attend to those things unfit for attention and he attends to those things fit for attention.

 

 

Katame ca, bhikkhave, dhammā na manasikaraṇīyā ye dhamme na manasi karoti? Yassa, bhikkhave, dhamme manasikaroto anuppanno vā kāmāsavo uppajjati, uppanno vā kāmāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā bhavāsavo uppajjati, uppanno vā bhavāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā avijjāsavo uppajjati, uppanno vā avijjāsavo pavaḍḍhati—ime dhammā na manasikaraṇīyā, ye dhamme na manasi karoti.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp không cần phải tác ý và vị này không tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng; hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Ðó là những pháp không nên tác ý và vị ấy không tác ý.

 

“What are the things unfit for attention that he does not attend to? They are things such that when he attends to them, the unarisen taint of sensual desire arises in him and arisen taint of sensual desire increases, the unarisen taint of being arises in him and the arisen taint of being increases; the unarisen taint of ignorance arises and the arisen taint of ignorance increases. These are the things unfit for attention that he does not attend to.

 

Katame ca, bhikkhave, dhammā manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti? Yassa, bhikkhave, dhamme manasikaroto anuppanno vā kāmāsavo na uppajjati, uppanno vā kāmāsavo pahīyati; anuppanno vā bhavāsavo na uppajjati, uppanno vā bhavāsavo pahīyati; anuppanno vā avijjāsavo na uppajjati, uppanno vā avijjāsavo pahīyati—ime dhammā manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt; hữu lậu chưa sanh không sanh khởi hay hữu lậu đã sanh được diệt trừ; vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý. 

 

And what are the things fit for attention that he attends to? They are things such that when he attends to them, the unarisen taint of sensual desire does not arise in him and the arisen taint of sensual desire is abandoned; the unarisen taint of being does not arise in him and arisen taint of being is abandoned; the unarisen taint of ignorance does not arise in him and the arisen taint of ignorance is abandoned. These are the things fit for attention that he attends to.

Tassa ama­nasika­ra­ṇī­yānaṃ dhammānaṃ amanasikārā manasika­ra­ṇī­yānaṃ dhammānaṃ manasikārā anuppannā ceva āsavā na uppajjanti, uppannā ca āsavā pahīyanti.

Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.

By not attending to things unfit for attention and by attending to things fit for attention, unarisen taints do not arise in him and arisen taints are abandoned.

 

So ‘idaṃ dukkhan’ti yoniso manasi karoti, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yoniso manasi karoti, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yoniso manasi karoti, ‘ayaṃ duk­kha­nirodha­gāminī paṭipadā’ti yoniso manasi karoti. Tassa evaṃ yoniso manasikaroto tīṇi saṃyojanāni pahīyanti—sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlab­bata­parāmāso. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā dassanā pahātabbā.

Vị ấy như lý tác ý: “Ðây là khổ”, như lý tác ý: “Ðây là khổ tập”, như lý tác ý: “Ðây là khổ diệt”, như lý tác ý: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.

 

 

He attends wisely: ‘This is suffering’; he attends wisely: ‘This is the origin of suffering’; he attends wisely: ‘This is the cessation of suffering’; he attends wisely: ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’ When he attends wisely in this way, three fetters are abandoned in him: personality view, doubt, and adherence to rules and observances. These are called the taints that should be abandoned by seeing.

Saṃvarāpahātappaāsava

Các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ

Tains to be abandoned by restraining

Katame ca, bhikkhave, āsavā saṃvarā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso cak­khun­driya­saṃ­vara­saṃ­vuto viharati. Yañhissa, bhikkhave, cak­khun­driya­saṃ­varaṃ asaṃvutassa viharato uppajjeyyuṃ āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā, cak­khun­driya­saṃ­varaṃ saṃvutassa viharato evaṃsa te āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā na honti. Paṭisaṅkhā yoniso sotindriya­saṃ­vara­saṃ­vuto viharati … pe … ghā­nindriya­saṃ­vara­saṃ­vuto viharati … pe … jiv­hindriya­saṃ­vara­saṃ­vuto viharati … pe … kāyindriya­saṃ­vara­saṃ­vuto viharati … pe … manindriya­saṃ­vara­saṃ­vuto viharati. Yañhissa, bhikkhave, manindriya­saṃ­varaṃ asaṃvutassa viharato uppajjeyyuṃ āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā, manindriya­saṃ­varaṃ saṃvutassa viharato evaṃsa te āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā na honti.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ? Ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Vị ấy như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ tai … (như trên) … sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ mũi … (như trên) … sống phòng hộ với sự phòng hộ lưỡi … (như trên) … sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ thân … (như trên) … sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ ý. 

 

 

 

What taints, bhikkhus, should be abandoned by restraining? Here a bhikkhu, reflecting wisely, abides with the eye faculty restrained. While taints, vexation, and fever might arise in one who abides with the eye faculty unrestrained, there are no taints, vexation, or fever in one who abides with the eye faculty restrained. Reflecting wisely, he abides with the ear faculty restrained…with the nose faculty restrained…with the tongue faculty restrained…with the body faculty restrained…with the mind faculty restrained, there are no taints, vexation, or fever in one who abides with the mind faculty restrained.

 

 

 

 

Yañhissa, bhikkhave, saṃvaraṃ asaṃvutassa viharato uppajjeyyuṃ āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā, saṃvaraṃ saṃvutassa viharato evaṃsa te āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā saṃvarā pahātabbā.

 

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ.

While taints, vexation, and fever might arise in one who abides with the faculties unrestrained, there are no taints, vexation, or fever in one who abides with the faculties restrained. These are called the taints that should be abandoned by restraining.

 

Paṭisevannāpahātappaāsava

Các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ

Taints to be abandoned by using

Katame ca, bhikkhave, āsavā paṭisevanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso cīvaraṃ paṭisevati: ‘yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṃ­samaka­sa­vātāta­pa­sarīsa­pa­samphas­sā­naṃ paṭighātāya, yāvadeva hiri­kopī­nap­paṭic­chāda­nat­thaṃ’.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.

What taints, bhikkhus, should be abandoned by using? Here a bhikkhu, reflecting wisely, uses the robe only for protection from cold, for protection from heat, for protection from contact with gadflies, mosquitoes, wind, the sun, and creeping things, and only for the purpose of concealing the private parts.

Paṭisaṅkhā yoniso piṇḍapātaṃ paṭisevati: ‘neva davāya, na madāya, na maṇḍanāya, na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya, vihiṃ­sū­para­tiyā, brahma­cari­yā­nuggahāya, iti purāṇañca vedanaṃ paṭihaṅkhāmi navañca vedanaṃ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro ca’.

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.

“Reflecting wisely, he uses almsfood neither for amusement nor for intoxication nor for the sake of physical beauty and attractiveness, but only for the endurance and continuance of this body, for ending discomfort, and for assisting the holy life, considering: ‘Thus I shall terminate old feelings without arousing new feelings and I shall be healthy and blameless and shall live in comfort.’

Paṭisaṅkhā yoniso senāsanaṃ paṭisevati: ‘yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṃ­samaka­sa­vātāta­pa­sarīsa­pa­samphas­sā­naṃ paṭighātāya, yāvadeva utuparis­saya­vinoda­na­paṭi­sallā­nā­rāmat­thaṃ’.

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.

 

Reflecting wisely, he uses the resting place only for protection from cold, for protection from heat, for protection from contact with gadflies, mosquitoes, wind, the sun, and creeping things, and only for the purpose of warding off the perils of climate and for enjoying retreat.

Paṭisaṅkhā yoniso gilā­nappac­caya­bhesaj­ja­parik­khā­raṃ paṭisevati: ‘yāvadeva uppannānaṃ veyyā­bādhi­kā­naṃ vedanānaṃ paṭighātāya, abyā­bajjha­parama­tāya'.

Vị ấy như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.

 

Reflecting wisely, he uses the medicinal requisites only for protection from arisen afflicting feelings and for the benefit of good health.

 

Yañhissa, bhikkhave, appaṭisevato uppajjeyyuṃ āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā, paṭisevato evaṃsa te āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā paṭisevanā pahātabbā.

 

Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ.

“While taints, vexation, and fever might arise in one who does not use the requisites thus, there are no taints, vexation, or fever in one who uses them thus. These are called the taints that should be abandoned by using.

 

Adhivāsanāpahātabbaāsava

Các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ

Taints to be abandoned by enduring

Katame ca, bhikkhave, āsavā adhivāsanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso khamo hoti sītassa uṇhassa, jighacchāya pipāsāya. Ḍaṃ­samaka­sa­vātāta­pa­sarīsa­pa­samphas­sā­naṃ, duruttānaṃ durāgatānaṃ vacanapathānaṃ, uppannānaṃ sārīrikānaṃ vedanānaṃ dukkhānaṃ tibbānaṃ kharānaṃ kaṭukānaṃ asātānaṃ amanāpānaṃ pāṇaharānaṃ adhi­vāsaka­jātiko hoti.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn những cách nói mạ lị phỉ báng. Vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người.

 

What taints, bhikkhus, should be abandoned by enduring? Here a bhikkhu, reflecting wisely, bears cold and heat, hunger and thirst, and contact with gadflies, mosquitoes, wind, the sun, and creeping things; he endures ill-spoken, unwelcome words and arisen bodily feelings that are painful, racking, sharp, piercing, disagreeable, distressing, and menacing to life.

 

 

Yañhissa, bhikkhave, anadhivāsayato uppajjeyyuṃ āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā, adhivāsayato evaṃsa te āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā adhivāsanā pahātabbā.

 

Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ.

While taints, vexation, and fever might arise in one who does not endure such things, there are no taints, vexation, or fever in one who endures them. These are called the taints that should be abandoned by enduring.

 

Parivajjanāpahātabbaāsava

Các lậu hoặc phải do né tránh được đoạn trừ

Taints to be abandoned by avoiding

Katame ca, bhikkhave, āsavā parivajjanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso caṇḍaṃ hatthiṃ parivajjeti, caṇḍaṃ assaṃ parivajjeti, caṇḍaṃ goṇaṃ parivajjeti, caṇḍaṃ kukkuraṃ parivajjeti, ahiṃ khāṇuṃ kaṇṭakaṭṭhānaṃ sobbhaṃ papātaṃ candanikaṃ oḷigallaṃ. Yathārūpe anāsane nisinnaṃ yathārūpe agocare carantaṃ yathārūpe pāpake mitte bhajantaṃ viññū sabrahmacārī pāpakesu ṭhānesu okappeyyuṃ, so tañca anāsanaṃ tañca agocaraṃ te ca pāpake mitte paṭisaṅkhā yoniso parivajjeti.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Có những chỗ ngồi không xứng đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những bạn bè ác độc mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghi ngờ, khinh thường; vị ấy như lý giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy.

 

What taints, bhikkhus, should be abandoned by avoiding? Here a bhikkhu, reflecting wisely, avoids a wild elephant, a wild horse, a wild bull, a wild dog, a snake, a stump, a bramble patch, a chasm, a cliff, a cesspit, a sewer. Reflecting wisely, he avoids sitting on unsuitable seats, wandering to unsuitable resorts, and associating with bad friends, since if he were to do so wise companions in the holy life might suspect him of evil conduct. 

 

 

 

Yañhissa, bhikkhave, aparivajjayato uppajjeyyuṃ āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā, parivajjayato evaṃsa te āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā parivajjanā pahātabbā.

 

Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ.

While taints, vexation, and fever might arise in one who does not avoid these things, there are no taints, vexation, and fever in one who avoids them. These are called the taints that should be abandoned by avoiding.

 

Vinodanāpahātabbaāsava

Các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ 

Taints to be abandoned by removing

Katame ca, bhikkhave, āsavā vinodanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso uppannaṃ kāmavitakkaṃ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti, uppannaṃ ­byāpā­da­vitak­kaṃ … pe … uppannaṃ vihiṃ­sā­vitak­kaṃ … pe … uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti.

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy); không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy); không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy); không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác bất thiện pháp ấy). 

What taints, bhikkhus, should be abandoned by removing? Here a bhikkhu, reflecting wisely, does not tolerate an arisen thought of sensual desire; he abandons it, removes it, does away with it, and annihilates it. He does not tolerate an arisen thought of ill will…He does not tolerate an arisen thought of cruelty…He does not tolerate arisen evil unwholesome states; he abandons them, removes them, does away with them, and annihilates them.

 

Yañhissa, bhikkhave, avinodayato uppajjeyyuṃ āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā, vinodayato evaṃsa te āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā vinodanā pahātabbā.

 

Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn diệt.

While taints, vexation, and fever might arise in one who does not remove these thoughts, there are no taints, vexation, or fever in one who removes them. These are called the taints that should be abandoned by removing.

 

Bhāvanāpahātabbaāsava

Các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ

Taints to be abandoned by developing

Katame ca, bhikkhave, āsavā bhāvanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso sati­sam­boj­jhaṅ­gaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodha­nissitaṃ vos­sagga­pari­ṇāmiṃ; paṭisaṅkhā yoniso dhamma­vicaya­sam­boj­jhaṅ­gaṃ bhāveti … pe … vīriya­sam­boj­jhaṅ­gaṃ bhāveti … pīti­sam­boj­jhaṅ­gaṃ bhāveti … passad­dhi­sam­boj­jhaṅ­gaṃ bhāveti … samā­dhi­sam­boj­jhaṅ­gaṃ bhāveti … upekkhā­sam­boj­jhaṅ­gaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodha­nissitaṃ vos­sagga­pari­ṇāmiṃ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác sát tu tập trạch pháp giác chi … (như trên) … tu tập tinh tấn giác chi … tu tập hỷ giác chi … tu tập khinh an giác chi … tu tập định giác chi … tu tập xả giác chi; xả giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. 

 

 

What taints, bhikkhus, should be abandoned by developing? Here a bhikkhu, reflecting wisely, develops the mindfulness enlightenment factor, which is supported by seclusion, dispassion, and cessation, and ripens in relinquishment. He develops the investigation-of-states enlightenment factor…the energy enlightenment factor…the rapture enlightenment factor…the tranquillity enlightenment factor…the concentration enlightenment factor…the equanimity enlightenment factor, which is supported by seclusion, dispassion, and cessation, and ripens in relinquishment.

Yañhissa, bhikkhave, abhāvayato uppajjeyyuṃ āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā, bhāvayato evaṃsa te āsavā ­vighā­ta­pari­ḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā bhāvanā pahātabbā.

 

 Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.

While taints, vexation, and fever might arise in one who does not develop these enlightenment factors, there are no taints, vexation, or fever in one who develops them. These are called the taints that should be abandoned by developing.

 

 

Kết luận

Conclusion

Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno ye āsavā dassanā pahātabbā te dassanā pahīnā honti, ye āsavā saṃvarā pahātabbā te saṃvarā pahīnā honti, ye āsavā paṭisevanā pahātabbā te paṭisevanā pahīnā honti, ye āsavā adhivāsanā pahātabbā te adhivāsanā pahīnā honti, ye āsavā parivajjanā pahātabbā te parivajjanā pahīnā honti, ye āsavā vinodanā pahātabbā te vinodanā pahīnā honti, ye āsavā bhāvanā pahātabbā te bhāvanā pahīnā honti; ayaṃ vuccati, bhikkhave: ‘bhikkhu sabbā­sava­saṃ­vara­saṃ­vuto viharati, acchecchi taṇhaṃ, vivattayi saṃyojanaṃ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’”ti.

 

 

Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo những lậu hoặc nào phải do tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do phòng hộ được đoạn trừ đã được phòng hộ đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do thọ dụng được đoạn trừ đã được thọ dụng đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do kham nhẫn được đoạn trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tránh né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do trừ diệt được đoạn trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tu tập được đoạn trừ đã được tu tập đoạn trừ; này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã sống phòng hộ với sự phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau.

 

 

Bhikkhus, when for a bhikkhu the taints that should be abandoned by seeing have been abandoned by seeing, when the taints that should be abandoned by restraining have been abandoned by restraining, when the taints that should be abandoned by using have been abandoned by using, when the taints that should be abandoned by enduring have been abandoned by enduring, when the taints that should be abandoned by avoiding have been abandoned by avoiding, when the taints that should be abandoned by removing have been abandoned by removing, when the taints that should be abandoned by developing have been abandoned by developing—then he is called a bhikkhu who dwells restrained with the restraint of all the taints. He has severed craving, flung off the fetters, and with the complete penetration of conceit he has made an end of suffering.

Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

That is what the Blessed One said. The bhikkhus were satisfied and delighted in the Blessed One’s words.

 

Nguồn (Source):
Pāḷi: suttacentral.net
Vietnamese:
khemarama.net
English:
suttacentral.net; digitalpalireader.online

Những tập kinh khác:

MN 1: Mūlapariyāyasutta – Kinh Pháp Môn Căn Bản – The Root of All Things

MN 2: Sabbāsavasutta – Kinh Tất cả các lậu hoặc – All the Taints

MN 3: Dhammadāyādasutta – Kinh thừa tự Pháp – Discourse on Heirs of Dhamma

MN 4: Bhayabheravasutta – Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm – Fear and Dread

MN5: Anaṅgaṇasutta – Kinh Không Uế Nhiễm – Discourse on No Blemishes

MN 6: Ākaṅkheyyasutta – Kinh Ước Nguyện – If a Bhikkhu Should Wish

Những bộ Kinh khác :