Bài 1: Giới Thiệu Tổng Quan Về Luật Tạng

Monday April 22, 2024

 

Phật giáo Nguyên Thủy – Theravāda
Ni Viện Khemārāma – Tịnh An Lan Nhã
* * * * *

 

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ LUẬT TẠNG

Bhikkhunī Visuddhiguṇā

Khemārāma tổng hợp

Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ


Các mục trong bài viết:

I. TỔNG QUAN VỀ DHAMMA

II. TẠNG LUẬT PĀḶI

III. TẠNG LUẬT TIẾNG VIỆT: = 5 BỘ - 8 (HOẶC 9) TẬP

IV. GIỚI LUẬT VÀ SỰ TỒN TẠI LÂU DÀI CỦA PHẠM HẠNH

V. PHÂN LOẠI THỂ TÀI CỦA NGÔN NGỮ KINH ĐIỂN

 

*****

 

3 PHÁP:

i. Pariyatti: doctrinal (Pariyatti) – pháp học
ii. Paṭipatti: the practical – pháp hành
iii. Paṭivedha: the realizable – pháp thành

cả 3 pháp này được gọi chung là Dhamma.*

TỔNG QUAN VỀ DHAMMA

I) Tam Tạng thánh điển: Tipiṭaka

1. Vinaya Piṭaka
2. Suttanta Piṭaka
3. Abhidhamma Piṭaka

II) 5 Nikāya

1. DīghaNikāya
2. MajjimaNikāya
3. SaṃyuttaNikāya
4. AṅguttaraNikāya
5. KhuddakaNikāya

Khi Dhamma được chia thành 5 Nikāya, 5 cuốn của Luật Tạng và 7 cuốn của tạng Abhidhamma được gộp vào KhuddakaNikāya.

Trong lần kiết tập Tang tạng lần thứ 6 (1954-1956), có tổng cộng 52 cuốn Pāḷi tất cả được thống nhất.

=> Cho nên, toàn bộ lời dạy của đức Thế Tôn được gói kiết tập lại trong 3 Piṭaka hoặc 5 Nikāya.

III) 84000 pháp uẩn (Caturāsīti Dhammakkhanda Sahassāni)

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng: (1)

Tôi đã học tám mươi hai ngàn từ đức Phật, hai ngàn từ vị tỳ khưu (Sāriputta), tổng cộng các pháp này là tám mươi bốn ngàn. Trong Tạng Luật có hai mươi mốt ngàn Pháp Uẩn, trong Tạng Kinh có hai mươi mốt ngàn Pháp Uẩn, và trong Tạng Vi Diệu Pháp có bốn mươi hai ngàn Pháp Uẩn. Như thế, bằng cách giải nghĩa theo Pháp Uẩn thì có tám mươi bốn ngàn phần riêng biệt.

Trong trường hợp này, bài kinh có một chủ đề (anusandhika) thì tính một Pháp Uẩn, bài kinh nào có nhiều chủ đề thì tính nhiều Pháp Uẩn. Như thế, việc tính đếm Pháp Uẩn tức là đề cập đến chủ đề. Trong những phần Kệ (gāthā), mỗi câu hỏi hay chất vấn là một Pháp Uẩn và câu trả lời là một Pháp Uẩn. Trong tạng Vi Diệu Pháp, mỗi một phần chia chẻ gồm có một nhị đề hoặc tam đề và mỗi một phần chia chẻ theo loại tâm được gọi là một Pháp Uẩn. Trong tạng Luật thì có phần câu chuyện (vatthu), có phần tiêu đề (mātikā), có phần phân tích từ ngữ, có phần phạm tội, có phần không phạm tội, có phần phán xét; trong trường hợp này, cứ mỗi một phần được xem là một Pháp Uẩn. Như thế, khi đề cập đến Pháp Uẩn thì có tám mươi bốn ngàn phần.

Cứ như thế, lời dạy của đức Phật gồm nhiều phần khác biệt đã được các vị A-la-hán, có chủ tọa là ngài Mahākassapa, sau khi sắp xếp thành nhóm tương xứng: "Đây là Pháp, đây là Luật," v.v... đã đọc tụng trong bảy tháng. Khi kết thúc cuộc kết tập, đại địa cầu này với nước biển bao bọc xung quanh đã xảy ra nhiều sự rung động, lay chuyển, lắc lư khác nhau và có vô số điều kỳ diệu y như đang bày tỏ sự tán thưởng do sự hoan hỷ sanh khởi: "Giáo Pháp này của đấng Thập Lực được vận hành tròn đủ trong khoảng thời gian năm ngàn năm nhờ vào trưởng lão Mahākassapa."

TẠNG LUẬT PĀḶI

Tạng Luật (Vinayapiṭaka) thuộc về Tam Tạng (Tipiṭaka) là những lời dạy và quy định của đức Phật về các vấn đề có liên quan đến cuộc sống và sự sinh hoạt của các thành viên cũng như các công việc của hội chúng, trong đó, chủ yếu đề cập đến các tỳ khưu, một phần dành cho tỳ khưu ni, đồng thời một số vấn đề có thể áp dụng cho hàng tại gia cư sĩ cũng được tìm thấy.

Tạng Luật được chia làm 3 phần chính: Suttavibhaṅga, Khandhaka,Parivāra.

1. Suttavibhaṅga (Phân Tích Giới Bổn): trình bày về giới bổn Pātimokkha của tỳ khưu gồm có 227 điều học và của tỳ khưu ni gồm có 311 điều học. Ý nghĩa của từ "sutta" ở nhóm từ "suttavibhaṅga" có ý nghĩa tương đương như là "sikkhāpada" (điều học, học giới, điều giới, ...), nếu xét theo ý nghĩa bao quát có thể gọi là "giới bổn." Như vậy, Suttavibhaṅga nghĩa là sự phân tích các điều học hoặc là sự phân tích về giới bổn (ở Tạng Kinh, từ "sutta" được dịch là "kinh", ví dụ như Brahmajālasutta được dịch là Kinh Phạm Võng, v.v...).

2. Khandhaka (Hợp Phần): Khandhaka gồm các vấn đề có liên quan đã được sắp xếp thành từng chương và được phân làm hai: Mahāvagga (Đại Phẩm) và Cullavagga (Tiểu Phẩm). Chúng tôi tạm dịch Khandhaka là Hợp Phần (khandha có nghĩa là khối, nhóm, uẩn, ... và tiếp vĩ ngữ -ka trong trường hợp này có ý nghĩa là thuộc về, có liên quan, ...).

a. Mahāvagga (Đại Phẩm): gồm 10 chương, mở đầu là sự chứng ngộ đạo quả của đức Phật, kế đến là các nhiệm vụ quan trọng của các tỳ khưu như lễ xuất gia, lễ Uposatha (Bố Tát), việc an cư mùa mưa, lễ Pavāraṇā (Tự Tứ), v.v...

b. Cullavagga (Tiểu Phẩm): gồm 12 chương đề cập đến việc hành xử các tỳ khưu phạm tội, giải quyết các sự tranh tụng, việc chia rẽ hội chúng, và các vấn đề khác liên quan đến đời sống xuất gia. Đặc biệt chương 10 đề cập việc xuất gia của tỳ khưu ni và hai chương cuối 11 và 12 nói về hai kỳ kết tập Tam Tạng đầu tiên ở Ấn Độ.

3. Parivāra (Tập Yếu): phân tích về Giới và Luật theo các tiêu đề và được trình bày dưới dạng vấn đáp, có thể được xem như là cuốn cẩm nang hướng dẫn việc hành xử Luật.

***


TẠNG LUẬT TIẾNG VIỆT: = 5 BỘ - 8 (HOẶC 9) TẬP


1. Phân Tích Giới Tỳ Khưu (2 tập)
2. Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni
3. Đại Phẩm (2 tập)
4. Tiểu Phẩm (2 tập)
5. Tập Yếu

 

GIỚI LUẬT VÀ SỰ TỒN TẠI LÂU DÀI CỦA PHẠM HẠNH

Này Sāriputta, đức Thế Tôn Vipassī, đức Thế Tôn Sikhī, và đức Thế Tôn Vessabhū đã không nỗ lực để thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết đến các đệ tử và các vị ấy đã có ít suttaṃ, geyyaṃ, veyyākaraṇaṃ, gāthā, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ, abbhūtadhammaṃ, vedallaṃ.(*) Điều học cho các đệ tử đã không được (các vị ấy) quy định và giới bổn Pātimokkha đã không được công bố. Với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng. Này Sāriputta, cũng giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên tấm ván sàn và không được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) làm phân tán, làm tung toé, và hủy hoại chúng. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Này Sāriputta, giống như việc (các bông hoa) không được kết lại với nhau bằng sợi chỉ; này Sāriputta, tương tợ như thế với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng. Và chư Phật Thế Tôn ấy (chỉ) nỗ lực dùng tâm biết được tâm để giáo huấn các đệ tử. Này Sāriputta, trong thời quá khứ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Vessabhū, ở trong khu rừng ghê rợn nọ, dùng tâm biết được tâm rồi giáo huấn và chỉ dạy hội chúng tỳ khưu một ngàn vị rằng: “Hãy suy tầm như vầy. Chớ suy tầm như thế. Hãy tác ý như vầy. Chớ tác ý như thế. Hãy từ bỏ điều này. Hãy thành tựu rồi an trú điều này.” Này Sāriputta, khi ấy trong lúc được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Vessabhū giáo huấn như thế chỉ dạy như thế, các tâm của một ngàn vị tỳ khưu ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này Sāriputta, vào trường hợp ấy trong khi đã bị kinh sợ đối với khu rừng ghê rợn, người nào chưa dứt bỏ ái dục đi vào khu rừng ấy thì hầu hết các sợi lông sẽ dựng đứng lên. Này Sāriputta, đây là nhân, đây là duyên khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài.

=> Ngược lại với những điều trên là các điều kiện để phạm hạnh này được tồn tại dài lâu:

  • Đức Thế Tôn Kakusandha, đức Thế Tôn Konāgamana, và đức Thế Tôn Kassapa đã nỗ lực để thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết đến các đệ tử.
  • Các vị ấy đã có nhiều suttaṃ, geyyaṃ, veyyākaraṇaṃ, gāthā, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ, abbhūtadhammaṃ, vedallaṃ.
  • Điều học cho các Thinh Văn đã được (các vị ấy) quy định và giới bổn Pātimokkha đã được công bố.
  • Sau khi các đức Thế Tôn + chư Thanh văn tịch diệt, các đệ tử đã duy trì Phạm hạnh ấy lâu dài và trường cửu => cũng giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên tấm ván sàn và được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) không làm phân tán, không làm tung toé, và không hủy hoại chúng.


NGÀI SĀRUPUTTA THỈNH ĐỨC THẾ TÔN BAN HÀNH GIỚI LUẬT

Sau đó, đại đức Sāriputta đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này:

  • Bạch Thế Tôn, nay là thời điểm của việc ấy. Bạch Thiện Thệ, nay là thời điểm của việc ấy, (tức là thời điểm) đức Thế Tôn nên quy định điều học cho các đệ tử, nên công bố giới bổn Pātimokkha; như thế Phạm hạnh này có thể được tiếp tục và tồn tại lâu dài.
  • Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Trong trường hợp ấy, chỉ có Như Lai mới biết thời điểm.

--> Cho đến khi nào một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này thì cho đến khi ấy bậc Đạo Sư chưa quy định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử >> cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về số lượng thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này.

--> Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự đông đảo về số lượng nên một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.

--> Cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự dồi dào về lợi lộc thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này.

Này Sāriputta, bởi vì hội chúng tỳ khưu không có ô nhiễm, không có tội lỗi, có ác pháp đã lìa, được thanh tịnh, trong sạch, đã an trú vào mục đích. (2) Này Sāriputta, bởi vì trong số năm trăm tỳ khưu này, vị tỳ khưu thấp nhất (đã) là vị Nhập Lưu, không còn pháp bị đọa, được bền vững, và hướng đến sự giác ngộ.


PHÂN LOẠI THỂ TÀI CỦA NGÔN NGỮ KINH ĐIỂN  (3)


Thế nào là có chín phần khi nói về Thể (Aṅga)? Bởi vì toàn bộ gồm có chín hình thức khác biệt, đó là:

1. SUTTAṂ = Khế kinh: Ubhatovibhaṅga, Niddesa, Khandhaka, Parivāra, các bài kinh Maṅgalasutta, Ratanasutta, Nalakasutta, Tuvaṭakasutta trong Suttanipāta (Kinh Tập), và các lời dạy của đấng Như Lai có tựa đề là Kinh (Sutta) thì được xếp vào thể Kinh (Sutta).

2. GEYYAṂ (mixed prose and verse/ a certain style of literature) = Ứng tụng: Các bài kinh có xen các bài kệ vào được biết là thể Geyya; đặc biệt toàn bộ Thiên Có Kệ (Sagāthāvagga) trong Kinh Tương Ưng Bộ là thể Geyya.

3. VEYYĀKARAṆAṂ (answer, explanation, exposition) = Ký thuyết: Toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp, các bài kinh không có xen các bài kệ (những bài kinh bằng văn xuôi), và các lời dạy khác của đức Phật không thuộc tám loại trên được xếp vào thể Veyyākaraṇa.

4. GĀTHĀ (verse or stanza – kệ ngôn) = Phúng tụng: Kinh Pháp Cú, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, các bài có tên là kinh nhưng chỉ là kệ trong Kinh Tập (Suttanipāta) thì được xếp vào thể Gāthā.

5. UDĀNAṂ (emotional utterance) = Phật tự thuyết/ Cảm hứng ngữ/ Vô vấn tự thuyết (Không hỏi tự nói): Tám mươi hai bài kinh liên quan đến các bài kệ do tuệ giác hoan hỷ được xếp vào thể Udāna.

6. ITIVUTTAKAṂ = Như thị thuyết: Một trăm mười hai bài kinh được giới thiệu bằng: "Vuttaṃ h’ etaṃ Bhagavatā ti" (Đức Thế Tôn thuyết về điều ấy như vầy) thì được xếp vào thể Itivuttaka.

7. JĀTAKAṂ = Bản sanh (Bổn sanh, chuyện tiền thân): Năm trăm năm mươi bài (550) kinh Bổn Sanh (có chỗ ghi 547 (4) bắt đầu bằng Bổn Sanh Apannaka được xếp vào thể Jātaka.

8. ABBŪTADHAMMAṂ= Vị tằng hữu pháp/ Pháp chưa từng có: Tất cả các bài kinh liên quan đến pháp kỳ diệu phi thường và được giới thiệu như sau: "Này các tỳ khưu, có bốn pháp kỳ diệu phi thường ở Ānanda," được xếp vào thể Abbhūtadhamma.

9. VEDALLAṂ = Trí giải hay Phương quảng: Tất cả các bài kinh được hỏi và được liên tục ghi nhận trong sự hiểu biết và hoan hỷ như các bài kinh Cullavedalla, Mahāvedalla, Sammādiṭṭhi, Sakkapañhā, Saṅkhāra-bhājaniya, Mahāpuṇṇama, v.v...được xếp vào thể Vedalla.

 

*****

 

(1) Diệu Pháp Yếu Lược – Sadhammasaṅgaha

(2) Giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến

(3) Diệu Pháp Yếu Lược – Sadhammasaṅgaha

(4) Xem Gương Bậc Xuất Gia – TK. Hộ Pháp

 

Dowload file pdf: Giới Thiệu Tổng Quan Về Luật Tạng

Những tập kinh khác:

Bài 1: Giới Thiệu Tổng Quan Về Luật Tạng

Bài 2: Pātimokkha Của Tỳ Kheo Và Tỳ Kheo Ni

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 1)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 2)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 3)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 4)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần Cuối)

Những bộ Kinh khác :