DN 18: Janavasabhasuttaṃ – Kinh Xà-ni-sa – About Janavasabha (Brahmā Addresses the Gods)

Thursday December 7, 2023

 

 

JANAVASABHASUTTAṂ

KINH XÀ-NI-SA

(Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu)

ABOUT JANAVASABHA (BRAHMĀ ADDRESSES THE GODS)

(English Translation from Pāli: Maurice Walshe)

nātikiyādibyākaraṇaṃ (DN 18)    
♦ 273. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā nātike {nādike (sī. syā. pī.)} viharati giñjakāvasathe. tena kho pana samayena bhagavā parito parito janapadesu paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu byākaroti kāsikosalesu vajjimallesu cetivaṃsesu {cetiyavaṃsesu (ka.)} kurupañcālesu majjhasūrasenesu {macchasurasenesu (syā.), macchasūrasenesu (sī. pī.)} — “asu amutra upapanno, asu amutra upapanno {upapannoti (ka.)} . paropaññāsa nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. sādhikā navuti nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā rāgadosamohānaṃ tanuttā sakadāgāmino, sakideva {sakiṃdeva (ka.)} imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ karissanti. sātirekāni pañcasatāni nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā”ti.

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Nàdika (bộ lạc Na-đề-ca) tại Ginjakàvasatha (nhà làm bằng gạch).

Lúc bấy giờ, Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã sống, đã từ trần và đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh như bộ lạc

Kàsi (Ca-thi), Kosala (Câu-tát-la), Vajjì (Bạt-kỳ), Malla (Mạt-la), Ceti (Chi-đề), Vansa (Bạt-sa), Kuru (Câu-lâu), Pancàla (Ban-giá-la), Maccha (Bà-sá-la) Sùrasena (Mậu-ba-tây-na):

- Vị này sanh ra tại chỗ này! Vị kia sanh ra tại chỗ kia.

Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nàdika đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh (thiên giới) từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa.

Hơn chín mươi vị ở Nàdikà, đã từ trần, đã mệnh chung, với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ tận diệt khổ đau.

Hơn năm trăm vị Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung, với ba kiết sử đã được diệt trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác.

[200] 1. THUS HAVE I HEARD. Once the Lord was staying at Nādikā at the Brick House. (497)

And at that time the Lord was explaining the rebirths of various devotees up and down the country who had died and passed away:

Kāsis and Kosalans, Vajjians and Mallas, Cetis and Vaṃsas, Kurus and Pañcālas, Macchas and Sūrasenas, saying:

‘This one was reborn there, and that one there.’ (498)

More than fifty Nādikan devotees, having abandoned the five lower fetters, were reborn spontaneously and would attain Nibbāna without returning to this world;

over ninety of them, having abandoned three fetters and weakened greed, hatred and delusion, were OnceReturners, who would return to this world once more and then make an end of suffering;

and more than five hundred, having abandoned three fetters, were Stream-Winners, incapable of falling into states of woe, certain of Nibbāna. [201] 

♦ 274. assosuṃ kho nātikiyā paricārakā — “bhagavā kira parito parito janapadesu paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu byākaroti kāsikosalesu vajjimallesu cetivaṃsesu kurupañcālesu majjhasūrasenesu — ‘asu amutra upapanno, asu amutra upapanno. paropaññāsa nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. sādhikā navuti nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā rāgadosamohānaṃ tanuttā sakadāgāmino sakideva imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ karissanti. sātirekāni pañcasatāni nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā’ti. tena ca nātikiyā paricārakā attamanā ahesuṃ pamuditā pītisomanassajātā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṃ {pañhāveyyākaraṇaṃ (syā. ka.)} sutvā.

2. Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe: "Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần và đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc

Kàsi, Kosala, Vajjì, Malla, Ceti, Vamsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena:

"Vị này sanh ra tại chỗ này. Vị kia sanh ra tại chỗ kia.

Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh (Thiên giới) từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa.

Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau.

Hơn năm trăm vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác". Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy, lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc.

2. This news reached the ears of the devotees in Nādikā, and they were pleased, delighted and filled with joy to hear the Lord’s replies.
♦ 275. assosi kho āyasmā ānando — “bhagavā kira parito parito janapadesu paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu byākaroti kāsikosalesu vajjimallesu cetivaṃsesu kurupañcālesu majjhasūrasenesu — ‘asu amutra upapanno, asu amutra upapanno. paropaññāsa nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. sādhikā navuti nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā rāgadosamohānaṃ tanuttā sakadāgāmino sakideva imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ karissanti. sātirekāni pañcasatāni nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā’ti. tena ca nātikiyā paricārakā attamanā ahesuṃ pamuditā pītisomanassajātā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṃ sutvā”ti.

3. Tôn giả Ananda được nghe: "Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần, đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc

Kàsi, Kosala, Vajjì, mallà, Ceti, Vamsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena:

"Vị này sanh ra tại chỗ này, vị kia sanh ra tại chỗ kia.

Hơn 50 vị tín đồ Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh (thiên giới) từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa.

Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau.

Hơn năm trăm vị ở Nãdikã đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được diệt trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác". Các vị tín đồ ở Nãdikã được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc".

3. And the Venerable Ānanda heard of the Lord’s report (499) and the Nādikans’ delight.
ānandaparikathā (DN 18)    
♦ 276. atha kho āyasmato ānandassa etadahosi — “ime kho panāpi ahesuṃ māgadhakā paricārakā bahū ceva rattaññū ca abbhatītā kālaṅkatā. suññā maññe aṅgamagadhā aṅgamāgadhakehi {aṅgamāgadhikehi (syā.)} paricārakehi abbhatītehi kālaṅkatehi. te kho panāpi {tena kho panāpi (syā.)} ahesuṃ buddhe pasannā dhamme pasannā saṅghe pasannā sīlesu paripūrakārino. te abbhatītā kālaṅkatā bhagavatā abyākatā; tesampissa sādhu veyyākaraṇaṃ, bahujano pasīdeyya, tato gaccheyya sugatiṃ. ayaṃ kho panāpi ahosi rājā māgadho seniyo bimbisāro dhammiko dhammarājā hito brāhmaṇagahapatikānaṃ negamānañceva jānapadānañca. apissudaṃ manussā kittayamānarūpā viharanti — ‘evaṃ no so dhammiko dhammarājā sukhāpetvā kālaṅkato, evaṃ mayaṃ tassa dhammikassa dhammarañño vijite phāsu {phāsukaṃ (syā.)} viharimhā’ti. so kho panāpi ahosi buddhe pasanno dhamme pasanno saṅghe pasanno sīlesu paripūrakārī. apissudaṃ manussā evamāhaṃsu — ‘yāva maraṇakālāpi rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavantaṃ kittayamānarūpo kālaṅkato’ti. so abbhatīto kālaṅkato bhagavatā abyākato. tassapissa sādhu veyyākaraṇaṃ bahujano pasīdeyya, tato gaccheyya sugatiṃ. bhagavato kho pana sambodhi magadhesu. yattha kho pana bhagavato sambodhi magadhesu, kathaṃ tatra bhagavā māgadhake paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu na byākareyya. bhagavā ce kho pana māgadhake paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu na byākareyya, dīnamanā {ninnamanā (syā.), dīnamānā (sī. pī.)} tenassu māgadhakā paricārakā; yena kho panassu dīnamanā māgadhakā paricārakā kathaṃ te bhagavā na byākareyyā”ti?

4. Rồi tôn giả Ananda suy nghĩ: "Nhưng ở tại Magadha (Ma-kiệt-đà), có nhiều tín đồ đã tu hành lâu ngày và đã từ trần, mệnh chung, nhiều đến nỗi người ta tưởng hai xứ Anga (Ương-già) và Magadha đều trống không vì số tín đồ từ trần mệnh chung.

Những vị này tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp và tin tưởng Tăng, và giới luật đầy đủ.

Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và sự mệnh chung của họ. Lành thay nếu gợi được một câu trả lời về họ, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin, và từ đó được sanh lên thiện giới.

Lại có vua Seniya Bimbisàra (Tư-ni-du Tần-bà-sa) xứ Magadha sống như Pháp, dùng Chánh pháp trị nước, có lòng thương tưởng các vị Bà-la-môn, Gia chủ, dân chúng thị thành và dân chúng thôn quê.

Vua này được dân chúng xưng tán như sau: "Vị vua sống như pháp, dùng chánh pháp trị nước, đã làm cho chúng ta sung sướng, vị này mệnh chung. Chúng ta đã sống thật hạnh phúc dưới thời vua sống như Pháp và dùng Chánh pháp trị nước này.

Vị vua này cũng tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ".

Và dân chúng cũng nói: "Cho đến khi mệnh chung, vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha luôn luôn tán dương Thế Tôn".

Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của vị vua này. Lành thay, nếu gợi được câu trả lời về vị vua này, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin và từ đó được sanh lên thiên giới.

Lại nữa Thế Tôn chứng quả Bồ-đề tại Magadha. Thế Tôn đã chứng quả Bồ-đề tại Magadha. Thế Tôn đã chứng Bồ đề ở Magadha tại Magadha thì sao Ngài lại không nói đến về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha?

Nếu Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha thời các vị này sẽ đau buồn và nếu các vị này đau buồn thời sao Thế Tôn có thể không trả lời được?".

4. And he thought: [202] ‘There were also Magadhan disciples of long standing who have died and passed away. One would think Aṅga and Magadha contained no Magadhan disciples who had died.

Yet they too were devoted to the Buddha, the Dhamma and the Sangha, and they observed the discipline perfectly.

The Lord has not stated their destiny. It would be good to have a declaration about this: it would make the multitude have faith and so attain a good rebirth.

‘Now King Seniya Bimbisāra of Magadha was a righteous and lawful king, a friend of Brahmins, householders, town and country-dwellers,

so that his fame is spread abroad: “That righteous king of ours is dear (500) who gave us so much happiness. Life was easy for us who dwelt under his righteous rule.” (501)

And he was devoted to the Buddha, the Dhamma and the Sangha, and observed the discipline perfectly.

Thus people say: “King Bimbisāra, who praised the Lord to his dying day, is dead!”

The Lord has not declared his destiny, and it would be good to have a declaration...

Besides, it was in Magadha that the Lord gained his enlightenment. Since the Lord gained his enlightenment in Magadha, why does he not declare the destinies of those who have died there?

For the Lord not to make such a declaration would cause unhappiness to the Magadhans. [203] Such being the case, why does not the Lord make such a declaration?’

♦ 277. idamāyasmā ānando māgadhake paricārake ārabbha eko raho anuvicintetvā rattiyā paccūsasamayaṃ paccuṭṭhāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca — “sutaṃ metaṃ, bhante — ‘bhagavā kira parito parito janapadesu paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu byākaroti kāsikosalesu vajjimallesu cetivaṃsesu kurupañcālesu majjhasūrasenesu — “asu amutra upapanno, asu amutra upapanno. paropaññāsa nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. sādhikā navuti nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā rāgadosamohānaṃ tanuttā sakadāgāmino, sakideva imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ karissanti. sātirekāni pañcasatāni nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇāti. tena ca nātikiyā paricārakā attamanā ahesuṃ pamuditā pītisomanassajātā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṃ sutvā”ti.

5. Sau khi đã suy nghĩ một mình, yên lặng, vì các tín đồ ở Magadha, tôn giả Ananda sáng hôm sau thức dậy đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn con có nghe: Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần, đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc

Kàsi, Kosala, Vajjì, Malla, Ceit, Vamsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena: "Vị này sanh ra tại chỗ này, vị kia sanh ra tại chỗ kia.

Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nàdikà đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa.

Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất Lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau.

Hơn năm trăm vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác". Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc.

5. And after thus reflecting in solitude on behalf of the Magadhan devotees, the Venerable Ānanda rose at the crack of dawn, went to the Lord and saluted him. Then, sitting down to one side, he said:

‘Lord, I have heard what has been declared concerning the inhabitants of Nādikā.’ (as verse 1-2)

ime kho panāpi, bhante, ahesuṃ māgadhakā paricārakā bahū ceva rattaññū ca abbhatītā kālaṅkatā. suññā maññe aṅgamagadhā aṅgamāgadhakehi paricārakehi abbhatītehi kālaṅkatehi. te kho panāpi, bhante, ahesuṃ buddhe pasannā dhamme pasannā saṅghe pasannā sīlesu paripūrakārino, te abbhatītā kālaṅkatā bhagavatā abyākatā. tesampissa sādhu veyyākaraṇaṃ, bahujano pasīdeyya, tato gaccheyya sugatiṃ. ayaṃ kho panāpi, bhante, ahosi rājā māgadho seniyo bimbisāro dhammiko dhammarājā hito brāhmaṇagahapatikānaṃ negamānañceva jānapadānañca. apissudaṃ manussā kittayamānarūpā viharanti — ‘evaṃ no so dhammiko dhammarājā sukhāpetvā kālaṅkato. evaṃ mayaṃ tassa dhammikassa dhammarañño vijite phāsu viharimhā’ti. so kho panāpi, bhante, ahosi buddhe pasanno dhamme pasanno saṅghe pasanno sīlesu paripūrakārī. apissudaṃ manussā evamāhaṃsu — ‘yāva maraṇakālāpi rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavantaṃ kittayamānarūpo kālaṅkato’ti. so abbhatīto kālaṅkato bhagavatā abyākato; tassapissa sādhu veyyākaraṇaṃ, bahujano pasīdeyya, tato gaccheyya sugatiṃ. bhagavato kho pana, bhante, sambodhi magadhesu. yattha kho pana, bhante, bhagavato sambodhi magadhesu, kathaṃ tatra bhagavā māgadhake paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu na byākareyya? bhagavā ce kho pana, bhante, māgadhake paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu na byākareyya dīnamanā tenassu māgadhakā paricārakā; yena kho panassu dīnamanā māgadhakā paricārakā kathaṃ te bhagavā na byākareyyā”ti. idamāyasmā ānando māgadhake paricārake ārabbha bhagavato sammukhā parikathaṃ katvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi.

6. Bạch Thế Tôn, nhưng ở tại Magadha có nhiều tín đồ này tu hành lâu ngày và đã từ trần, mệnh chung, nhiều đến nỗi người ta tưởng hai xứ Anga và Magadha đều trống không vì số tín đồ từ trần mệnh chung.

Những vị này tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ.

Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của họ.

Lành thay nếu gợi được một câu trả lời về họ, và như vậy nhiều người sẽ khơi lòng tin, và từ đó được sanh lên Thiên giới.

Bạch Thế Tôn, lại có vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha, sống như Pháp, dùng Chánh pháp trị nước, có lòng thương tưởng các vị Bà-la-môn, Gia chủ, dân chúng thị thành và dân chúng thôn quê.

Vua này được dân chúng xưng tán như sau: "Vị vua sống như Pháp, và dùng Chánh pháp cai trị nước này. Vị Vua này cũng tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ". Và dân chúng cũng nói: "Cho đến khi mệnh chung, vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha luôn luôn tán dương Thế Tôn".

Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của vị vua này. Lành thay nếu gợi được câu trả lời về vị vua này, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin, và từ đó được sanh lên thiên giới.

Bạch Thế Tôn, lại nữa Thế Tôn đã chứng quả Bồ-đề ở Magadha. Thế Tôn đã chứng quả Bồ đề ở Magadha, thời sao Ngài không nói về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha.

Nếu Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha, thời các vị này sẽ đau buồn, và nếu các vị này đau buồn thời sao Thế Tôn có thể không thể trả lời được!

Tôn giả Ananda, vì các tín đồ ở Magadha, sau khi đã trình lên trước Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, từ tạ ra đi.

6. ‘These were all devoted to the Buddha, the Dhamma and the Sangha, and they observed the discipline perfectly.

The Lord has not stated their destiny... (as verse 4). [204]

Why does not the Lord make such a declaration?’

Then, having thus spoken to the Lord on behalf of the Magadhan devotees, he rose from his seat, saluted the Lord, passed him by to the right, and departed.

♦ 278. atha kho bhagavā acirapakkante āyasmante ānande pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya nātikaṃ piṇḍāya pāvisi. nātike piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkanto pāde pakkhāletvā giñjakāvasathaṃ pavisitvā māgadhake paricārake ārabbha aṭṭhiṃ katvā {aṭṭhikatvā (sī. syā. pī.)} manasikatvā sabbaṃ cetasā {sabbacetasā (pī.)} samannāharitvā paññatte āsane nisīdi — “gatiṃ nesaṃ jānissāmi abhisamparāyaṃ, yaṃgatikā te bhavanto yaṃabhisamparāyā”ti. addasā kho bhagavā māgadhake paricārake “yaṃgatikā te bhavanto yaṃabhisamparāyā”ti. atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito giñjakāvasathā nikkhamitvā vihārapacchāyāyaṃ paññatte āsane nisīdi.

7. Sau khi tôn giả Ananda đi ra không bao lâu, Thế Tôn liền đắp y vào buổi sáng, tay cầm y bát, đi vào Nàdikà để khất thực.

Khi khất thực ở Nàdikà xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực về và rửa chân, Ngài vào ngôi nhà bằng gạch, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, suy nghĩ, tư duy chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha: "Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng như thế nào?"

Thế Tôn thấy được chỗ thọ sanh và vận mạng của các Hiền nhân tín đồ ở xứ Magadha này. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, sau khi tịnh niệm, bước ra khỏi ngôi nhà bằng gạch, rồi ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, dưới bóng ngôi nhà.

7. As soon as Ānanda had gone, the Lord took his robe and bowl and went into Nādikā for alms.

Later, on his return, after his meal, he went to the Brick House and, having washed his feet, he went in and, having thought over, considered and given his whole mind to the question of the Magadhan devotees, he sat down on the prepared seat, saying: ‘I shall know their destiny and future lot, whatever it is.’ (502)

And then he perceived the destiny and fate of [205] each one of them. And in the evening, emerging from meditative seclusion, the Lord came out of the Brick House and sat down on the prepared seat in the shade of his lodging.

♦ 279. atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca — “upasantapadisso {upasantapatiso (ka.)} bhante bhagavā bhātiriva bhagavato mukhavaṇṇo vippasannattā indriyānaṃ. santena nūnajja bhante bhagavā vihārena vihāsī”ti? “yadeva kho me tvaṃ, ānanda, māgadhake paricārake ārabbha sammukhā parikathaṃ katvā uṭṭhāyāsanā pakkanto, tadevāhaṃ nātike piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkanto pāde pakkhāletvā giñjakāvasathaṃ pavisitvā māgadhake paricārake ārabbha aṭṭhiṃ katvā manasikatvā sabbaṃ cetasā samannāharitvā paññatte āsane nisīdiṃ — ‘gatiṃ nesaṃ jānissāmi abhisamparāyaṃ, yaṃgatikā te bhavanto yaṃabhisamparāyā’ti. addasaṃ kho ahaṃ, ānanda, māgadhake paricārake ‘yaṃgatikā te bhavanto yaṃabhisamparāyā’”ti.

8. Rồi Tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn ở, lúc đến xong, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ngó thật là an tịnh; diện sắc của Thế Tôn như là sáng chói nhờ các căn thật sự thanh tịnh. Bạch Thế Tôn Thế Tôn hôm nay an trú có được hoan hỷ không?

9. - Này Ananda, sau khi Ngươi, vì các tín đồ ở Magadha đã nói trước mặt Ta như vậy và đứng dậy ra về, Ta đi khất thực ở Nàdikà xong,

sau bữa ăn, khi đi khất thực về và rửa chân, Ta vào ngôi nhà bằng gạch, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, suy nghĩ tư duy, chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha: "Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các vị Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng như thế nào?"

Rồi Ta thấy được chỗ thọ sanh và vận mạng của các Hiền nhân tín đồ ở xứ Magadha này.

8. Then the Venerable Ānanda came to the Lord, saluted him, sat down to one side and said:

‘Lord, the Lord’s countenance looks bright and shining, showing that the Lord’s mind is at ease. Has the Lord been satisfied with today’s lodging?’

9. ‘Ānanda, after you spoke to me about the devotees of Magadha, I took my robe and bowl and went into Nādikā for alms.

Later on ... I went to the Brick House and considered the question of the Magadhan devotees...

And I perceived the destiny and fate of each one of them.

janavasabhayakkho (DN 18)    

♦ 280. “atha kho, ānanda, antarahito yakkho saddamanussāvesi — ‘janavasabho ahaṃ bhagavā; janavasabho ahaṃ sugatā’ti. abhijānāsi no tvaṃ, ānanda, ito pubbe evarūpaṃ nāmadheyyaṃ sutaṃ {sutvā (pī.)} yadidaṃ janavasabho”ti?

Này Ananda, lúc bấy giờ một vị Dạ-xoa (Yakkha) ẩn mình lớn tiếng nói rằng: "Bạch Thế Tôn, con tên là Janavasabha. Bạch Thiện Thệ, con là Janavasabha".

Này Ananda, Ngươi từ trước đã từng được nghe ai tên là Janavasabha (Xà-ni-sa) chưa?

Then the voice of a yakkha (503) who had passed over cried out: “I am Janavasabha, Lord! I am Janavasabha, WellFarer!”

Well, Ānanda, do you know anyone who formerly bore the name of Janavasabha?’

♦ “na kho ahaṃ, bhante, abhijānāmi ito pubbe evarūpaṃ nāmadheyyaṃ sutaṃ yadidaṃ janavasabhoti, api ca me, bhante, lomāni haṭṭhāni ‘janavasabho’ti nāmadheyyaṃ sutvā. tassa mayhaṃ, bhante, etadahosi — ‘na hi nūna so orako yakkho bhavissati yadidaṃ evarūpaṃ nāmadheyyaṃ supaññattaṃ yadidaṃ janavasabho”ti.

- Bạch Thế Tôn, còn từ trước chưa từng được nghe ai tên Janavasabha. Bạch Thế Tôn, khi con nghe tên Janavasabha, con có cảm giác râu tóc bị dựng ngược, Bạch Thế Tôn, con tự nghĩ: "Vị Dạ-xoa này không phải là hạng tầm thường, vì đã mang tên Janavasabha".

‘I must admit, Lord, that I have never heard such a name;

and yet, on hearing the name “Janavasabha” (504) my hairs stood on end, and I thought: “He [206] whose name is Janavasabha will not be such a low-ranking yakkha!”’

“anantarā kho, ānanda, saddapātubhāvā uḷāravaṇṇo me yakkho sammukhe pāturahosi . dutiyampi saddamanussāvesi — ‘bimbisāro ahaṃ bhagavā; bimbisāro ahaṃ sugatāti. idaṃ sattamaṃ kho ahaṃ, bhante, vessavaṇassa mahārājassa sahabyataṃ upapajjāmi, so tato cuto manussarājā bhavituṃ pahomi {so tato cuto manussarājā, amanussarājā divi homi (sī. pī.)}.

10. - Này Ananda, khi những lời ấy được nói xong, vị Dạ-xoa ấy hiện ra trước mặt Ta, nhan sắc thật phi thường và lần thứ hai, vị ấy nói:

"- Bạch Thế Tôn, con là Bimbisàra! Bạch Thế Tôn, con là Bimbisàra! Bạch Thế Tôn, nay là lần thứ bảy con được sanh vào giòng họ vua Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương).

Con chết đi trong địa vị làm vua ở nhơn gian, nay được sanh trên thiên giới, làm bậc phi nhân.

10. ‘Ānanda, immediately after I heard this voice, the yakkha appeared before me as a noble vision, and uttered a second cry:

“I am Bimbisāra, Lord! I am Bimbisāra, Well-Farer! I have now for the seventh time been reborn into the entourage of the Lord Vessavana. (505)

Thus having passed away as a king of humans, I have now become among the devas a king of non-human beings.

♦ ito satta tato satta, saṃsārāni catuddasa.

♦ nivāsamabhijānāmi, yattha me vusitaṃ pure.

Từ đây đến bảy lần

Từ kia đến bảy lần

Mười bốn lần tái sanh.

Như vậy con biết được,

Ðời quá khứ của con.

Seven states here and seven there, fourteen births,

That’s the tally of lives I can recall.

♦ 281. ‘dīgharattaṃ kho ahaṃ, bhante, avinipāto avinipātaṃ sañjānāmi, āsā ca pana me santiṭṭhati sakadāgāmitāyā’ti. ‘acchariyamidaṃ āyasmato janavasabhassa yakkhassa, abbhutamidaṃ āyasmato janavasabhassa yakkhassa. “dīgharattaṃ kho ahaṃ, bhante, avinipāto avinipātaṃ sañjānāmī”ti ca vadesi, “āsā ca pana me santiṭṭhati sakadāgāmitāyā”ti ca vadesi, kutonidānaṃ panāyasmā janavasabho yakkho evarūpaṃ uḷāraṃ visesādhigamaṃ sañjānātīti?

Bạch Thế Tôn, từ lâu con không còn đọa lạc vào ác thú vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai.

"- Thật hy hữu thay, Hiền giả Dạ-xoa Janavasabha! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả Dạ-xoa Janavasabha đã nói với ta: 'Bạch Thế Tôn, từ lâu con không còn đọa lạc vào ác thú vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai.'

Do nguyên nhân gì, Hiền giả Dạ-xoa Janavasabha tự biết mình đã đạt được địa vị cao thượng, thù thắng như vậy?"

For a long time, Lord, I have known myself to be exempt from states of woe, (506) and now the desire arises in me to become a Once-Returner.” I said:

“It is amazing, it is astonishing that the reverend yakkha Janavasabha should say this.

On what grounds can he know of such an august specific attainment?”

na aññatra, bhagavā, tava sāsanā, na aññatra {aññattha (sī. pī.)}, sugata, tava sāsanā; yadagge ahaṃ, bhante, bhagavati ekantikato {ekantato (syā.), ekantagato (pī.)} abhippasanno, tadagge ahaṃ, bhante, dīgharattaṃ avinipāto avinipātaṃ sañjānāmi, āsā ca pana me santiṭṭhati sakadāgāmitāya.

11- "Bạch Thế Tôn, không gì khác ngoài giáo lý của Ngài! Từ khi con nhất hướng quy y và tín ngưỡng Thế Tôn, từ khi ấy con không còn đọa lạc vào ác thú, vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai.

11. “‘Not otherwise, Lord, not otherwise, Well-Farer, than through your teaching! From the time when I became fully committed and gained complete faith, from then on, Lord, for a long time [207] I have known myself to be exempt from states of woe, and the desire has arisen in me to become a Once-Returner.

idhāhaṃ, bhante, vessavaṇena mahārājena pesito virūḷhakassa mahārājassa santike kenacideva karaṇīyena addasaṃ bhagavantaṃ antarāmagge giñjakāvasathaṃ pavisitvā māgadhake paricārake ārabbha aṭṭhiṃ katvā manasikatvā sabbaṃ cetasā samannāharitvā nisinnaṃ — “gatiṃ nesaṃ jānissāmi abhisamparāyaṃ, yaṃgatikā te bhavanto yaṃabhisamparāyā”ti.

Bạch Thế Tôn, con được vua Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương) nhờ con đi đến vua Virùlhaka (Tăng Trưởng Thiên vương) có chút công việc, giữa đường con thấy Thế Tôn vào ngôi nhà bằng gạch suy nghĩ tư duy, chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha: "Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng thế nào?

And here, Lord, having been sent by King Vessavana on some business to King Virūlhaka, (507) I saw the Lord entering the Brick House and sitting down and considering the question of the Magadhan devotees ...

anacchariyaṃ kho panetaṃ, bhante, yaṃ vessavaṇassa mahārājassa tassaṃ parisāyaṃ bhāsato sammukhā sutaṃ sammukhā paṭiggahitaṃ — “yaṃgatikā te bhavanto yaṃabhisamparāyā”ti. tassa mayhaṃ, bhante, etadahosi — bhagavantañca dakkhāmi, idañca bhagavato ārocessāmīti. ime kho me, bhante, dvepaccayā bhagavantaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ’.

"Bạch Thế Tôn! Không thể kỳ diệu sao được khi con đối mặt tự thân nghe từ miệng vua Vessavana nói với hội chúng của mình, các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mệnh như thế nào? Bạch Thế Tôn! Ta sẽ đề cập vấn đề với Thế Tôn!"

Bạch Thế Tôn, đó là hai nguyên nhân khiến con đến yết kiến Thế Tôn!

And since I had only just heard King Vessavana announce to his assembly what those folk’s fates were, it is no wonder that I thought: ‘I will go and see the Lord and report this to him.’

And these, Lord, are the two reasons (508) why I came to see the Lord.” (]anavasabha continued:)

 

devasabhā (DN 18)    

♦ 282. ‘purimāni, bhante, divasāni purimatarāni tadahuposathe pannarase vassūpanāyikāya puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā kevalakappā ca devā tāvatiṃsā sudhammāyaṃ sabhāyaṃ sannisinnā honti sannipatitā. mahatī ca dibbaparisā {dibbā parisā (sī. pī.)} samantato nisinnā honti {nisinnā hoti (sī.), sannisinnā honti sannipatitā (ka.)}, cattāro ca mahārājāno catuddisā nisinnā honti. puratthimāya disāya dhataraṭṭho mahārājā pacchimābhimukho {pacchābhimukho (ka.)} nisinno hoti deve purakkhatvā; dakkhiṇāya disāya virūḷhako mahārājā uttarābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā; pacchimāya disāya virūpakkho mahārājā puratthābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā; uttarāya disāya vessavaṇo mahārājā dakkhiṇābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā.

12. "Bạch Thế Tôn, trong những ngày xưa, những ngày xa xưa, nhân đêm trăng rằm Bố-tát (Uposatha) trong tháng nhập an cư mùa mưa, toàn thể chư Thiên ở cõi Tàvatimsà (Tam thập tam thiên) ngồi họp hội tại Thiện Pháp đường (Sudhamma).

Xung quanh có Ðại Thiên chúng ngồi khắp mọi phía, tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi.

Ðại vương Dhatarattha (Trì Quốc Thiên vương) vua ở phương Ðông, ngồi xây mặt hướng Tây, trước mặt Thiên chúng.

Ðại vương Virùlhaka (Tăng Trưởng Thiên vương), vua ở phương Nam ngồi xây mặt hướng Bắc, trước mặt Thiên chúng.

Ðại vương Virùpakkha (Quảng Mục Thiên vương) vua ở phương Tây, ngồi xây mặt hướng Ðông, trước mặt Thiên chúng.

Ðại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương), vua ở phương Bắc, ngồi xây mặt hướng Nam, trước mặt Thiên chúng.

12. ‘“Lord, in earlier days, long ago, on the fast-day of the fifteenth at the beginning of the Rains, (509) in the full moon night all the Thirty-Three Gods were seated in the Sudhamma Hall (510)

a great congregation of divine beings, and the Four Great Kings from the four quarters were there.

There was the Great King Dhatarattha (511) from the east at the head of his followers, facing west;

the Great King Virūlhaka from the south... facing north;

the Great King Virūpakkha from the west... facing east;

and the Great King Vessavana from the north... facing south. [208]

yadā, bhante, kevalakappā ca devā tāvatiṃsā sudhammāyaṃ sabhāyaṃ sannisinnā honti sannipatitā, mahatī ca dibbaparisā samantato nisinnā honti, cattāro ca mahārājāno catuddisā nisinnā honti. idaṃ nesaṃ hoti āsanasmiṃ; atha pacchā amhākaṃ āsanaṃ hoti. ye te, bhante, devā bhagavati brahmacariyaṃ caritvā adhunūpapannā tāvatiṃsakāyaṃ, te aññe deve atirocanti vaṇṇena ceva yasasā ca. tena sudaṃ, bhante, devā tāvatiṃsā attamanā honti pamuditā pītisomanassajātā “dibbā vata bho kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā”ti.

Bạch Thế Tôn, khi nào toàn thể chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường xung quanh có Ðại thiên chúng ngồi khắp mọi phía, và tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi, như vậy là thứ tự chỗ ngồi của những vị này, rồi đến chỗ ngồi của chúng con.

Bạch Thế Tôn, chư Thiên nào trước sống Phạm hạnh theo Thế Tôn và nay nếu sanh lên cõi Tam thập tam thiên, những vị này thắng xa chư Thiên khác về thân sắc và danh tiếng.

Bạch Thế Tôn chư Thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, tín thọ, hỷ lạc sanh: "Thiên giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt".

‘“On such occasions that is the order in which they are seated, and after that came our seats.

And those devas who, having lived the holy life under the Lord, had recently appeared in the Heaven of the ThirtyThree, outshone the other devas in brightness and glory.

And for that reason the Thirty-Three Gods were pleased, happy, filled with delight and joy, saying: ‘The devas’ hosts are growing, the asuras’ hosts are declining!’ (512)

atha kho, bhante, sakko devānamindo devānaṃ tāvatiṃsānaṃ sampasādaṃ viditvā imāhi gāthāhi anumodi —

13. "Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ Thiện chủ Ðế thích (Sakka Inda) thấy chư thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, liền tùy hỷ nói lên bài kệ như sau:

13. ‘“Then, Lord, Sakka, ruler of the gods, seeing the satisfaction of the Thirty-Three, uttered these verses of rejoicing:

♦ “modanti vata bho devā, tāvatiṃsā sahindakā {saindakā (sī.)}.

♦ tathāgataṃ namassantā, dhammassa ca sudhammataṃ.

♦ nave deve ca passantā, vaṇṇavante yasassine {yasassino (syā.)}.

♦ sugatasmiṃ brahmacariyaṃ, caritvāna idhāgate.

♦ te aññe atirocanti, vaṇṇena yasasāyunā.

♦ sāvakā bhūripaññassa, visesūpagatā idha.

♦ idaṃ disvāna nandanti, tāvatiṃsā sahindakā.

♦ tathāgataṃ namassantā, dhammassa ca sudhammatan”ti.

Chư Tam thập tam thiên,

Cùng Ðế-thích hoan hỷ,

Ðảnh lễ bậc Như Lai,

Cùng Chánh pháp vi diệu.

Thấy Thiên chúng tân sanh,

Quang sắc thật thù thắng,

Các vị sống Phạm hạnh,

Nay sanh tại cõi này.

Họ thắng về quang sắc,

Thọ mạng và danh xưng,

Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,

Thù thắng sanh cõi này.

Chư Tam thập tam thiên,

Cùng Ðế-thích hoan hỷ,

Ðảnh lễ bậc Như Lai,

Cùng Chánh pháp vi diệu.

‘The gods of Thirty-Three rejoice, their leader too,

Praising the Tathāgata, and Dhamma’s truth,

Seeing new-come devas, fair and glorious

Who’ve lived the holy life, now well reborn.

Outshining all the rest in fame and splendour,

The mighty Sage’s pupils singled out.

Seeing this, the Thirty-Three rejoice, their leader too,

Praising the Tathāgata, and Dhamma’s truth.’ [209]

♦ ‘tena sudaṃ, bhante, devā tāvatiṃsā bhiyyosomattāya attamanā honti pamuditā pītisomanassajātā “dibbā vata, bho, kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā”ti. atha kho, bhante, yenatthena devā tāvatiṃsā sudhammāyaṃ sabhāyaṃ sannisinnā honti sannipatitā, taṃ atthaṃ cintayitvā taṃ atthaṃ mantayitvā vuttavacanāpi taṃ {vuttavacanā nāmidaṃ (ka.)} cattāro mahārājāno tasmiṃ atthe honti. paccānusiṭṭhavacanāpi taṃ {paccānusiṭṭhavacanā nāmidaṃ (ka.)} cattāro mahārājāno tasmiṃ atthe honti, sakesu sakesu āsanesu ṭhitā avipakkantā {adhipakkantā (ka.)}.

"Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên lại càng hoan hỷ, tín thọ, hỷ lạc sanh hơn nữa và nói: "Thiện giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt".

14. "Bạch Thế Tôn, rồi với mục đích gì chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, các vị này suy tư thảo luận về mục đích ấy.

Và tùy thuộc về mục đích ấy, bốn vị đại vương được thuyết giảng. Theo mục đích ấy, bốn vị đại vương được khuyến giáo, bốn vị này đều đứng một bên chỗ ngồi của mình.

At this the Thirty-Three Gods rejoiced still more, saying: ‘The devas’ hosts are growing, the asuras’ hosts are declining!’

14. ‘“And then they consulted and deliberated together about the matter concerning which they had assembled in the Sudhammā Hall,

and the Four Great Kings were advised and admonished on this matter as they stood by their seats unmoving. (513)

♦ te vuttavākyā rājāno, paṭiggayhānusāsaniṃ.

♦ vippasannamanā santā, aṭṭhaṃsu samhi āsaneti.

Các đại vương chấp nhận

Lời giảng dạy khuyến giáo.

Thanh thoát và an tịnh,

Ðứng bên chỗ mình ngồi.

The Kings, instructed, marked the words they spoke,

Standing calm, serene, beside their seats.

♦ 283. ‘atha kho, bhante, uttarāya disāya uḷāro āloko sañjāyi, obhāso pāturahosi atikkammeva devānaṃ devānubhāvaṃ. atha kho, bhante, sakko devānamindo deve tāvatiṃse āmantesi — “yathā kho, mārisā, nimittāni dissanti, uḷāro āloko sañjāyati, obhāso pātubhavati, brahmā pātubhavissati. brahmuno hetaṃ pubbanimittaṃ pātubhāvāya yadidaṃ āloko sañjāyati obhāso pātubhavatīti.

15. "Bạch Thế Tôn, rồi từ phương Bắc, một ánh sáng vi diệu khởi lên, một hào quang hiện ra, thắng xa oai lực của chư Thiên.

Bạch Thế Tôn rồi Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên: "Này các Thiện hữu, theo các hiện tượng được thấy, ánh sáng khởi lên, hào quang hiện ra như vậy báo hiệu Phạm thiên sẽ xuất hiện.

Vì hiện tượng báo hiệu Phạm thiên xuất hiện là ánh sáng khởi lên và hào quang hiện ra".

15. “‘And then, Lord, a glorious radiance shone forth from the north, and a splendour was seen greater than the sheen of the devas.

And Sakka said to the Thirty-Three Gods: ‘Gentlemen, when such signs are seen, such light is seen and such radiance shines forth, Brahmā will appear. (514)

The appearance of such radiance is the first sign of Brahmā’s approaching manifestation.’

♦ “yathā nimittā dissanti, brahmā pātubhavissati.

♦ brahmuno hetaṃ nimittaṃ, obhāso vipulo mahā”ti.

Theo hiện tượng được thấy,

Phạm thiên sẽ xuất hiện.

Hiện tượng đấng Phạm thiên,

Là hào quang vi diệu.

When they see these signs, Brahmā will soon appear:

This is Brahmā sign, radiance vast and great.

sanaṅkumārakathā (DN 18)    

♦ 284. ‘atha kho, bhante, devā tāvatiṃsā yathāsakesu āsanesu nisīdiṃsu — “obhāsametaṃ ñassāma, yaṃvipāko bhavissati, sacchikatvāva naṃ gamissāmā”ti. cattāropi mahārājāno yathāsakesu āsanesu nisīdiṃsu — “obhāsametaṃ ñassāma yaṃvipāko bhavissati, sacchikatvāva naṃ gamissāmā”ti. idaṃ sutvā devā tāvatiṃsā ekaggā samāpajjiṃsu — “obhāsametaṃ ñassāma, yaṃvipāko bhavissati, sacchikatvāva naṃ gamissāmā”ti.

16. "Bạch Thế Tôn, rồi chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi xuống trên ghế của mình và nói: "Chúng tôi sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy".

"Cũng vậy, bốn vị đại vương ngồi xuống trên ghế ngồi của mình và nói: "Chúng ta sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy".

Sau khi nghe vậy, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đều đồng một lòng một ý: "Chúng ta sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào, sau khi được biết, chúng ta sẽ đi gặp vị ấy".

16. ‘“Then the Thirty-Three Gods sat down each in his proper place, saying: ‘Let us find out what comes (515) of this radiance, and having found the truth of it, we will go towards it.’

The Four Great Kings, sitting down in their places, said [210] the same. Thus they were all agreed.

♦ ‘yadā, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṃ tāvatiṃsānaṃ pātubhavati, oḷārikaṃ attabhāvaṃ abhinimminitvā pātubhavati. yo kho pana, bhante, brahmuno pakativaṇṇo anabhisambhavanīyo so devānaṃ tāvatiṃsānaṃ cakkhupathasmiṃ. yadā, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṃ tāvatiṃsānaṃ pātubhavati, so aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā ca. seyyathāpi, bhante, sovaṇṇo viggaho mānusaṃ viggahaṃ atirocati; evameva kho, bhante, yadā brahmā sanaṅkumāro devānaṃ tāvatiṃsānaṃ pātubhavati, so aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā ca. yadā, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṃ tāvatiṃsānaṃ pātubhavati, na tassaṃ parisāyaṃ koci devo abhivādeti vā paccuṭṭheti vā āsanena vā nimanteti. sabbeva tuṇhībhūtā pañjalikā pallaṅkena nisīdanti — “yassadāni devassa pallaṅkaṃ icchissati brahmā sanaṅkumāro, tassa devassa pallaṅke nisīdissatī”ti.

17. "Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumãra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngài xuất hiện với một hóa tướng thô xấu. Bạch Thế Tôn, vì khi Phạm thiên tự nhiên hiện hóa, sắc tướng không đủ thù thắng để chư Thiên ở Tam thập tam thiên khâm phục.

Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng.

Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người,

cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tham thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng.

Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người,

cũng vậy bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra hiện ra trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng.

Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, không một vị Thiên nào trong chúng này đảnh lễ, đứng dậy hoặc mời vị Phạm thiên ngồi.

Tất cả đều yên lặng, chấp tay, không ngồi trên chỗ ngồi của mình và nghĩ: "Này, nếu Phạm thiên Sanamkumàra muốn gì với vị Thiên nào, thời hãy ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên ấy".

17. “‘Lord, whenever Brahmā Sanankumāra (516) appears to the Thirty-Three Gods, he appears having assumed a grosser form, because his natural appearance is not such as to be perceptible to their eyes. (517)

When he appears to the Thirty-Three Gods, he outshines other devas in radiance and glory,

just as a figure made of gold outshines the human figure.

And, Lord, when Brahmā Sanankumāra appears to the Thirty-Three Gods, not one of them salutes him, or rises, or offers him a seat.

They all sit silently with palms together, (518) cross legged, (519) thinking he will sit down on the couch (520) of that god from whom he wants something.

♦ ‘yassa kho pana, bhante, devassa brahmā sanaṅkumāro pallaṅke nisīdati, uḷāraṃ so labhati devo vedapaṭilābhaṃ; uḷāraṃ so labhati devo somanassapaṭilābhaṃ. seyyathāpi, bhante, rājā khattiyo muddhāvasitto adhunābhisitto rajjena, uḷāraṃ so labhati vedapaṭilābhaṃ, uḷāraṃ so labhati somanassapaṭilābhaṃ. evameva kho, bhante, yassa devassa brahmā sanaṅkumāro pallaṅke nisīdati, uḷāraṃ so labhati devo vedapaṭilābhaṃ, uḷāraṃ so labhati devo somanassapaṭilābhaṃ. atha, bhante, brahmā sanaṅkumāro oḷārikaṃ attabhāvaṃ abhinimminitvā kumāravaṇṇī {kumāravaṇṇo (syā. ka.)} hutvā pañcasikho devānaṃ tāvatiṃsānaṃ pāturahosi. so vehāsaṃ abbhuggantvā ākāse antalikkhe pallaṅkena nisīdi. seyyathāpi, bhante, balavā puriso supaccatthate vā pallaṅke same vā bhūmibhāge pallaṅkena nisīdeyya; evameva kho, bhante, brahmā sanaṅkumāro vehāsaṃ abbhuggantvā ākāse antalikkhe pallaṅkena nisīditvā devānaṃ tāvatiṃsānaṃ sampasādaṃ viditvā imāhi gāthāhi anumodi —

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, như vị vua Sát-đế-lỵ vừa mới làm lễ quán đảnh và lên vương vị, vị ấy sẽ vô cùng sảng khoái, vô cùng hoan hỷ.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ.

18. "Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện với hình tượng thô xấu, hiện thành một đồng tử tên là Pancasikha (Ngũ Kế) trước mặt chư Thiên ở Tam thập tam thiên.

Bay bổng lên trời, vị này ngồi kiết-già giữa hư không. Bạch Thế Tôn, như một vị lực sĩ ngồi kiết-già trên một chỗ ngồi được trải bằng phẳng hay trên một mặt đất thăng bằng,cũng vậy bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra bay bổng trên trời, ngồi kiết-già trên hư không, thấy được sự an tịnh của chư Thiên ở Tam thập tam thiên liền nói lên sự hoan hỷ của mình bằng bài kệ sau đây:

And the one on whose couch he sits down is as thrilled and delighted as a duly-anointed Khattiya king on assuming his royal office. [211]

18. ‘“Then, Lord, Brahmā Sanankumāra, having assumed a grosser form, appeared to the Thirty-Three Gods in the shape of the youth Pañcasikha. (521)

Rising up in the air, he appeared floating cross-legged, just as a strong man might sit down on a properly-spread couch or on the ground. And seeing the delight of the ThirtyThree Gods, he uttered these verses of rejoicing:

♦ “modanti vata bho devā, tāvatiṃsā sahindakā.

♦ tathāgataṃ namassantā, dhammassa ca sudhammataṃ.

♦ “nave deve ca passantā, vaṇṇavante yasassine.

♦ sugatasmiṃ brahmacariyaṃ, caritvāna idhāgate.

♦ “te aññe atirocanti, vaṇṇena yasasāyunā.

♦ sāvakā bhūripaññassa, visesūpagatā idha.

♦ “idaṃ disvāna nandanti, tāvatiṃsā sahindakā.

♦ tathāgataṃ namassantā, dhammassa ca sudhammatan”ti.

Chư Tam thập tam thiên

Cùng Ðế-thích hoan hỷ,

Ðảnh lễ bậc Như Lai,

Cùng Chánh pháp vi diệu.

Thấy Thiên chúng tân sanh

Quang sắc thật thù thắng,

Các vị sống Phạm hạnh

Hay sanh tại cõi này.

Chúng thắng về quang sắc

Thọ mạng và danh xưng,

Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,

Thù thắng sanh cõi này.

Chư Tam thập tam thiên

Cùng Ðế-thích hoan hỷ,

Ðảnh lễ bậc Như Lai

Cùng Chánh pháp vi diệu.

‘The gods of Thirty-Three rejoice, their leader too,

Praising the Tathāgata, and Dhamma’s truth,

Seeing new-come devas, fair and glorious

Who’ve lived the holy life, now well reborn.

Outshining all the rest in fame and splendour,

The mighty Sage’s pupils singled out.

Seeing this, the Thirty-Three rejoice, their leader too,

Praising the Tathāgata, and Dhamma’s truth.’

♦ 285. ‘imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha; imamatthaṃ, bhante, brahmuno sanaṅkumārassa bhāsato aṭṭhaṅgasamannāgato saro hoti vissaṭṭho ca viññeyyo ca mañju ca savanīyo ca bindu ca avisārī ca gambhīro ca ninnādī ca. yathāparisaṃ kho pana, bhante, brahmā sanaṅkumāro sarena viññāpeti; na cassa bahiddhā parisāya ghoso niccharati. yassa kho pana, bhante, evaṃ aṭṭhaṅgasamannāgato saro hoti, so vuccati “brahmassaro”ti.

19. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung lời nói của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, tiếng nói của Phạm thiên Sanamkumàra có tám đặc điểm sau đây: lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động.

Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi đại chúng. Bạch Thế Tôn, một tiếng nói có tám đặc điểm như vậy gọi là Phạm âm.

19. “‘Now to the matter of Brahmā Sanankumāra’s speech, and as for the manner of his speech, his voice had eight qualities: it was distinct, intelligible, pleasant, attractive, compact, concise, deep and resonant.

And when he spoke in that voice to the assembly, its sound did not carry outside. Whoever has such a voice a  that is said to have the voice of Brahmā.

♦ ‘atha kho, bhante, brahmā sanaṅkumāro tettiṃse attabhāve abhinimminitvā devānaṃ tāvatiṃsānaṃ paccekapallaṅkesu pallaṅkena {paccekapallaṅkena (ka.)} nisīditvā deve tāvatiṃse āmantesi — “taṃ kiṃ maññanti, bhonto devā tāvatiṃsā, yāvañca so bhagavā bahujanahitāya paṭipanno bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. ye hi keci, bho, buddhaṃ saraṇaṃ gatā dhammaṃ saraṇaṃ gatā saṅghaṃ saraṇaṃ gatā sīlesu paripūrakārino te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā appekacce paranimmitavasavattīnaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjanti, appekacce nimmānaratīnaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjanti, appekacce tusitānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjanti, appekacce yāmānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjanti, appekacce tāvatiṃsānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjanti, appekacce cātumahārājikānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjanti. ye sabbanihīnaṃ kāyaṃ paripūrenti, te gandhabbakāyaṃ paripūrentī’”ti.

20. "Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra, tự hiện hóa ba mươi hóa thân, mỗi thân ngồi kiết già trên mỗi chỗ ngồi của chư Thiên ở Tam thập tam thiên và nói với chư Thiên, này như sau:

"- Này Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Thế Tôn phục vụ cho hạnh phúc chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Chư Thiện hữu, những ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và giữ trọn giới luật, những vị này khi thân hoại mệnh chung,

một số được sanh lên Thiên chúng Parinimiitta - Vasavati (Tha Hóa Tự tại thiên),

một số được sanh lên Thiên chúng Nimmànaratì (Hóa Lạc thiên);

một số được sanh lên Thiên chúng Tusità (Ðâu-suất thiên),

một số được sanh lên Thiên chúng Yàmà (Dạ-ma-thiên),

một số được sanh lên Thiên chúng Tà-vatimsà (Tam thập tam thiên),

một số được sanh lên Thiên chúng Catumàràjikà (Tứ Thiên vương thiên),

những ai phải điền vào cho đủ số hạ phẩm nhất được sanh vào chúng Gandhabba (Càn-thát-bà).

20. “‘And Brahmā Sanankumāra, multiplying his shape by thirty-three, [212] sat down cross-legged on each individual couch of the Thirty-Three, and said:

What do my lords the Thirty-Three think? Since the Lord, out of compassion for the world and for the benefit and happiness of the many, has acted to the advantage of devas and mankind,

those, whoever they may be, who have taken refuge in the Buddha, the Dhamma and the Sangha and have observed the moral precepts (522) have, at death and the breaking-up of the body,

arisen in the company of the Parinimmita-Vāsavatī devas, (523)

or the Nimmanaratti devas,

or the Tusita devas,

or the Yāma devas,

or in the retinue of the Thirty-Three Gods,

or of the Four Great Kings —

or at the very least in the company of the gandhabbas .’ (524)

♦ 286. ‘imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha; imamatthaṃ, bhante, brahmuno sanaṅkumārassa bhāsato ghosoyeva devā maññanti — “yvāyaṃ mama pallaṅke svāyaṃ ekova bhāsatī”ti.

21. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, giọng nói của Phạm thiên Sanamkumàra về vấn đề này được nói một cách khiến mỗi vị Thiên nghĩ rằng: "Vị ngồi trên chỗ ngồi của ta, chỉ vị ấy nói mà thôi".

21. ‘“This was the burden of Brahmā Sanankumāra’s speech. And every one of the gods he spoke to thought: ‘He is sitting on my couch, he is speaking to me alone.’

♦ ekasmiṃ bhāsamānasmiṃ, sabbe bhāsanti nimmitā.

♦ ekasmiṃ tuṇhimāsīne, sabbe tuṇhī bhavanti te.

♦ tadāsu devā maññanti, tāvatiṃsā sahindakā.

♦ yvāyaṃ mama pallaṅkasmiṃ, svāyaṃ ekova bhāsatīti.

Chỉ một Phạm thiên nói,

Mọi hóa thân đều nói,

Chỉ một vị im lặng,

Tất cả đều im lặng.

Chư Tam thập tam thiên,

Cùng Ðế-thích nghĩ rằng:

Chỉ vị ngồi chỗ ta,

Chỉ vị ấy riêng nói.

All the forms assumed with one voice speak,

And having spoken, all at once are silent.

And so the Thirty-Three, their leader too,

Each thinks: ‘He speaks to me alone.’

♦ ‘atha kho, bhante, brahmā sanaṅkumāro ekattena attānaṃ upasaṃharati, ekattena attānaṃ upasaṃharitvā sakkassa devānamindassa pallaṅke pallaṅkena nisīditvā deve tāvatiṃse āmantesi —

22. "Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra thâu nhiếp tất cả thân thành một thân, sau khi thâu nhiếp, liền ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka và nói với Thiên chúng ở Tam thập tam thiên:

22. ‘“Then Brahma Sanankumara assumed a single form; (525) then he sat down on [213] the couch of Sakka and said: 

bhāvitaiddhipādo (DN 18)    

♦ 287. “‘taṃ kiṃ maññanti, bhonto devā tāvatiṃsā, yāva supaññattā cime tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro iddhipādā paññattā iddhipahutāya {iddhibahulīkatāya (syā.)} iddhivisavitāya {iddhivisevitāya (syā.)} iddhivikubbanatāya. katame cattāro? idha bho bhikkhu chandasamādhippadhāna-saṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. vīriyasamādhippadhāna-saṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. cittasamādhippadhāna-saṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. vīmaṃsāsamādhippadhāna-saṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. ime kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro iddhipādā paññattā iddhipahutāya iddhivisavitāya iddhivikubbanatāya.

"- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào?

Bốn pháp thần túc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, khéo léo giải thích để thần thông được sung mãn, để thần thông được thuần thục, để thần thông được thi thiết.

Thế nào là bốn? Ở đây, vị Tỷ-kheo

tu tập thần túc, câu hữu dục, thiền định tinh cần hành...

tinh tấn thiền định...

tâm thiền định...

tu tập thần túc, câu hữu với tư duy thiền định, tinh cần hành.

Bốn pháp thần túc này đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác khéo léo giải thích để thần thông được sung mãn, để thần thông được thuần thục, để thần thông được thi thiết.

‘What do my lords the Thirty-Three think?

This Lord, the Arahant supreme Buddha has known and seen the four roads to power, (526) and how to develop, perfect and practise them.

What four? Here a monk develops

concentration of intention accompanied by effort of will,

concentration of energy...,

concentration of consciousness...,

and concentration of investigation accompanied by effort of will.

These are the four roads to power...

♦ “‘ye hi keci bho atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhosuṃ, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. yepi hi keci bho anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhossanti, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. yepi hi keci bho etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhonti, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. passanti no bhonto devā tāvatiṃsā mamapimaṃ evarūpaṃ iddhānubhāvan”ti? “evaṃ mahābrahme”ti. “ahampi kho bho imesaṃyeva catunnañca iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā evaṃ mahiddhiko evaṃmahānubhāvo”ti. imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha. imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsitvā deve tāvatiṃse āmantesi —

Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều tu tập và phát triển thần túc này.

Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều sẽ tu tập và phát triển bốn pháp thần túc này.

Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều tu tập và phát triển bốn pháp thần túc này.

Này chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị có thấy ở nơi tôi thần lực như vậy không?

"- Có như vậy, Phạm thiên!

"- Chư Thiện hữu, tôi nhờ tu tập và phát triển bốn thần túc này mà nay thành tựu đại thần lực như vậy, đại uy đức như vậy.

23. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

And whatever ascetics or Brahmins have in the past realised such powers in different ways, they have all developed and strongly practised these four ways, and the same applies to all who may in the future, or who do now realise such powers.

Do my lords the Thirty-Three observe such powers in me?’

‘Yes, Brahmā.’

‘Well, I too have developed and strongly practised [214] these four ways.’

23. ‘“This was the burden of Brahma Sanankumāra’s speech. He went on:

tividho okāsādhigamo (DN 18)    

♦ 288. “‘taṃ kiṃ maññanti, bhonto devā tāvatiṃsā, yāvañcidaṃ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tayo okāsādhigamā anubuddhā sukhassādhigamāya. katame tayo? idha bho ekacco saṃsaṭṭho viharati kāmehi saṃsaṭṭho akusalehi dhammehi. so aparena samayena ariyadhammaṃ suṇāti, yoniso manasi karoti, dhammānudhammaṃ paṭipajjati. so ariyadhammassavanaṃ āgamma yonisomanasikāraṃ dhammānudhammappaṭipattiṃ asaṃsaṭṭho viharati kāmehi asaṃsaṭṭho akusalehi dhammehi. tassa asaṃsaṭṭhassa kāmehi asaṃsaṭṭhassa akusalehi dhammehi uppajjati sukhaṃ, sukhā bhiyyo somanassaṃ. seyyathāpi, bho, pamudā pāmojjaṃ {pāmujjaṃ (pī. ka.)} jāyetha, evameva kho, bho, asaṃsaṭṭhassa kāmehi asaṃsaṭṭhassa akusalehi dhammehi uppajjati sukhaṃ, sukhā bhiyyo somanassaṃ. ayaṃ kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena paṭhamo okāsādhigamo anubuddho sukhassādhigamāya.

"- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, quý vị nghĩ thế nào? Ba con đường tắt hướng đến an lạc đã được Thế Tôn bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ. Thế nào là ba?

"Chư Thiện hữu, ở đây có người thân cận dục lạc, thân cận bất thiện pháp.

Sau một thời gian, vị nào được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Và khi nghe được Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp vị này sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp.

Nhờ sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, như từ thoải mái, hỷ duyệt sanh,

cũng vậy, Chư thiện hữu nhờ sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên.

Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ nhất hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.

‘What do my lords of the Thirty-Three think? There are three gateways to the bliss proclaimed by the Lord who knows and sees. What are they?

In the first place someone dwells in association with sense-desires, with unwholesome conditions.

At some time he hears the Ariyan Dhamma, he pays close attention and practises in conformity with it. By so doing he comes to live dissociated from such sense-desires and unwholesome conditions.

As a result of this dissociation, pleasant feeling (527) arises, and what is more, gladness. (528)

Just as pleasure might give birth to rejoicing, so from pleasant feeling he experiences gladness.

♦ “‘puna caparaṃ, bho, idhekaccassa oḷārikā kāyasaṅkhārā appaṭippassaddhā honti, oḷārikā vacīsaṅkhārā appaṭippassaddhā honti, oḷārikā cittasaṅkhārā appaṭippassaddhā honti. so aparena samayena ariyadhammaṃ suṇāti, yoniso manasi karoti, dhammānudhammaṃ paṭipajjati. tassa ariyadhammassavanaṃ āgamma yonisomanasikāraṃ dhammānudhammappaṭipattiṃ oḷārikā kāyasaṅkhārā paṭippassambhanti, oḷārikā vacīsaṅkhārā paṭippassambhanti, oḷārikā cittasaṅkhārā paṭippassambhanti. tassa oḷārikānaṃ kāyasaṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā oḷārikānaṃ vacīsaṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā oḷārikānaṃ cittasaṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā uppajjati sukhaṃ, sukhā bhiyyo somanassaṃ. seyyathāpi, bho, pamudā pāmojjaṃ jāyetha, evameva kho bho oḷārikānaṃ kāyasaṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā oḷārikānaṃ vacīsaṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā oḷārikānaṃ cittasaṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā uppajjati sukhaṃ, sukhā bhiyyo somanassaṃ. ayaṃ kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyo okāsādhigamo anubuddho sukhassādhigamāya.

24. "Chư Thiện hữu, lại nữa ở đây có người thân hành thô lậu, chưa được an tịnh, khẩu hành thô lậu... ý hành thô lậu chưa được an tịnh, sau một thời gian vị này được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp.

Sau khi được nghe Thánh pháp, thân hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành thô lậu của vị này... ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành... ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên.

Chư Thiện hữu, nhờ từ thoải mái, hỷ duyệt sanh, cũng vậy chư Thiện hữu, nhờ thân hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành... ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên.

Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ hai hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.

24. ‘“‘In the second place there is someone in whom the gross tendencies (529) of body, speech and thought are not allayed.

At some time he hears the Ariyan Dhamma, ... and his gross tendencies of body, speech and [215] thought are allayed.

As a result of this allaying, pleasant feeling arises, and what is more, gladness...

♦ “‘puna caparaṃ, bho, idhekacco ‘idaṃ kusalan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti, ‘idaṃ akusalan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti. ‘idaṃ sāvajjaṃ idaṃ anavajjaṃ, idaṃ sevitabbaṃ idaṃ na sevitabbaṃ, idaṃ hīnaṃ idaṃ paṇītaṃ, idaṃ kaṇhasukkasappaṭibhāgan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti. so aparena samayena ariyadhammaṃ suṇāti, yoniso manasi karoti, dhammānudhammaṃ paṭipajjati. so ariyadhammassavanaṃ āgamma yonisomanasikāraṃ dhammānudhammappaṭipattiṃ, ‘idaṃ kusalan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘idaṃ akusalan’ti yathābhūtaṃ pajānāti. idaṃ sāvajjaṃ idaṃ anavajjaṃ, idaṃ sevitabbaṃ idaṃ na sevitabbaṃ, idaṃ hīnaṃ idaṃ paṇītaṃ, idaṃ kaṇhasukkasappaṭibhāgan’ti yathābhūtaṃ pajānāti. tassa evaṃ jānato evaṃ passato avijjā pahīyati, vijjā uppajjati. tassa avijjāvirāgā vijjuppādā uppajjati sukhaṃ, sukhā bhiyyo somanassaṃ. seyyathāpi, bho, pamudā pāmojjaṃ jāyetha, evameva kho, bho, avijjāvirāgā vijjuppādā uppajjati sukhaṃ, sukhā bhiyyo somanassaṃ. ayaṃ kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyo okāsādhigamo anubuddho sukhassādhigamāya. ime kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tayo okāsādhigamā anubuddhā sukhassādhigamāyā”ti. imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha, imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsitvā deve tāvatiṃse āmantesi —

25. "Chư Thiện hữu, lại nữa ở đây có người không như thật biết: "Ðây là thiện", không như thật biết: "Ðây là bất thiện", không như thật biết: "Ðây là có tội", "Ðây là không tội", "đây là hạ liệt", "đây là cao thượng", "đây là đen trắng đồng đều". Sau một thời gian, vị này được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp.

Sau khi được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp, vị này như thật biết: "Ðây là thiện", như thật biết: "Ðây là bất thiện", như thật biết: "Ðây là có tội", "đây là không tội", "đây cần phải thuận theo", "đây cần phải né tránh", "đây là hạ liệt", "đây là cao thượng", "đây là đen trắng đồng đều".

Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, vô minh của vị này được trừ diệt, minh được sanh khởi. Vị này nhờ vô minh được trừ diệt và minh sanh khởi, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ ba hướng đến an lạc, đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.

"Chư Thiện hữu, đó là ba con đường tắt hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.

26. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

25. ‘“‘In the third place there is someone who really does not knew what is right and what is wrong, what is blameworthy and what is not, what is to be practised and what is not, what is base and what is noble, and what is foul, fair or mixed in quality.

At some time he hears the Ariyan Dhamma, he pays dose
 attention and practises in conformity with it.

As a result, he comes to know in reality what is right and wrong, what is blameworthy and what is not, what is to be practised and what is not, what is base and what is noble, and what is foul, fair or mixed in quality.

In him who knows and sees thus, ignorance is dispelled and knowledge arises. With the waning of ignorance and the arising of knowledge, pleasant feeling arises, and what is more, gladness.

Just as pleasure might give birth to rejoicing, so from pleasant feeling he experiences gladness. [216]

These are the three gateways to the bliss proclaimed by the Lord who knows and sees.’

26. ‘“This was the burden of Brahmā Sanankumāra’s speech. He went on:

catusatipaṭṭhānaṃ (DN 18)    
♦ 289. “‘taṃ kiṃ maññanti, bhonto devā tāvatiṃsā, yāva supaññattā cime tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro satipaṭṭhānā paññattā kusalassādhigamāya. katame cattāro? idha, bho, bhikkhu ajjhattaṃ kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ajjhattaṃ kāye kāyānupassī viharanto tattha sammā samādhiyati, sammā vippasīdati. so tattha sammā samāhito sammā vippasanno bahiddhā parakāye ñāṇadassanaṃ abhinibbatteti. ajjhattaṃ vedanāsu vedanānupassī viharati ... pe ... bahiddhā paravedanāsu ñāṇadassanaṃ abhinibbatteti. ajjhattaṃ citte cittānupassī viharati ... pe ... bahiddhā paracitte ñāṇadassanaṃ abhinibbatteti. ajjhattaṃ dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ajjhattaṃ dhammesu dhammānupassī viharanto tattha sammā samādhiyati, sammā vippasīdati. so tattha sammā samāhito sammā vippasanno bahiddhā paradhammesu ñāṇadassanaṃ abhinibbatteti. ime kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro satipaṭṭhānā paññattā kusalassādhigamāyā”ti. imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha. imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsitvā deve tāvatiṃse āmantesi —

"- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Bốn Niệm xứ hướng đến chơn thiện đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.

Thế nào là bốn? Chư Thiện hữu, ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Nhờ sống quán thân trên nội thân vị này được chánh định và chánh an tịnh. Nhờ tâm chánh định và chánh an tịnh ở nơi đây, tri kiến được sanh khởi đối với các thân khác ngoài tự thân.

Vị Tỷ-kheo sống quán các cảm thọ từ nội thân... quán tâm... quán pháp đối với các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Nhờ sống quán pháp đối với các pháp, tâm được chánh định và chánh an tịnh. Nhờ tâm chánh định và chánh an tịnh ở nơi đây, tri kiến được sanh khởi, đối với các pháp khác.

"Chư Thiện hữu, bốn Niệm xứ này hướng đến chơn thiện đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ".

27. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

‘What do my lords of the Thirty-Three think? How well has the Lord Buddha who knows and sees pointed out the four foundations of mindfulness (530) for the attainment of that which is good!

What are they? Here a monk abides contemplating the body as body, earnestly, clearly aware, mindful and having put away all hankering and fretting for the world.

As he thus dwells contemplating his own body as body, he becomes perfectly concentrated and perfectly serene. Being thus calm and serene, he gains knowledge and vision externally of the bodies of others. (531)

He abides contemplating his own feelings as feelings,... he abides contemplating his own mind as mind, ... he abides contemplating his own mind-objects as mind-objects, earnestly, clearly aware, mindful and having put away all hankering and fretting for the world.

As he thus dwells contemplating his own mind-objects as mind-objects, he becomes perfectly concentrated and perfectly serene. Being thus calm and serene, he gains knowledge and vision externally of the mind-objects of others.

These are the four foundations of mindfulness well pointed out by the Lord Buddha who knows and sees, for the attainment of that which is good.’

27. ‘“This was the burden of Brahmā Sanankumāra’s speech. He went on:

satta samādhiparikkhārā (DN 18)    

♦ 290. “‘taṃ kiṃ maññanti, bhonto devā tāvatiṃsā, yāva supaññattā cime tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena satta samādhiparikkhārā sammāsamādhissa paribhāvanāya sammāsamādhissa pāripūriyā. katame satta? sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati. yā kho, bho, imehi sattahaṅgehi cittassa ekaggatā parikkhatā, ayaṃ vuccati, bho, ariyo sammāsamādhi saupaniso itipi saparikkhāro itipi. sammādiṭṭhissa bho, sammāsaṅkappo pahoti, sammāsaṅkappassa sammāvācā pahoti, sammāvācassa sammākammanto pahoti. sammākammantassa sammāājīvo pahoti, sammāājīvassa sammāvāyāmo pahoti, sammāvāyāmassa sammāsati pahoti, sammāsatissa sammāsamādhi pahoti, sammāsamādhissa sammāñāṇaṃ pahoti, sammāñāṇassa sammāvimutti pahoti. yañhi taṃ, bho, sammā vadamāno vadeyya — ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhi apārutā amatassa dvārā’ti idameva taṃ sammā vadamāno vadeyya. svākkhāto hi, bho, bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhi apārutā amatassa dvārā {dvārāti (syā. ka.)}.

"- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào về bảy pháp Ðịnh tư lương (Samàdhi-parikkhàrà) để tu hành chánh định, để kiện toàn thiền định, đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ?

Thế nào là bảy? Như chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm.

Chư Thiện hữu, nhứt cảnh tánh của tâm do bảy chi này sửa soạn, được gọi là thánh chánh định cùng với các y chỉ và dùng với các tư lương. Chư Thiện hữu,

chánh tư duy vừa đủ để chánh tri kiến sanh khởi,

chánh ngữ vừa đủ để chánh tư duy sanh khởi,

chánh nghiệp vừa đủ để chánh ngữ sanh khởi,

chánh mạng vừa đủ để chánh nghiệp sanh khởi,

chánh tinh tấn vừa đủ để chánh mạng sanh khởi,

chánh niệm vừa đủ để chánh tinh tấn sanh khởi,

chánh định vừa đủ để chánh niệm sanh khởi,

chánh trí vừa đủ để chánh định sanh khởi,

chánh giải thoát vừa đủ để chánh trí sanh khởi.

"Chư Thiện hữu, nếu có người nói lời chánh ngữ sau đây: "Chánh pháp đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, pháp ấy có kết quả ngay trong hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, hướng dẫn đến đích, được những người có trí tự mình giác hiểu, cửa bất tử được rộng mở". Nói như vậy là chánh ngữ.

Chư Thiện hữu, vì chánh pháp thật sự đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, pháp ấy có kết quả ngay trong hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, hướng dẫn đến đích, được những người có trí tự mình giác hiểu, cửa bất tử được rộng mở.

‘What do my lords of the Thirty-Three think? How well has the Lord Buddha who knows and sees pointed out the seven requisites of concentration, for the development of perfect concentration and the perfection of concentration!

What are they? They are right view, right thought, right speech, right action, right [217] livelihood, right effort, right mindfulness. (532)

That one-pointedness of mind that is produced by these seven factors is called the Ariyan right concentration with its bases and requisites.

From right view arises right thought,

from right thought arises right speech,

from right speech arises right action,

from right action arises right livelihood,

from right livelihood arises right effort,

from right effort arises right mindfulness,

from right mindfulness arises right concentration,

from right concentration arises right knowledge, (533)

from right knowledge arises right liberation. (534)

If anyone truthfully declaring:

“Well-proclaimed by the Lord is the Dhamma, visible here and now, timeless, inviting inspection, leading onward, to be comprehended by the wise each one for himself”, were to say: “Open are the doors of the Deathless!” (535) he would be speaking in accordance with the highest truth.

For indeed, my lords, the Dhamma is well-proclaimed by the Lord, visible here and now, timeless, inviting inspection, leading onward, to be comprehended by the wise, each one for him or herself, and, too, the doors to the Deathless are open!

♦ “‘ye hi keci, bho, buddhe aveccappasādena samannāgatā, dhamme aveccappasādena samannāgatā, saṅghe aveccappasādena samannāgatā, ariyakantehi sīlehi samannāgatā, ye cime opapātikā dhammavinītā sātirekāni catuvīsatisatasahassāni māgadhakā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā. atthi cevettha sakadāgāmino.

"Chư Thiện hữu, những ai tin tưởng Phật không có thối chuyển, tin tưởng Pháp không có thối chuyển, tin tưởng Tăng không có thối chuyển, đầy đủ giới hạnh khiến bậc Thánh hoan hỷ, tất cả những vị được hóa sanh được Chánh pháp hướng dẫn,

hơn hai trăm bốn mươi vạn vị cư sĩ ở Magadha đã từ trần mệnh chung, những vị này đều diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, không còn đọa vào ác thú, chắc chắn đạt đến chánh giác. Lại có những vị Nhất lai:

“Those who have unshakeable faith in the Buddha, the Dhamma and the Sangha, and are endowed with the virtues pleasing to the Noble Ones, [218] those beings who have arisen here on account of their Dhamma-training,

amounting to more than twenty-four hundred Magadhan followers who have passed over, have by the destruction of three fetters become Stream-Winners, incapable of falling into states of woe and certain of enlightenment, and indeed there are Once-Returners here too.

♦ “atthāyaṃ {athāyaṃ (sī. syā.)} itarā pajā, puññābhāgāti me mano.

♦ saṅkhātuṃ nopi sakkomi, musāvādassa ottappan”ti.

Với hạng chúng sanh này

Ước lượng phần công đức.

Không thể ước lượng được

Sợ phạm tội vọng ngữ.

But of that other race indeed

Of greater merit still, my mind

Can make no reckoning at all,

For fear that I should speak untruth.’ (536)

♦ 291. ‘imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha, imamatthaṃ, bhante, brahmuno sanaṅkumārassa bhāsato vessavaṇassa mahārājassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi — “acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho, evarūpopi nāma uḷāro satthā bhavissati, evarūpaṃ uḷāraṃ dhammakkhānaṃ, evarūpā uḷārā visesādhigamā paññāyissantī”ti. atha, bhante, brahmā sanaṅkumāro vessavaṇassa mahārājassa cetasā cetoparivitakkamaññāya vessavaṇaṃ mahārājānaṃ etadavoca — “taṃ kiṃ maññati bhavaṃ vessavaṇo mahārājā atītampi addhānaṃ evarūpo uḷāro satthā ahosi, evarūpaṃ uḷāraṃ dhammakkhānaṃ, evarūpā uḷārā visesādhigamā paññāyiṃsu. anāgatampi addhānaṃ evarūpo uḷāro satthā bhavissati, evarūpaṃ uḷāraṃ dhammakkhānaṃ, evarūpā uḷārā visesādhigamā paññāyissantī’”ti.

28. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, được biết nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra, đại vương Vessavana khởi lên suy tư sau đây: "Chư Thiện hữu, thật là kỳ diệu!

Chư Thiện hữu, thật là hy hữu, được có một Ðại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, được một con đường đặc biệt như vậy".

"Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra tự tâm mình biết được tâm trí của đại vương Vessavana như vậy, liền thưa với đại vương:

"- Ðại vương Vessavana nghĩ như thế nào? Trong thời quá khứ đã có một Ðại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, đã được trình bày một con đường đặc biệt như vậy...

Trong thời gian tương lai, sẽ có một Ðại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, sẽ được trình bày một con đường đặc biệt như vậy".

28. ‘“This was the burden of Brahma Sanankumāra’s speech. And in connection with this the Great King Vessavana reflected in his mind:

‘It is marvellous, it is wonderful, that such a gloriou Teacher should arise, that there should be such a glorious proclamation of Dhamma, and that such glorious paths to the sublime should be made known!’

Then Brahmā Sanankumāra, reading King Vessavana’s mind, said to him:

‘What do you think, King Vessavana? There has been such a glorious Teacher in the past, and such a proclamation, and such paths made known,

and there will be again in the future.’”’

♦ 292. “‘imamatthaṃ, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṃ tāvatiṃsānaṃ abhāsi, imamatthaṃ vessavaṇo mahārājā brahmuno sanaṅkumārassa devānaṃ tāvatiṃsānaṃ bhāsato sammukhā sutaṃ {sutvā (sī. pī.)} sammukhā paṭiggahitaṃ sayaṃ parisāyaṃ ārocesi”.

29. Ðó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Ðại vương Vessavana sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, liền nói với chúng của mình.

29. Such was the burden of what Brahmā Sanankumāra proclaimed to the Thirty-Three Gods. And the Great King Vessavana, [219] having heard and received it in person, related it to his followers.

♦ imamatthaṃ janavasabho yakkho vessavaṇassa mahārājassa sayaṃ parisāyaṃ bhāsato sammukhā sutaṃ sammukhā paṭiggahitaṃ {paṭiggahetvā (sī. pī.)} bhagavato ārocesi. imamatthaṃ bhagavā janavasabhassa yakkhassa sammukhā sutvā sammukhā paṭiggahetvā sāmañca abhiññāya āyasmato ānandassa ārocesi, imamatthamāyasmā ānando bhagavato sammukhā sutvā sammukhā paṭiggahetvā ārocesi bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ. tayidaṃ brahmacariyaṃ iddhañceva phītañca vitthārikaṃ bāhujaññaṃ puthubhūtaṃ yāva devamanussehi suppakāsitanti.

janavasabhasuttaṃ niṭṭhitaṃ pañcamaṃ.

Dạ-xoa Janavasabha sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của đại vương Vessavana nói với hội chúng, liền bạch lại với Thế Tôn.

Thế Tôn sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Dạ-xoa Janavasabha, và sau khi tự mình chứng tri liền nói lại cho tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Thế Tôn liền nói lại cho chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ.

Phạm hạnh này được hưng thịnh, được quảng bá, được truyền rộng cho đại chúng càng ngày càng đông, vì được khéo léo trình bày cho loài Người.

And the yakkha Janavasabha, having heard it himself, related it to the Lord.

And the Lord, having heard it himself and also come to know it by his own super-knowledge, related it to the Venerable Ānanda, who in turn related it to the monks and nuns, the male and female lay-followers.

And so the holy life waxed mighty and prospered and spread widely as it was proclaimed among mankind.

 

 

Notes: The numbers in square brackets [ ] in the actual text refer to the page number of the Dīgha Nikāya of the Pali Text Society's edition in Pali.

 

(497). Cf. DN 16.2.5ff and n.373.

(498). Cf. DN 16.2.7. RD considers, probably rightly, that the DN 16 passage is the older. There, no mention was made of Magadhan devotees, and one purpose of this Sutta is to remedy that omission.

(499). A curious remark, considering that Ananda had been present at the Lord’s ‘report’.

(500). Killed, of course, by his son Ajātasattu.

(501). This rings true as a veiled criticism of Ajātasattu.

(502). The Buddha did not, of course, claim the immediate kind (or indeed any kind) of omniscience, as other teachers did. But in view of his immediate response at DN 16.2.7, he seems to be making rather heavy weather of this.

(503). Yakkhas are generally thought of as unpleasant creatures like demons or ogres. In fact they are curiously ambivalent (as Mrs Rhys Davids’ term for them, ‘fairy’ suggests). The matter is largely explained by King Vessavana, who (as we know from this sutta too) is their ruler, at DN 32.2. But see also DN 23.23, and article Yakkha in DPPN.

(504). Lit. ‘Bull (i.e. hero) of the People’.

(505). The ‘Great King’ of the North.

(506). A Stream-Winner. The seven human births indicate the maximum number of births a Stream-Winner can take. Hence the ʹdesireʹ arising in him to go on to the next stage. But why should the Buddha be so surprised at his awareness of having gained such a ‘specific attainmentʹ? His answer seems to be entirely in keeping with the ‘Mirror of Dhammaʹ test mentioned by the Buddha at DN 16.2.8.

(507). The ‘Great King’ of the South. It is curious that a king should be sent as a messenger in this way.

(508). The two reasons, as RD points out, are (1) the fact that Vessavana had made a statement on this very subject, and (2) that he had been aware that the Buddha (whose mind he could read!) was pondering the same subject. This also conforms to the Buddha’s statement at various places (e.g. DN 14.1.15) that he knows certain things both by his own knowledge and because devas have told him.

(509). Vassa: the annual three-monthly retreat during the rainy season.

(510). ‘Hall of Good Counsel’ (RD).

(511). For a fuller account of him and the other ‘Great Kings’ (who actually preside over the lowest of the heavens, only just above the human realm), see DN 32.

(512). The asuras suffered a decline in India, compared with the Persian ahura. They are at war with the devas, and hence are sometimes termed by Western scholars ‘titans’. Since humans can be reborn in either camp (see DN 24.1.7 for an example of one born among the asuras), it is natural that the devas should rejoice at the accession to their ranks through the Buddha’s disciples.

(513). They seem, as RD notes (to a later passage, DN 19.14) to have been the recorders of the proceedings at assemblies of the Thirty-Three Gods. They had to memorise what was decided. RD draws the inference that this was also done at real assemblies in the India of the time.

(514). Cf. DN 11.80.

(515). Vipāka: not here, as usually, in the technical sense of ‘result of kamma’, but (a rare usage) ‘outcome in general’.

(516). ‘Ever virgin’ (or ‘ever young’). One of the five sons of Brahma according to legend.

(517). An indirect way of exalting the Buddha: Brahma is so vastly superior to the Thirty-Three Gods, and yet he is inferior to the Buddha, and knows it.

(518). The añjali gesture of veneration or greeting, still used in India and Buddhist countries — frequently mistaken by Westerners for a gesture of prayer (which, for Theravāda Buddhism at least, is inappropriate).

(519). Pallankena: instrumental case of pallanka ‘in a crosslegged position’.

(520). Pallanka is also the couch on which one sits crosslegged. Cf. n.32.

(521). Cf. DN 21.2 (and DN 19.1). DA says Brahma adopted this form because all the devas loved Pañcasikha.

(522). Phrase omitted by RD- though it is an important qualification!

(523). For all of these groups, see Introduction, p. 38f.

(524). Celestial musicians (cf. n.26). As attendants on the devas of the Realm of the Four Great Kings, they were the lowest grade of beings in the heavenly worlds. For a monk to be reborn among them was shameful: cf. DN 21.1iff. It should be noted that the gandhabba mentioned in MN 38 as being present at the time of conception is not the same. The term there means ‘one about to be born’: see I.B. Homer’s note, MLS i, p. 321, n.6.

(525). RD mistranslates: ‘betook himself to one end [of the Hall]’.

(526). Defined at Sutta 26.28. For further details see BDic.

(527). Sukha: ‘pleasant feeling (physical or mental)’.

(528). Somanassa: ‘pleasant mental feeling’. Here, a higher degree of sukha, not to be equated with pīti (see n.81).

(529). Sankhārā: a multi-valent term (see n.293), for which see the excellent article in BDic. In his note to this passage, RD wrestles with its meaning, and coins the unfortunate rendering ‘Confections’, which, still more unfortunately, was later taken up by Suzuki, on whom it is usually fathered.

(530). See DN 22 for these.

(531). Or ‘physical forms external to himselfʹ (RD).

(532). A rare formulation of the factors of the Eightfold Path (see DN 33.2.3 (3)). Elsewhere, such a progressive explanation is denied: this points to a late formulation. See BDic under Magga, and EB under Aṭṭhaṅgika-magga.

(533). Sammā-ñāṇaṁ.

(534). Sammā-vimutti. These additional two steps are part of the supramundane path (MN 117).

(535). DN 14.3.7.

(536). These are the Non-Returners, who are presumably so far above Brahmā Sanankumāra that he cannot speak of them with knowledge.

 

---oOo---

 

Nguồn (Source):
Vietnamese:
khemarama.net
Pāḷi - English:
 digitalpalireader.online

Những tập kinh khác:

DN 1: Brahmajāla – Kinh Phạm Võng – The All-embracing Net of Views

DN 2: Sāmannaphala sutta – Kinh Sa Môn Quả – The Fruits of the Contemplative Life

DN 3: Ambaṭṭhasuttaṃ – Kinh Ambaṭṭha (A-Ma-Trú) – A Young Brahman’s Rudeness And An Old One’s Faith

DN 4: Soṇadaṇḍasuttaṃ – Kinh Chủng Đức – The Qualities Of The True Brahman

DN 5: Kūṭadantasuttaṃ – Kinh Cứu La Đàn Đầu – About Kūṭadanta – A Bloodless Sacrifice

DN 6: Mahālisuttaṃ – Kinh Mahāli – About Mahāli

DN 7: Jāliyasuttaṃ – Kinh Jāliya – About Jāliya

DN 8: Mahāsīhanādasuttaṃ – Kinh Ca-diếp Sư tử hống – The Great Lion’s Roar (The Lion’s Roar to Kassapa)

DN 9: Poṭṭhapādasuttaṃ – Kinh Bố-Sá-Bà-Lâu – About Poṭṭhapāda (States of Consciousness)

DN 10: Subhasuttaṃ – Kinh Tu Ba – About Subha (Morality, Concentration, Wisdom)

DN 11: Kevaṭṭasuttaṃ – Kinh Kiên Cố – About Kevaddha (What Brahma Didn’t Know)

DN 12: Lohiccasuttaṃ – Kinh Lô Hi Gia – About Lohicca (Good and Bad Teachers)

DN 13: Tevijjasuttaṃ – Kinh Tam Minh – The Threefold Knowledge (The Way to Brahmā)

DN 14: Mahāpadānasuttaṃ – Kinh Đại Bổn – The Great Discourse on the Lineage

DN 15: Mahānidānasuttaṃ – Kinh Đại Duyên – The Great Discourse on Origination

DN 16: Mahāparinibbānasuttaṃ – Kinh Đại Bát-Niết-Bàn – The Great Passing (The Buddha’s Last Days)

DN 17: Mahāsudassanasuttaṃ – Kinh Ðại Thiện Kiến Vương – The Great Splendour (A King’s Renunciation)

DN 18: Janavasabhasuttaṃ – Kinh Xà-ni-sa – About Janavasabha (Brahmā Addresses the Gods)

DN 19: Mahāgovindasuttaṃ – Kinh Ðại Ðiển Tôn – The Great Steward (A Past Life of Gotama)

DN 20: Mahāsamayasuttaṃ – Kinh Đại Hội – The Mighty Gathering (Devas Come to See the Buddha)

DN 21: Sakkapañhasuttaṃ – Kinh Đế-Thích Sở Vấn – Sakka’s Questions (A God Consults the Buddha)

DN 22: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ – Kinh Đại Niệm Xứ – The Greater Discourse on the Foundations of Mindfulness

DN 23: Pāyāsisuttaṃ – Kinh Kệ-Túc – About Pāyāsi (Debate with a Sceptic)

DN 24: Pāthikasuttaṃ – Kinh Ba-lê – About Pāṭikaputta (The Charlatan)

DN 25: Udumbarikasuttaṃ – Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử Hống – The Great Lion’s Roar to the Udumbarikans

DN 26: Cakkavattisuttaṃ – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư tử Hống – The Lion’s Roar on the Turning of the Wheel

Những bộ Kinh khác :