Nghi Thức Hồi Hướng Hương Linh – Khemārāma

 

Khemārāma – Tịnh An Lan Nhã

***

Tổng hợp và trình bày: Khemārāma
Tài liệu lưu hành nội bộ

 

MỤC LỤC

Thỉnh Chư Thiên (Ārādhanā Devatā) 

Dâng Hương (Ratanattayapujā) 

Lễ Phật (Buddha Ratanapaṇāma) 

Ân Đức Tam Bảo (Tiratanā) 

Lễ Bái Xá Lợi, Bảo Tháp, Cây Bồ Đề (Tividha Cetiya Vandanagāthā) 

Dâng Hoa (Pupphapūjā) 

Lễ Bái Chư Phật (Sambuddha-Gāthā) 

Quy Y Và Truyền 5 Giới Cho Hương Linh 

Kệ Hộ Trì Āṭānāṭiya (Āṭānāṭiya Paritta Gāthā) 

Kinh Cầu Siêu Vô Thường 

Kệ Hồi Hướng Quả Báo Đến Ngạ Quỉ, Nhứt Là Ngạ Quỉ Ngự Ngoài Vách Nhà (Tirokuḍḍakaṇḍagāthā ) 

Kệ Khuyến Tu 

Kệ Tâm Từ (Mettā Gāthā) 

Kệ Tùy Hỷ Công Đức (Anumodanārambha Gāthā) 

Kệ Hoan Hỷ Tương Hợp (Sāmaññānumodanā Gāthā) 

Kệ Cầu Sự Thành Tựu (Siddhiyācanagāthā) 

Kệ Chúc Phúc 

Hồi Hướng Chư Thiên 

Kệ Hồi Hướng Những Người Đã Quá Vãng

 

THỈNH CHƯ THIÊN
(ĀRĀDHANĀ DEVATĀ)

Sagge kāme ca rūpe giri-sikhara-taṭe c’antalikkhe vimāne,

Dīpe raṭṭhe ca gāme taru-vana-gahane gehavatthumhi khette

Bhummā c’āyantu devā jala-thala-visame yakkha-gandhabba-nāgā.

Tiṭṭhantā santike yaṃ muni-vara-vacanaṃ sādhavo me suṇantu.


Dhamma-ssavanakālo ayam bhadantā.
Dhamma-ssavanakālo ayam bhadantā.
Dhamma-ssavanakālo ayam bhadantā.


Xin thỉnh Chư Thiên ngự trên cõi Trời Dục giới cùng Sắc giới; Chư Thiên ngự trên đảnh núi, núi không liền, hoặc nơi hư không, ngự trên cồn bãi, đất liền hoặc các châu quận, ngự trên cây cối rừng rậm hoặc ruộng vuờn, Chư Dạ-Xoa, Càn-Thác-Bà, cùng Long Vương dưới nước trên bờ hoặc nơi không bằng phẳng gần đây, xin thỉnh hội họp lại đây. Lời nào là kim ngôn cao thượng của đức Thích-Ca Mâu-Ni mà chúng tôi tụng đây, xin các bậc Hiền triết nên nghe lời ấy.
Xin các Ngài đạo đức, giờ này là giờ nên nghe Pháp-Bảo. (3 lần)

 

DÂNG HƯƠNG
(RATANATTAYAPUJĀ)

Imehi dīpa-dhūp’ādi sakkārehi
Buddhaṃ Dhammaṃ Saṅghaṃ
abhipūjayāmi mātā-pit’ādīnaṃ
guṇavantānañca mayhañca
dīgharattaṃ atthāya hitāya sukhāya.

Con xin dâng các lễ vật này, nhất là nhang đèn để cúng Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, ngưỡng cầu cho các bậc ân nhân, nhứt là cha mẹ con và con đều được sự tấn hóa, sự lợi ích, sự bình an lâu dài.

 

LỄ PHẬT
(BUDDHA RATANAPAṆĀMA)

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammā Sambuddhassa. (x3)

Con đem hết lòng thành kính làm lễ đức Phá-gá-va (Thế Tôn) đó, Ngài là bậc Á-rá-han (Ứng Cúng) cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri, do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy. (3 lần)

 

ÂN ĐỨC TAM BẢO
(TIRATANĀ)

Iti’pi so Bhagavā: Arahaṃ, Sammā Sambuddho,Vijjā-Caraṇa-Sampaṇṇo, Sugato, Lokavidū, Anuttaro, Purisa-damma-sārathi, Satthā-devamanussānaṃ, Buddho, Bhagavā’ti.

Đây là Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Svākkhāto Bhagavatā Dhammo: Sandiṭṭhiko, Akāliko, Ehipassiko, Opanayiko, Paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti.

Tam Tạng Pháp Bảo, Thế Tôn khéo giảng, thiết thực hiện tiền, vượt qua thời gian, hãy đến mà nghe, hướng thượng Niết Bàn, người có trí tuệ, tự mình liễu tri.

Su-paṭipanno Bhagavato Sāvakasaṅgho. Uju-paṭipanno Bhagavato Sāvakasaṅgho. Ñāya-paṭipanno Bhagavato Sāvakasaṅgho. Sāmīci-paṭipanno Bhagavato Sāvakasaṅgho. Yad’idaṃ cattāri purisa-yugāni. Aṭṭha purisa-puggalā. Esa Bhagavato Sāvakasaṅgho: Āhuṇeyyo, Pāhuṇeyyo, Dakkhiṇeyyo, Añjalikaraṇīyo, Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā’ti.

Chư Thanh văn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc thiện hạnh. Chư Thanh văn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc trực hạnh. Chư Thanh văn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc ứng lý hạnh. Chư Thanh văn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc hòa kính hạnh. Nghĩa là 4 đôi: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, tức 8 chúng: Tu-đà-hoàn đạo, Tu-đà-hoàn quả, Tư-đà-hàm đạo, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm đạo, A-na-hàm quả, A-la-hán đạo, A-la-hán quả. Chư Thanh văn đó là bậc đáng kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng chấp tay lễ bái, bậc vô thượng phước điền của thế gian.

 

LỄ BÁI XÁ LỢI, BẢO THÁP, CÂY BỒ ĐỀ
(TIVIDHA CETIYA VANDANAGĀTHĀ)

Vandāmi cetiyaṃ sabbaṃ
Sabba-ṭṭhānesu patiṭṭhitaṃ
Sārīrika-dhātu mahābodhiṃ
Buddha-rūpaṃ sakalaṃ sadā. (x3)

Con xin thành kính làm lễ tất cả Bảo Tháp, Ngọc Xá-Lợi, đại thọ Bồ Đề và Kim thân Phật đã tạo thờ trong khắp mọi nơi. (3 lần)

 

DÂNG HOA
(PUPPHAPŪJĀ)

Pūjemi Buddham kusumenanena
Puññena me tena ca hotu mokkhaṃ
Pupphaṃ milāyāti yathā idaṃ me
Kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.
*
Pūjemi Dhammaṃ kusumenanena…
*
Pūjemi Saṅghaṃ kusumenanena..
***


Dâng hoa cúng đến “Phật-đà”,
Nguyện mau giải thoát sanh già khổ đau.
Hoa tươi nhưng sẽ ứa sầu,
Tấm thân tứ đại khỏi sao điêu tàn.
*
Dâng hoa cúng đến “Đạt-ma”…
*
Dâng hoa cúng đến “Tăng-già”…

 

LỄ BÁI CHƯ PHẬT
(SAMBUDDHA-GĀTHĀ)

1- Sambuddhe aṭṭhavīsañ ca dvādasañ ca sahassake
pañcasatasahassāni namāmi sirasā ahaṃ. Tesaṃ dhammañca saṅghañca ādarena namāmihaṃ namakārānubhāvena hantvā sabbe upaddave anekā antarāyāpi vinassantu asesato.

1- Con đem hết lòng thành kính, làm lễ 28 vị Chánh biến tri, 12 ngàn vị Chánh biến tri và 500 ngàn vị Chánh biến tri. Con đem hết lòng thành kính, làm lễ Pháp bảo và Tăng bảo của các vị Chánh biến tri ấy. Do sự lễ bái cúng dường, xin nhờ oai lực các bậc Chánh biến tri mà những điều rủi ro và sự tai hại thảy đều diệt tận.

2- Sambuddhe pañca paññāsañca catuvīsa tisahassake dasasatasahassāni namāmi sirasā ahaṃ. Tesaṃ dhammañca saṅghañca ādarena namāmihaṃ namakārānubhāvena hantvā sabbe upaddave anekā antarāyā pi vinassantu asesato.

2- Con đem hết lòng thành kính làm lễ 55 vị Chánh biến tri, 24 ngàn vị Chánh biến tri và 1 triệu vị Chánh biến tri. Con đem hết lòng thành kính làm lễ Pháp bảo và Tăng bảo của các vị Chánh biến tri ấy. Do sự lễ bái cúng dường, xin nhờ oai lực các bậc Chánh biến tri mà những điều rủi ro và sự tai hại thảy đều diệt tận.

3- Sambuddhe navuttarasate aṭṭhacattālīsasahassake vīsatisatasahassāni namāmi sirasā ahaṃ. Tesaṃ dhammañca saṅghañca ādarena namāmihaṃ namakārānubhāvena hantvā sabbe upaddave anekā antarāyā pi vinassantu asesato.

3- Con đem hết lòng thành kính làm lễ 109 vị Chánh biến tri, 48 ngàn vị Chánh biến tri và 2 triệu vị Chánh biến tri. Con đem hết lòng thành kính làm lễ pháp bảo và Tăng bảo của các vị Chánh biến tri ấy. Do sự lễ bái cúng dường, xin nhờ oai lực của bậc Chánh biến tri mà những điều rủi ro và sự tai hại thảy đều diệt tận.

 

QUY Y VÀ TRUYỀN 5 GIỚI CHO HƯƠNG LINH

TAM QUY Y

1. Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Phật.

Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp.

Saṅgham saraṇaṃ gacchāmi.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng.

2. Dutiyampi …

3. Tatiyampi …

Tisaraṇaggahanaṃ paripuṇṇam

Phép qui y Tam bảo đã được thành tựu.

NGŨ GIỚI

1. Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
1. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.

2. Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
2. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trộm cắp.

3. Kāmesumicchācārā veramaṇī sikkhā-padaṃ samādiyāmi.
3. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự tà dâm.

4. Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
4. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối.

5. Surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
5. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dễ duôi uống rượu và các chất say.

* * *

Imāni pañca sikkhā-padāni sādhukaṃ katvā appamādena niccakālaṃ sammārakkhitabbaṃ

Chư thiện tín sau khi thọ trì tam qui và ngũ giới nơi Tam bảo, hãy cố gắng vâng giữ hành theo cho được trong sạch đến trọn đời, chẳng nên dễ duôi.

Sīlena sugatiṃ yanti sīlena bhogasampadā sīlena nibbutiṃ yanti tasmā sīlam visodhaye.

Tất cả chúng sanh được sanh về cõi trời cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giàu sang tài vật cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giải thoát nhập Niết bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy, Chư thiện tín hãy cố gắng thọ trì giới luật cho được trong sạch đừng để lấm nhơ.

 

KỆ HỘ TRÌ ĀṬĀNĀṬIYA
(ĀṬĀNĀṬIYA PARITTA GĀTHĀ)

1. Sakkatvā Buddha-ratanaṃ
Osadhaṃ uttamaṃ varaṃ
Hītaṃ deva-manussānaṃ
Buddha-tejena sotthinā
Nassant’upaddavā sabbe
Dukkhā vūpasamentu te.

2. Sakkatvā Dhamma-ratanaṃ
Osadhaṃ uttamaṃ varaṃ
Pariḷāh’upasamanaṃ
Dhamma-tejena sotthinā
Nassant’upaddavā sabbe
Bhayā vūpasamentu te.

3. Sakkatvā Saṅgha-ratanaṃ
Osadhaṃ uttamaṃ varaṃ
Āhuneyyaṃ pāhuneyyaṃ
Saṅgha-tejena sotthinā
Nassant’upaddavā sabbe
Rogā vūpasamentu te.

1. Xin cho tất cả điều nguy khốn được tiêu tan, những khổ não của người đều yên lặng, nhờ sự vinh quang và vẻ uy linh của đức Phật, vì lòng tôn kính Phật Bảo, như món linh dược quý cao, là lợi ích đến Chư Thiên và nhân loại.

2. Xin cho tất cả điều nguy khốn được tiêu tan, những lo sợ của người đều yên lặng, nhờ sự vinh quang và vẽ uy linh của đức Pháp, vì lòng tôn kính Pháp Bảo, như món linh dược quý cao, là Pháp trấn tĩnh điều Phiền Não.

3. Xin cho tất cả điều nguy-khốn được tiêu tan, những bịnh-hoạn của người đều yên lặng, nhờ sự vinh quang và vẽ uy linh của đức Tăng, vì lòng tôn kính Tăng Bảo, như món linh dược quý cao, đáng cho người cúng dường và hoan nghinh tôn trọng.

* * *

1. Yaṃ kiñci ratanaṃ loke
Vijjati vividhaṃ puthu
Ratanaṃ Buddha-samaṃ n’atthi
Tasmā sotthī bhavantu te.

2. Yaṃ kiñci ratanaṃ loke
Vijjati vividhaṃ puthu
Ratanaṃ Dhamma-samaṃ n’atthi
Tasmā sotthī bhavantu te.

3. Yaṃ kiñci ratanaṃ loke
Vijjati vividhaṃ puthu
Ratanaṃ Saṅgha-samaṃ n’atthi
Tasmā sotthī bhavantu te.

1. Châu báu trên thế gian
Dù muôn hình muôn sắc
Không sánh bằng Phật Bảo
Nhân đó được an lành.

2. Châu báu trên thế gian
Dù muôn hình muôn sắc
Không sánh bằng Pháp Bảo
Nhân đó được an lành.

3. Châu báu trên thế gian
Dù muôn hình muôn sắc
Không sánh bằng Tăng Bảo
Nhân đó được an lành.

* * *

1. N’atthi me saraṇaṃ aññaṃ
Buddho me saraṇaṃ varaṃ
Etena sacca-vajjena
Hontu te jaya-maṅgalaṃ.

2. N’atthi me saraṇaṃ aññaṃ
Dhammo me saraṇaṃ varaṃ
Etena sacca-vajjena
Hontu te jaya-maṅgalaṃ.

3. N’atthi me saraṇaṃ aññaṃ
Saṅgho me saraṇaṃ varaṃ
Etena sacca-vajjena
Hontu te jaya-maṅgalaṃ

1. Quy y Phật vô thượng
Tam giới chẳng ai bằng
Do lời chân thật này
Nguyện người người an lạc.

2. Quy y Pháp vô thượng
Tam giới chẳng ai bằng
Do lời chơn thật này
Nguyện người người an lạc.

3. Quy y Tăng vô thượng
Tam giới chẳng ai bằng
Do lời chơn thật này
Nguyện người người an lạc.

* * *

1. So attha-laddho sukhito
Viruḷho Buddha-sāsane
Arogo sukhito hohi
Saha sabbehi ñātibhi.

2. Sā attha-laddhā sukhitā
Viruḷhā Buddha-sāsane
Arogā sukhitā hohi
Saha sabbehi ñātibhi.

3. Te attha-laddhā sukhitā
Viruḷhā Buddha-sāsane
Arogā sukhitā hotha
Saha sabbehi nātibhi.

1. Nguyện lợi lạc an vui
Tấn hóa trong Phật pháp
Vô bệnh được an toàn
Cùng thân bằng quyến thuộc.

2. Nguyện lợi lạc an vui
Tấn hóa trong Phật pháp
Vô bệnh được an toàn
Cùng thân bằng quyến thuộc.

3. Nguyện lợi lạc an vui
Tấn hóa trong Phật pháp
Vô bệnh được an toàn
Cùng thân bằng quyến thuộc.

* * *

1. Bhavatu sabba maṅgalaṃ
Rakkhantu sabba devatā
Sabba Buddh’ānubhāvena
Sadā sotthi bhavantu te.

2. Bhavatu sabba maṅgalaṃ
Rakkhantu sabba devatā
Sabba Dhamm’ānubhāvena
Sadā sotthi bhavantu te.

3. Bhavatu sabba maṅgalam
Rakkhantu sabba devatā
Sabba Saṅgh’ānubhāvena
Sadā sotthi bhavantu te.

1. Nguyện người trọn hạnh phúc.
Và Chư Thiên che chở.
Nhờ tất cả Phật lực.
Hằng mong được an lành.

2. Nguyện người trọn hạnh phúc
Và Chư Thiên che chở
Nhờ tất cả Pháp lực
Hằng mong được an lành.

3. Nguyện người trọn hạnh phúc
Và Chư Thiên che chở
Nhờ tất cả Tăng lực
Hằng mong được an lành.

 

KINH CẦU SIÊU

VÔ THƯỜNG

Aniccā vata saṅkhārā
Uppāda vaya dhammino
Uppajjitvā nirujjhanti
Tesaṃ vūpasamo sukho. (x3)

Các Pháp Hữu vi thật không bền vững, do có tánh sanh diệt là thường. Vì nhân sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, nên thường hay có sự khổ não. Chỉ có Niết-bàn là Pháp Tịch diệt, dứt các Pháp Hữu vi ấy được, mới có sự an vui tuyệt đối. (x3)

* * *

Aciraṃ vata yaṃ kāyo
Paṭhaviṃ adhisessati
Chuddho apeta viññāṇo
Niratthaṃ va kaliṅgaraṃ. (x3)

Thân này chẳng bao lâu
Nằm vùi trong lòng đất
Vô dụng xác không hồn
Như gỗ mục vứt bỏ. (x3)

* * *

1. Na gāma dhammo nigamassa dhammo
Na c’āpi yaṃ ekakulassa dhammo
Sabbassa lokassa sadevakassa
Eseva dhammo yad’idaṃ aniccatā.

2. Na gāma dhammo nigamassa dhammo
Na c’āpi yam ekakulassa dhammo
Sabbassa lokassa sadevakassa
Eseva dhammo yad’idaṃ ca dukkhatā.

3. Na gāma dhammo nigamassa dhammo
Na c’āpi yaṃ ekakulassa dhammo
Sabbassa lokassa sadevakassa
Eseva dhammo yad’idaṃ anattatā.

1. Pháp nào có tên gọi là “Vô thường”, là pháp có trạng thái thay đổi không thường, pháp ấy chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xứ, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xóm, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một gia tộc đâu. Pháp ấy để chung cho nhơn loại, súc sanh, luôn đến Chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên cả thảy.

2. Pháp nào có tên gọi là “Khổ não”, là pháp có trạng thái đau đớn buồn rầu, pháp ấy chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xứ, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xóm, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một gia tộc đâu. Pháp ấy để chung cho nhơn loại, súc sanh, luôn đến Chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên cả thảy.

3. Pháp nào có tên gọi là “vô ngã”, là pháp có trạng thái “không phải là của ta”, pháp ấy chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xứ, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xóm, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một gia tộc đâu. Pháp ấy để chung cho nhơn loại, súc sanh, luôn đến Chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên cả thảy.

* * *

Sabbe sattā marissanti
Maraṇ’antaṃ hi jīvitaṃ
Yathā kammaṃ gamissanti
Puñña-pāpa-phal’ūpagā
Nirayaṃ pāpa-kammantā
Puñña-kammā ca sugatiṃ
Tasmā kareyya kalyāṇam
Nicayaṃ samparāyikaṃ
Puññāni para-lokasmiṃ
Patiṭṭhā honti pāṇinaṃ.

Tất cả chúng sanh
Thảy đều sẽ chết
Sự chết chính là
Tận cùng kiếp sống
Nghiệp dĩ thế nào
Sẽ đi như vậy
Tội phước ra sao
Đều mang hậu quả
Nghiệp thiện Thiên đàng
Nghiệp ác địa ngục
Vậy hãy làm lành
Tích lũy đời sau
Vì phước nâng đỡ
Cho mọi chúng sanh
Trong đời mai hậu.

* * *

Sabbe saṅkhārā aniccā’ti
Yadā paññāya passati
Atha nibbindati dukkhe
Esa maggo visuddhiyā.
Sabbe saṅkhārā dukkhā’ti
Yadā paññāya passati
Atha nibbindati dukkhe
Esa maggo visuddhiyā.
Sabbe dhammā anattā’ti
Yadā paññāya passati
Atha nibbindati dukkhe
Esa maggo visuddhiyā

Khi trí tuệ quán chiếu
Thấy hữu vi vô thường
Liền thoát ly khổ não
Đó là thanh tịnh đạo.
Khi trí tuệ quán chiếu
Thấy hữu vi khổ không
Liền thoát ly khổ não
Đó là thanh tịnh đạo
Khi trí tuệ quán chiếu
Thấy pháp không phải ta
Liền thoát ly khổ não
Đó là thanh tịnh đạo

* * *

Paṇḍu-palāso va’dāni'si
Yama-purisā pi ca taṃ upaṭṭhitā
Uyyoga-mukhe ca tiṭṭhati
Pātheyyaṃ pi ca te na vijjati
So karoti dīpaṃ attano
Khippaṃ vāyama paṇḍito bhava
Niddhanta-malo anaṅgano
Dibbaṃ ariya-bhūmiṃ ehesi.

Thân như ngọn lá vàng
Bên bờ ranh cõi chết
Tử thần đang đứng đợi
Sao chưa có hành trang
Hãy tự mình thắp đuốc
Bậc trí sớm tinh cần
Trong sạch, ly uế nhiễm
Vào Thánh địa nhiệm mầu.

 

KỆ HỒI HƯỚNG QUẢ BÁO ĐẾN NGẠ QUỈ, NHỨT LÀ NGẠ QUỈ NGỰ NGOÀI VÁCH NHÀ (TIROKUḌḌAKAṆḌAGĀTHĀ )

(Tụng trong ngày giỗ)


Tirokuḍḍesu tiṭṭhanti,
Sandhisiṅghātakesu ca,
Dvārabāhāsu tiṭṭhanti,
Āgantvāna sakaṃ gharaṃ.

Các hàng Ngạ quỉ đã đến nhà quyến thuộc rồi, bèn suy tưởng là nhà của mình.
Thường đứng gần ngoài vách, nơi ngã tư hoặc ngã ba đường, gần các cửa thành, cùng các cửa nhà.

Pahūte annapānamhi,
Khajjabhoje upaṭṭhite,
Na tesaṃ koci sarati,
Sattānaṃ kammapaccayā.

Khi cơm nước cùng các món ngon ngọt vừa đủ, đã dành sẵn mà quyến thuộc không nhớ đến các Ngạ quỉ ấy, bởi tại nghiệp duyên trước.

Evaṃ dadanti ñātīnaṃ,
Ye honti anukampakā,
Suciṃ paṇītaṃ kālena,
Kappiyaṃ pānabhojanaṃ.

Những quyến thuộc nào đã tế độ Ngạ quỉ hằng hồi hướng, bố thí vật thực ngọt ngon đến hàng quyến thuộc đã quá vãng bằng cách nầy:

Idaṃ vo ñātīnaṃ hotu,
Sukhitā hontu ñātayo.

Sự bố thí nầy hãy thấu đến các quyến thuộc, cầu xin quyến thuộc ấy được sự an vui.

Te ca tattha samāgantvā,
Ñātipetā samāgatā.

Ngạ quỉ ấy là quyến thuộc, đã tựu hội đến chỗ bố thí, do lòng mong mỏi việc lành.

Pahūte annapānamhi,
Sakkaccaṃ anumodare.

Khi được thọ lãnh vật thực vừa đủ rồi, nên hoan hỷ cầu xin theo lời kệ nầy:

Ciraṃ jīvantu no ñātī,
Yesaṃ hetu labhāmase.

Chúng tôi được của nầy nhờ nơi quyến thuộc. Cầu xin các quyến thuộc của chúng tôi được trường thọ.

Amhākañca katā pūjā.

Sự cúng dường mà các quyến thuộc đã làm cho chúng tôi.

Dāyakā ca anipphalā.

Các thí chủ chẳng phải không được thiện quả.

Na hi tattha kasī atthi.

Việc cày ruộng lập vườn, chẳng có trong chốn Ngạ quỉ.

Gorakkhettha na vijjati.

Việc nuôi bò chẳng có trong chốn Ngạ quỉ.

Vaṇijjā tādisī natthi.

Việc buôn bán là nguyên nhân phát sanh của cải, cũng chẳng có.

Hiraññena kayākayaṃ.

Chẳng có việc bán buôn đổi chác bạc tiền.

Ito dinnena yāpenti,
Petā kālakatā tahiṃ.

Những người đã thác đọa làm Ngạ quỉ hằng được nuôi sống, do nhờ quả bố thí của các quyến thuộc trong thế gian.

Uṇṇate udakaṃ vuṭṭhaṃ,
Yathā ninnaṃ pavattati,
Evameva ito dinnaṃ,
Petānaṃ upakappati.

Nước trên gò nỗng hằng chảy xuống thấp, cũng như sự bố thí mà người đã làm trong đời nầy, hằng được kết quả đến Ngạ quỉ.

Yathā vārivahā pūrā,
Paripūrenti sāgaraṃ,
Evameva ito dinnaṃ,
Petānaṃ upakappati.

Các con đường nước nhứt là sông và rạch, hằng làm cho biển được đầy đủ, cũng như sự bố thí mà người đã làm trong lúc hiện tại đây, hằng được kết quả đến Ngạ quỉ.

1. Adāsi me akāsi me,
Ñātimittā sakhā ca me.
Petānaṃ dakkhiṇaṃ dajjā.
Pubbe katamanussaraṃ.

Khi người ta tưởng thấy ơn nghĩa mà ân nhân đã làm. Dành để cho người trong lúc trước, người nầy có bố thí vật nầy đến ta. Các người ấy đều là quyến thuộc của ta, nên cho DAKKHIṆĀDĀNA, đến các Ngạ quỉ ấy.

2. Na hi ruṇṇaṃ vā soko vā,
Yāvaññā paridevanā.
Na taṃ petānamatthāya.
Evaṃ tiṭṭhanti ñātayo.

Sự uất ức thương tiếc trong sự sanh tử biệt ly, đều chẳng có lợi ích chi. Làm như thế chẳng có sự lợi ích đến các Ngạ quỉ. Các Ngạ quỉ chẳng được biết, chẳng được nghe.

3. Ayañca kho dakkhiṇā dinnā.
Saṅghamhi supatiṭṭhitā.
Dīgharattaṃ hitāyassa,
Ṭhānaso upakappati.

Nếu DAKKHIṆĀDĀNA, mà người đã được làm rồi.
Là được bố thí theo lẽ chánh đến Chư Tăng.
(DAKKHIṆĀDĀNA ấy) mới được kết quả do theo duyên cớ, tức là được sự lợi ích lâu dài đến các Ngạ quỉ.

4. So ñātidhammo ca ayaṃ nidassito.
Petāna pūjā ca katā uḷārā.

Quyến thuộc ấy là người đã hành đúng theo Pháp rồi.
Sự cúng dường trọng thể và hồi hướng đến các Ngạ quỉ, người cũng đã làm rồi.

5. Balañca bhikkhūnamanuppadinnaṃ.
Tumhehi puññaṃ pasutaṃ anappakanti.

Sức lực các Thầy Tỳ khưu, người cũng đã bố thí rồi.
Hạnh phúc mà người đã sẵn dành như thế chẳng phải là ít.

 

KỆ KHUYẾN TU

Việc trần thế, khuyên ai phải ngẫm
Danh mà chi, lợi lắm mà chi
Bả công danh, bọt nước ra gì
Mùi phú quý, vầng mây tan hợp.

Sang cho mấy cũng rồi một kiếp
Giàu đến đâu chỉ hưởng một đời
Lẽ tử sanh đeo đuổi kiếp người
Thân tứ đại lấy đâu làm chắc.

Kìa! Sanh tử thấy liền trước mắt
Chốn mộ phần lắm kẻ thanh xuân
Tấm thân này vốn chỉ giả thân
Nay còn đó mai chưa chắc được.

Phần nỗi bệnh, nỗi già thúc phược
Sống trên đời, sống được bao lâu?
Mới tóc xanh kế đã bạc đầu
Rồi lại đến gò hoang một nấm.

Ôi! Hơi thở - khí nhân duyên mượn tạm
Một sớm vô thường trả lại thôi
Muôn việc đều nương mấy tấc hơi
Hơi vừa dứt, việc đời cũng dứt.

Nào sự nghiệp, nhân thân, tài vật
Nhắm mắt rồi lại nắm tay không
Sanh giả, không, hề! tử giả, không
Đất, nước, lửa - có đâu tồn tại?!

Rồi tử sanh, luân hồi mãi mãi
Nổi trôi theo bể khổ trầm luân
Ngẫm ngán thay định luật Vô Thường
Khuyên nhân thế tầm đường giải thoát.

Nếu chí nguyện thanh cao mong đạt
Cần nương theo Giáo Pháp Phật Đà (Buddha)
Dốc một lòng tự giác, tự tha
Hành Bát Chánh hướng về Đạo Quả.

Kíp thức tỉnh, mê đồ buông xả
Thôi đắm say huyễn hoá hồng trần
Ly não phiền, Phật cảnh cao đăng
Thành chánh quả vô sanh bất diệt.

 

KỆ TÂM TỪ
(METTĀ GĀTHĀ)

Sabbe sattā averā hontu, sukhita hontu, niddukkhā hontu, abyāpajjhā hontu, anīghā hontu, dīghāyukā hontu, arogā hontu, sampatthīhi samijjhantu sukhī attānam pariharantu, dukkhappattā ca niddukkhā, bhayappattā ca nibbhayā, sokappattā ca nissokā hontu sabbepi pāṇino.

Nguyện cho tất cả chúng sinh đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui, đừng có khổ, đừng làm lại lẫn nhau, đừng hẹp lượng, hãy cho được sống lâu, đừng có bệnh hoạn, hãy cho được thành tựu đầy đủ, hãy giữ mình cho được sự yên vui. Tất cả chúng sinh đến khổ rồi, xin đừng cho có khổ, đến sự kinh sợ rồi, xin đừng cho có kinh sợ, đến sự thương tiếc rồi xin đừng cho thương tiếc.

 

KỆ TÙY HỶ CÔNG ĐỨC
(ANUMODANĀRAMBHA GĀTHĀ)

Yathā vārivāhā pūrā
Paripūrenti sāgaraṃ
Evam’eva ito dinnaṃ
Petānaṃ upakappati
Icchitaṃ patthitaṃ tumhaṃ
Khippam’eva samijjhatu
Sabbe pūrentu saṅkappā
Cando paṇṇaraso yathā
Maṇi-joti-raso yathā.

Các con đường nước đầy đủ, nhứt là sông và rạch làm cho biển được đầy đủ, cũng như sự bố thí mà thí chủ đã làm trong lúc hiện tại đây, cầu xin cho đặng kết quả đến những người đã quá vãng. Cầu xin các quả lành mà người đã mong mỏi, cho được mau thành tựu kịp thời đến người. Cầu xin những sự suy xét chân chánh cho được tròn đủ đến người, như trăng trong ngày Rằm. (Bằng chẳng vậy) cũng như ngọc Ma-ni chiếu sáng rỡ ràng, là ngọc quý báu, có thể làm cho tất cả sự ước ao của người đều được như nguyện.

 

KỆ HOAN HỶ TƯƠNG HỢP
(SĀMAÑÑĀNUMODANĀ GĀTHĀ)

Sabb’ītiyo vivajjantu.
Sabba rogo vinassatu.
Mā te bhavatv’antarāyo.
Sukhī dīgh’āyuko bhava.

Cầu xin cho tất cả sự rủi ro của người đều được xa lánh.
Cầu xin cho tất cả tật bệnh của người đều được dứt khỏi.
Sự tai hại cũng chẳng có đến cho người.
Cầu xin cho người được sự an vui trường thọ.

Abhivādana-sīlissa
Niccaṃ vuddh’āpacāyino
Cattāro dhammā vaḍḍhanti
Āyu, vaṇṇo, sukhaṃ, balaṃ.

Cả bốn Pháp chúc mừng là: Sống lâu, Sắc đẹp, An vui,
Sức mạnh, hằng thêm đến người, là người năng nghiêng mình lễ bái, cúng dường đến Tam Bảo và có lòng tôn kính các bậc tu hành tinh tấn, nhứt là bậc trì giới, và bậc Trưởng lão.

 

KỆ CẦU SỰ THÀNH TỰU
(SIDDHIYĀCANAGĀTHĀ)

Siddhamatthu siddhamatthu,
Siddhamatthu idaṃ phalaṃ,
Etasmiṅ ratanattayasmiṃ.
Sampasādanacetaso.

Cầu xin cho quả của tâm tín thành Tam bảo,
cho được thành tựu mỹ mãn,
cho được thành tựu mỹ mãn,
cho được thành tựu mỹ mãn.

 

KỆ CHÚC PHÚC

Bhavatu sabba maṅgalaṃ
Rakkhantu sabba devatā
Sabba Buddh’ānubhāvena
Sadā sotthi bhavantu te.

Bhavatu sabba maṅgalaṃ
Rakkhantu sabba devatā
Sabba Dhamm’ānubhāvena
Sadā sotthi bhavantu te.

Bhavatu sabba maṅgalam
Rakkhantu sabba devatā
Sabba Saṅgh’ānubhāvena
Sadā sotthi bhavantu te.

Tất cả hạnh phúc hằng có đến người.
Cầu xin Chư Thiên hộ trì đến người.
Do nhờ oai đức của Chư Phật.
Các sự thạnh lợi thường thường đến người.

Tất cả hạnh phúc hằng có đến người.
Cầu xin Chư Thiên hộ trì đến người.
Do nhờ oai đức của Giáo Pháp.
Các sự thạnh lợi thường thường đến người.

Tất cả hạnh phúc hằng có đến người.
Cầu xin Chư Thiên hộ trì đến người.
Do nhờ oai đức của Chư Tăng.
Các sự thạnh lợi thường thường đến người.

 

HỒI HƯỚNG CHƯ THIÊN

Ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā,
Devā nāgā mahiddhikā,
Puññaṃ no anumodantu,
Ciraṃ rakkhantu sāsanaṃ.

(thay thế sāsanaṃ bằng: rājano, ñātayo, pānino, no sadā)

Chư Thiên ngự trên hư không,
Địa cầu thượng ngự rõ thông mọi điều.
Long Vương thần lực có nhiều,
Đồng xin hoan hỷ phước đều chúng tôi.
Hộ trì Phật giáo tăng bồi,
Các bậc Thầy tổ an vui lâu dài.
Quyến thuộc tránh khỏi nạn tai,
Chúng sanh được hưởng phước dài bền lâu.
Chúng con vui thú đạo mầu,
Tu hành tin tấn ngõ hầu vô sanh.

 

KỆ HỒI HƯỚNG NHỮNG NGƯỜI ĐÃ QUÁ VÃNG

Con xin hồi hướng quả này,
Thấu đến quyến thuộc nơi đây cho tường.
Cùng là thân thích tha phương,
Hoặc đã quá vãng hoặc thường hiện nay.
Chúng sanh ba giới bốn loài,
Vô tưởng hữu tưởng chẳng này đâu đâu.
Nghe lời thành thật thỉnh cầu,
Xin mau tựu hội lãnh thâu quả này.
Bằng ai xa cách chưa hay,
Cầu xin thiên chúng mách ngay với cùng.
Thảy đều thọ lãnh hưởng chung,
Dứt rồi tội lỗi thoát vòng nạn tai.
Nguyện cầu Tăng chúng đức tài,
Đạt thành thánh quả hoằng khai đạo lành.
Nguyện cho Phật Pháp thạnh hành,
Năm ngàn năm chẵn phước lành thế gian.


***

Idaṃ no ñātinaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.

Do sự phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây. Xin hồi hướng đến thân bằng quyến thuộc đã quá vãng, cầu mong cho các vị ấy hằng được sự yên vui.


Idaṃ vata me puññaṃ āsava-kkhayāv'ahaṃ hontu.

Do sự phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây, hãy là món duyên lành, để dứt khỏi những điều ô nhiễm, ngủ ngầm nơi tâm trong ngày vị lai.

SĀDHU!
SĀDHU!
SĀDHU!

 

Dowload file pdf: Hồi Hướng Hương Linh - khemarama

 

Friday February 17, 2023
Các bài viết khác :