Tìm Hiểu Dhammadesanākusala: Phước Thiện Thuyết Pháp

Phước Thiện - Tỳ Khưu Hộ Pháp

 

Dhammadesanākusala: Phước thiện thuyết pháp

– Định nghĩa Dhammadesanā

“Dhammaṃ desenti etāyā’ti dhammadesanā.”

Những người có khả năng thuyết dạy, giảng dạy chánh-pháp tế độ chúng-sinh gọi là dhammadesanā: phước-thiện thuyết-pháp, đó là tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm có yonisomanasikāra: sự hiểu biết trong tâm đúng theo thật-tánh của các pháp.

Dhammadesanākusala: Phước-thiện thuyết-pháp

* Vị nào có khả năng thuyết dạy, giảng dạy chánh-pháp với đại-thiện-tâm trong sạch, không cho tham-tâm phát sinh mong muốn mình là một pháp sư nổi tiếng, cũng không mong muốn được những phẩm vật cúng dường, cũng không muốn nhiều người đến lễ bái, cũng không muốn được nhiều thuộc hạ tùy tùng đông đảo, cũng không muốn danh thơm tiếng tốt, …mà chỉ có đại-thiện-tâm trong sạch tế độ người nghe, hy vọng mọi người cung-kính nghe chánh-pháp, hiểu rõ chánh-pháp của Đức-Phật mà thôi, thì phước-thiện thuyết-pháp trong sạch, chắc chắn có nhiều quả báu cao thượng.

* Người nào có khả năng thuyết, giảng dạy chánh-pháp với đại-thiện-tâm không trong sạch, bởi vì tham-tâm phát sinh mong muốn mình trở thành một pháp sư nổi tiếng, cũng mong muốn được những phẩm vật cúng dường, mong được nhiều người đến lễ bái, cúng dường, có được nhiều thuộc hạ tùy tùng đông đảo, được danh thơm tiếng tốt, có nhiều lợi lộc, v.v… thì phước-thiện thuyết-pháp không trong sạch, không có nhiều quả báu.

Thuyết-pháp với tâm không trong sạch

Vị tỳ-khưu thuyết-pháp với tâm không trong sạch, có tác-ý tâm-sở đồng sinh với bất-thiện-tâm (ác-tâm) nói trái với chánh-pháp, để mong đem lại sự lợi ích cho mình. Ví dụ:

Tích Kapilamacchavatthu

Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana, gần kinh-thành Sāvatthi. Khi ấy, Đức-Thế-Tôn đề cập đến con cá màu vàng tên Kapila, nên thuyết tích Kapilamacchavatthu(1) này, được tóm lược như sau:

Trong quá khứ, thời-kỳ Đức-Phật Kassapa(2) đã tịch diệt Niết-bàn. Khi ấy, một gia đình có 2 anh em đều đi xuất gia trở thành tỳ-khưu ở tại một ngôi chùa của vị thầy tế độ. Người mẹ và em gái cũng đi xuất gia trở thành tỳ-khưu-ni ở tại một ngôi chùa tỳ-khưu-ni.

1 Bộ Chú-giải Dhammapadaṭṭhakathā, tích Kapilamacchavatthu.
2 Thời-kỳ Đức-Phật Kassapa xuất hiện trên thế gian vào thời đại con người có tuổi thọ khoảng 20 ngàn năm, trong cùng Bhaddakappa kiếp trái đất này.

Toàn gia đình gồm có 4 người: người anh tên là tỳ-khưu Sāgata, người em trai tên là tỳ-khưu Kapila, người mẹ tên là tỳ-khưu-ni Sādhinī và người em gái tên là tỳ-khưu ni Tāpanā.

Sau khi trở thành tỳ-khưu, hằng ngày, hai tỳ-khưu huynh đệ thực-hành bổn phận đối với Ngài Trưởng-lão thầy tế-độ và Ngài Trưởng-lão thầy tế độ hướng dẫn dạy dỗ một cách chu đáo.

Một hôm, hai vị tỳ-khưu bạch hỏi vị thầy tế độ rằng:

– Kính bạch Ngài Trưởng-lão thầy tế độ, phận sự chính trong Phật-giáo là gì?

Ngài Trưởng-lão thầy tế độ truyền dạy rằng:

– Này hai con! Trong Phật-giáo có 2 phận sự chính:

1- Ganthadhura: phận sự học pháp-học Phật-giáo.

2- Vipassanādhura: phận sự thực-hành pháp-hành thiền-tuệ thuộc về pháp-hành Phật-giáo.

Nghe Ngài Trưởng-lão thầy tế độ dạy như vậy, vị tỳ-khưu Sāgata (huynh) lớn tuổi nghĩ rằng:

“Ta nên theo phận sự thực-hành pháp-hành thiền-tuệ thuộc về pháp-hành Phật-giáo.”

Vị tỳ-khưu Sāgata ở trong chùa, hằng ngày thực-hành pháp-hành phận sự người đệ tử đối với Ngài Trưởng-lão thầy tế-độ, và Ngài Trưởng-lão thầy tế độ dạy dỗ về giới luật rành rẽ và hiểu rõ phương pháp thực-hành pháp-hành thiền-tuệ (vipassanādhura) cho vị tỳ-khưu Sāgata suốt 5 năm.

Sau 5 năm, tỳ-khưu Sāgata đảnh lễ thầy tế độ, xin phép vào rừng thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót trở thành bậc Thánh A-ra-hán.

* Vị tỳ-khưu Kapila (đệ) nhỏ tuổi nghĩ rằng:

“Ta còn trẻ nên theo phận sự học pháp-học Phật-giáo trước, đến khi lớn tuổi ta sẽ theo phận sự thực-hành pháp-hành thiền-tuệ thuộc về pháp-hành Phật-giáo.”

Sau khi nghĩ như vậy, tỳ-khưu Kapila đảnh lễ Ngài Trưởng-lão thầy tế độ, xin theo phận sự học pháp-học Phật-giáo (ganthadhura) trước, nên tỳ-khưu Kapila cố gắng tinh-tấn theo học pháp-học Phật-giáo ghi nhớ thuộc lòng Tam-tạng Pāḷi, trở thành vị pháp-sư thuyết-pháp hay nổi tiếng, nên được nhiều người ngưỡng mộ, theo hộ độ, cúng dường nhiều phẩm vật.

Tỳ-khưu Kapila say mê trong danh lợi, rồi phát sinh tự cao ngã mạn, tự cho mình hiểu biết hơn người, hành động sai trái, nói năng sai trái với luật, trái với chánh-pháp của Đức-Phật.

* Điều hợp với luật, hợp với pháp, thì tỳ-khưu Kapila dám nói không hợp với luật, không hợp với pháp; và điều không hợp với luật, không hợp với pháp, thì tỳ-khưu Kapila dám nói hợp với luật, hợp với pháp.

* Điều có tội, thì tỳ-khưu Kapila dám nói vô tội; và điều vô tội, thì tỳ-khưu Kapila dám nói có tội, v.v …

Tỳ-khưu Kapila nương nhờ sự hiểu biết Tam-tạng Pāḷi, rồi trổ tài ngụy biện cho hành vi sai trái của mình, tỳ-khưu Kapila đã hành động và nói lời trái với chánh-pháp của Đức-Phật . Nghe thấy hành động sai trái và lời nói sai trái của tỳ-khưu Kapila, các Ngài Trưởng-lão thiện-trí có giới-đức trong sạch đến khuyên bảo tỳ-khưu Kapila rằng:

– Này pháp-hữu Kapila! Pháp-hữu không nên hành động và nói năng trái với chánh-pháp của Đức-Phật như vậy nữa, đó là điều không hợp với luật, không hợp với chánh-pháp.

Nghe các Ngài Trưởng-lão thiện-trí khuyên bảo như vậy, nhưng tỳ-khưu Kapila không những không biết phục thiện, mà còn chê trách các bậc thiện-trí rằng:

– Này các Ngài Trưởng-lão! Các Ngài biết được những gì! Các Ngài chỉ là các người rỗng tuếch mà thôi!

Tỳ-khưu Kapila càng ngày càng tự cao ngã mạn thường chê trách các Ngài Trưởng-lão có giới-đức trong sạch, và hăm dọa các tỳ-khưu nhỏ khác mà không chịu nghe theo lời của y.

Sư đệ không vâng lời sư huynh

Các Ngài Trưởng-lão thiện-trí không thể khuyên bảo tỳ-khưu Kapila được, nên quý Ngài Trưởng-lão đến bạch sự việc này cho Ngài Trưởng-lão Sāgata là bậc Thánh A-ra-hán cũng là sư huynh của tỳ-khưu Kapila.

Ngài Trưởng-lão Sāgata đến khuyên bảo rằng:

– Này sư đệ Kapila! Các Ngài Trưởng-lão thiện-trí khuyên bảo đúng đắn, để bảo vệ, duy trì chánh-pháp của Đức-Phật. Vậy, sư đệ nên vâng lời các Ngài Trưởng-lão thiện-trí ấy. Sư đệ không nên hành động và nói lời vô lễ đối với các Ngài Trưởng-lão ấy. Sư đệ không nên hành động và nói năng trái với chánh-pháp của Đức-Phật như vậy nữa.

Tuy Ngài Trưởng-lão Sāgata đã khuyên bảo đôi ba lần, nhưng tỳ-khưu Kapila ngoan cố không chịu từ bỏ những hành động sai lầm, nói lời sai trái với chánh-pháp của Đức-Phật. Biết tỳ-khưu Kapila không chịu nghe lời khuyên dạy của mình, nên Ngài Trưởng-lão Sāgata bảo rằng:

– Này sư đệ Kapila! Nếu sư đệ không từ bỏ những điều sai trái của mình thì sư đệ sẽ chịu những quả khổ của ác-nghiệp của mình.

Sau khi nhắc nhở khuyên dạy sư đệ Kapila như vậy, rồi Ngài Trưởng-lão Sāgata trở về chỗ ở của mình. Từ đó, các tỳ-khưu có giới-đức trong sạch đều xa lánh, không gần gũi với tỳ-khưu Kapila nữa. Tỳ-khưu Kapila vẫn hành động sai trái, nói lời sai trái cùng với nhóm thuộc hạ tùy tùng của y, sống chung với nhau.

Một hôm, tỳ-khưu Kapila nghĩ rằng:

“Hôm nay là ngày uposatha hằng tháng, ta nên đến làm lễ uposathakamma tại sīmā.”

Tỳ-khưu Kapila đến ngồi trên pháp tòa hỏi các tỳ-khưu rằng:

– Này các Ngài! Chư tỳ-khưu hành Tăng-sự tụng Bhikkhupātimokkha tại nơi đây phải không?

Nghe tỳ-khưu Kapila hỏi như vậy, các vị tỳ-khưu đều làm thinh, bởi vì nghĩ rằng:

“Không có lợi ích gì đối đáp với tỳ-khưu Kapila này.”

Thấy vậy, tỳ-khưu Kapila nói rằng:

“Āvuso, dhammo vā vinayo vā natthi, pātimokkhena sutena vā asutena vā ko attho.”

– Này các Ngài! Chánh-pháp hoặc chánh luật không có, nghe bhikkhupātimokkha hoặc không nghe bhikkhu-pātimokkha có lợi ích gì!

Sau khi nói như vậy, tỳ-khưu Kapila đứng dậy trở về chỗ ở của mình.

Tỳ-khưu Kapila vẫn chấp-thủ theo sự sai của mình, hành động, nói năng sai trái với chánh-pháp của Đức-Phật Kassapa, không biết phục thiện cho đến suốt đời.

* Ngài Trưởng-lão Sāgata là bậc Thánh A-ra-hán tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

* Sau khi tỳ-khưu Kapila chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi đại-địa-ngục Avīci, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy của mình suốt thời gian lâu dài.

* Tỳ-khưu-ni Sādhinī là thân-mẫu của tỳ-khưu Kapila, và tỳ-khưu-ni Tāpanā là em gái của tỳ-khưu Kapila thường bênh vực tỳ-khưu Kapila, chê trách, quở mắng các tỳ-khưu có giới-đức trong sạch, nên sau khi tỳ- khưu-ni Sādhinī và tỳ-khưu-ni Tāpanā chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi đại-địa-ngục Avīci, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy của mình suốt thời gian lâu dài.

Tái-sinh lên cõi trời nhờ phước-thiện giữ-giới

Trong thời-kỳ ấy, có nhóm trộm cướp 500 người vào xóm làng trộm cướp, bị số đông dân làng cầm khí giới vây bắt, họ hoảng sợ, chạy vào rừng trốn thoát, nhưng không tìm được nơi nương nhờ an toàn nào trong rừng, nhìn thấy vị tỳ-khưu sống trong rừng, nên họ cùng nhau đến đảnh lễ Ngài Trưởng-lão ấy, rồi bạch rằng:

– Kính bạch Ngài Trưởng-lão, kính xin Ngài Trưởng-lão là nơi nương nhờ an toàn của chúng con.

Ngài Trưởng-lão dạy bảo rằng:

– Này các con! Ngoài giới ra, không có nơi nương nhờ an toàn đối với các con. Vậy, các con nên thọ trì ngũ-giới.

Nghe Ngài Trưởng-lão dạy bảo như vậy, tất cả nhóm trộm cướp đều vâng lời dạy của Ngài Trưởng-lão, kính xin Ngài Trưởng-lão hướng dẫn cho thọ trì ngũ-giới.

Sau khi thọ trì ngũ-giới xong, Ngài Trưởng-lão khuyên dạy rằng:

– Này các con! Bây giờ các con là người có giới, mỗi người hãy cố gắng giữ gìn ngũ-giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn, thà phải hy sinh sinh-mạng, chứ không để phạm điều-giới nào.

Tất cả nhóm trộm cướp đều cung-kính vâng lời của Ngài Trưởng lão. Khi ấy, số đông dân làng cầm khí giới chạy đuổi theo đến khu rừng, tìm thấy nhóm trộm cướp gồm có 500 người, họ giết chết tất cả nhóm trộm cướp, không còn ai sống sót.

Sau khi nhóm trộm cướp 500 người ấy chết, đại-thiện-nghiệp giữ-giới cho quả tái-sinh lên cõi trời. Người cầm đầu nhóm trộm cướp trong tiền-kiếp, lại trở thành vị thiên-nam đứng đầu nhóm chư-thiên 500 vị. Nhóm chư thiên 500 vị hưởng mọi sự an-lạc trên cõi trời cho đến khi hết tuổi thọ tại cõi trời ấy.

Tái-sinh trong nhóm dân chài

Nhóm chư-thiên 500 vị ấy tử sinh luân-hồi trên cõi trời từ thời-kỳ trong giáo-pháp của Đức-Phật Kassapa cho đến thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, trải qua thời gian lâu dài trong cùng kiếp trái đất gọi là Bhaddakappa này.

Sau khi nhóm chư-thiên 500 vị chết tại cõi trời, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh xuống cõi người trong làng 500 gia đình dân chài. Sau khi vị thiên-nam trưởng nhóm chết, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh làm con của ông trưởng làng dân chài, nhóm chư-thiên còn lại, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh làm con của các gia đình dân chài.

Khi 500 đứa trẻ sinh ra đời, lúc trưởng thành, 500 đứa trẻ là bạn thân với nhau, con của ông trưởng làng dân chài là trưởng nhóm.

Kapila sinh làm con cá lớn da màu vàng

Hậu kiếp của tỳ-khưu Kapila bị thiêu đốt trong cõi đại-địa-ngục Avīci trải qua thời gian lâu dài từ thời-kỳ giáo-pháp của Đức-Phật Kassapa cho đến thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thời gian, mới thoát ra khỏi cõi địa-ngục, ác-nghiệp ấy lại cho quả tái-sinh làm con cá lớn da màu như vàng, nhưng miệng có mùi hôi ghê tởm, trong con sông Aciravatī.

Một hôm, nhóm trẻ 500 bạn thân bàn bạc với nhau rằng:

“Chúng ta nên đi bắt cá”. Chúng nó đem lưới chở trên ghe ra con sông Aciravatī, giăng lưới xuống nước bắt cá. Con cá lớn da màu vàng ấy bị mắc vào lưới của nhóm trẻ ấy, cha mẹ của chúng vui mừng reo hò lên rằng:

“Các con của chúng ta bắt được con cá lớn da màu vàng đẹp quá! Chúng ta nên đem con cá này dâng lên Đức-vua Pasenadi Kosala để lãnh thưởng.”

Nhóm trẻ bạn thân đặt con cá da màu vàng trên chiếc ghe, rồi cùng nhau khiêng đến cung điện của Đức-vua. Nhìn thấy con cá lớn chưa tùng thấy, nên Đức-vua Pasenadi Kosala truyền hỏi rằng:

– Này các ngươi! Các ngươi bắt con cá này ở đâu vậy?

Nhóm bạn trẻ tâu rằng:

– Muôn tâu Đại-vương, chúng tiện dân bắt con cá này tại con sông Aciravatī.

Đức-vua nhìn thấy con cá lớn da màu vàng rất xinh đẹp, nên nghĩ rằng:

“Đức-Thế-Tôn biết rõ nguyên nhân nào con cá lớn này có da màu vàng như thế này.”

Truyền bảo nhóm trẻ khiêng con cá lớn ấy đến ngôi chùa Jetavana, Đức-vua cùng ngự đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn. Con cá lớn có màu da màu vàng ấy hả miệng ra, thì mùi hôi ghê tởm từ miệng con cá ấy tỏa ra khắp ngôi chùa Jetavana.

Khi ấy, Đức-vua Pasenadi Kosala bạch hỏi Đức-Thế-Tôn rằng:

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, do nguyên nhân nào con cá lớn này có màu da màu vàng xinh đẹp như vậy? Do nguyên nhân nào miệng của nó có mùi hôi ghê tởm như vậy? Bạch Ngài.

Nghe Đức-vua Pasenadi Kosala bạch hỏi như vậy, Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

– Này Đại Vương! Tiền-kiếp của con cá lớn này là vị tỳ-khưu tên Kapila trong giáo-pháp của Đức-Phật Kassapa. Vị tỳ-khưu Kapila cố gắng tinh-tấn học ghi nhớ nhiều trong Tam-tạng Pāḷi, trở thành vị pháp-sư thuyết-pháp hay, nên được nhiều người ngưỡng mộ, vì có nhiều người theo hộ độ, cúng dường nhiều phẩm vật, tỳ-khưu Kapila say mê trong danh lợi, rồi phát sinh tự cao ngã mạn, tự cho mình hiểu biết hơn người. Tỳ-khưu Kapila hành động sai trái với giới luật, nói năng sai trái với chánh-pháp của Đức-Phật Kassapa, thường chê trách các Ngài Trưởng-lão thiện-trí có giới-đức trong sạch, hăm doạ các tỳ-khưu nhỏ không nghe theo mình. Tỳ-khưu Kapila vẫn chấp-thủ những điều sai trái ấy cho đến chết. Sau khi tỳ-khưu Kapila chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi đại-địa-ngục Avīci, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy suốt thời gian lâu dài. Nay kiếp hiện-tại, cũng do ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh làm con cá lớn này:

* Con cá lớn có màu da vàng, đó là quả của đại-thiện-nghiệp học Tam-tạng Pāḷi, tán dương ân-đức Phật-bảo trong kiếp quá-khứ.

* Cái miệng của con cá lớn có mùi hôi hám đáng ghê tởm, đó là quả của ác-nghiệp nói điều sai trái với chánh-pháp của Đức-Phật Kassapa, thường chê trách các Ngài Trưởng-lão thiện-trí có giới-đức trong sạch, hăm dọa các tỳ-khưu nhỏ có giới-đức trong sạch.

– Này Đại-vương! Như-Lai truyền bảo con cá này trả lời những câu hỏi cho Đại-vương nghe.

Đức-vua Pasenadi Kosala bạch rằng:

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, kính thỉnh Đức-Thế-Tôn truyền bảo con cá trả lời những câu hỏi. Bạch Ngài.

Đức-Thế-Tôn truyền hỏi con cá ấy rằng:

– Này cá! Con tên là Kapila đúng không?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, đúng, tên con là Kapila.

– Này cá! Tiền-kiếp của con từ đâu đến?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, tiền-kiếp của con từ đại-địa-ngục Avīci đến.

– Này cá! Sư huynh Sāgata của con sinh ở đâu?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, sư huynh Sāgata của con đã tịch diệt Niết-bàn.

– Này cá! Tỳ-khưu-ni Sādhanī là mẹ của con sinh ở cõi nào?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, tỳ-khưu-ni Sādhanī là mẹ của con sinh trong cõi đại-địa-ngục.

– Này cá! Tỳ-khưu-ni Tāpanā là em của con sinh ở cõi nào?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, Tỳ-khưu-ni Tāpanā là em của con cũng sinh trong cõi đại-địa-ngục.

– Này cá! Bây giờ, con sẽ sinh cõi nào?

Con cá tên Kapila bạch rằng:

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, sau khi con chết, ác-nghiệp cho quả sẽ tái-sinh trong cõi đại-địa-ngục Avīci.

Sau khi bạch với Đức-Thế-Tôn như vậy, con cá Kapila phát sinh nóng nảy, nên đập đầu vào be thuyền vỡ đầu chết ngay tại chỗ, sau khi chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi đại-địa-ngục Avīci.

Nghe và thấy cảnh tượng như vậy, mọi người hết sức kinh ngạc.

Qua tích Kapilamacchavatthu này, tỳ-khưu Kapila vốn là vị học ghi nhớ nhiều trong Tam-tạng Pāḷi trong thời-kỳ Đức-Phật Kassapa. Tỳ-khưu Kapila thuyết-pháp hay nổi tiếng, nên được nhiều người ngưỡng mộ, cúng dường nhiều phẩm vật.

Về sau, tỳ-khưu Kapila say mê trong danh lợi, phát sinh tâm ngã mạn, tự cho mình hơn người, nên nói điều nào có lợi cho mình, dù cho điều ấy không hợp với luật mà Đức-Phật đã chế định, không hợp với chánh-pháp mà Đức-Phật đã thuyết giảng.

Mỗi khi, nếu có Ngài Trưởng-Lão đến khuyên dạy, nhắc nhở thì tỳ-khưu Kapila không biết phục thiện, cố chấp-thủ, nhờ dựa vào vốn hiểu biết về pháp-học Phật-giáo, rồi ngụy biện bào chữa cho hành vi sai trái, lời nói sai trái của mình.

Học pháp-học Phật-giáo như tỳ-khưu Kapila ví như người bắt rắn độc phần đuôi, không chỉ có hại cho mình, mà còn đem lại sự tai hại cho những người gần gũi thân cận tin tưởng khác nữa.

Đức-Phật dạy có 3 hạng người học pháp-học Phật-giáo như sau:

1- Alagadda pariyatti: Hạng người học pháp-học Phật-giáo ví như người bắt rắn độc phần đuôi có hại cho sinh-mạng của mình.

2- Nissaraṇa pariyatti: Hạng người học pháp-học Phật-giáo để thực-hành mong giải thoát khỏi khổ tử sinh luân-hồi trong 3 giới 4 loài.

3- Bhaṇḍāgārika pariyatti: Bậc Thánh A-ra-hán học pháp-học Phật-giáo cốt để giữ gìn, duy trì kho tàng Pháp-bảo của Đức-Phật.

Hai nhóm tỳ khưu xứ Kosambī cãi cọ nhau

Vào khoảng thời gian cuối hạ thứ 9, chưa đến hạ thứ 10 của Đức-Phật Gotama, một sự kiện xảy ra tại ngôi chùa Ghositārāma, xứ Kosambī như sau:

Một nhóm tỳ-khưu thông-thuộc-luật (vinayadhara) với một nhóm tỳ-khưu thông-thuộc-kinh (suttantadhara) cãi cọ, tranh luận với nhau, do nguyên nhân bắt nguồn từ một việc nhỏ:

* Một vị tỳ-khưu thông-thuộc-kinh đi ra khỏi nhà vệ sinh, để nước rửa còn dư trong ca.

* Một vị tỳ-khưu thông-thuộc-luật đi vào nhà vệ sinh, nhìn thấy nước rửa còn dư trong ca,…

Với một chuyện nhỏ hiểu lầm nhau, dẫn đến chia ra thành 2 nhóm tỳ-khưu, không chịu hành Tăng-sự chung với nhau. Hay biết sự việc xảy ra như vậy, nên Đức-Phật ngự đến khuyên dạy mỗi nhóm tỳ-khưu ấy không nên cãi cọ, tranh luận với nhau nữa, hãy nên sám hối, rồi cùng nhau hòa hợp, cùng nhau hành Tăng-sự, nhưng không nhóm nào chịu vâng theo lời giáo huấn của Đức-Phật.

Một hôm, Đức-Thế-Tôn ngự đi khất thực trong thành Kosambī, sau khi độ ngọ xong, Đức-Thế-Tôn một mình rời khỏi thành Kosambī, ngự đi vào khu rừng Pālileyyaka. Một mình ngự tại khu rừng thanh vắng này Đức-Thế-Tôn nghĩ rằng:

“Trước đây, hai nhóm tỳ-khưu xứ Kosambī cãi cọ với nhau, tranh luận với nhau. Bây giờ, Như-Lai ở một mình, không có người nào bên cạnh, vắng vẻ, yên tịnh biết dường nào!”

Đức-Thế-Tôn an cư nhập hạ thứ mười tại khu rừng Pālileyyaka này. Voi chúa Pālileyyaka chán ngán với cảnh sống chung chạ với đàn voi con nhỏ, nên nó lẩn tránh vào khu rừng này, gặp Đức-Thế-Tôn, nó cảm thấy vô cùng hoan-hỷ làm bổn phận phục vụ hộ độ Đức-Thế-Tôn, như người đệ-tử biết phận sự lo hầu hạ thầy.

Thấy voi chúa Pālileyyaka hộ độ Đức-Thế-Tôn, con khỉ phát sinh đức-tin trong sạch cũng bắt chước hộ độ Đức-Thế-Tôn.

Hằng ngày, con khỉ vào rừng tìm các loại trái cây chín ngon, đem về cúng dường đến Đức-Thế-Tôn. Một hôm, con khỉ gặp tổ ong mật không còn con ong, nó đem về cúng dường lên Đức-Thế-Tôn. Nhìn thấy Đức-Thế-Tôn dùng mật ong ấy, nó vô cùng hoan-hỷ nhảy nhót, vì sơ ý rơi xuống đất chết.

* Sau khi con khỉ chết, đại-thiện-nghiệp bố-thí cúng dường mật ong ấy cho quả tái-sinh làm vị thiên-nam có tên là Makkaṭa devaputta trong lâu đài nguy nga tráng lệ trên cõi trời Tam-thập-tam-thiên.

Dân chúng thành Kosambī hay biết tin Đức-Thế-Tôn một mình ngự vào khu rừng Pālileyyaka an cư nhập hạ, bởi vì hai nhóm tỳ-khưu cãi cọ với nhau, tranh luận với nhau, dù Đức-Thế-Tôn ngự đến khuyên dạy hai nhóm tỳ-khưu không nên cãi cọ với nhau nữa, nhưng hai nhóm tỳ-khưu vẫn không vâng lời giáo huấn của Đức-Thế-Tôn.

Toàn thể dân chúng thành Kosambī đều nhất trí với nhau rằng:

“Chúng ta không đón tiếp, không đảnh lễ, không tạo phước-thiện bố-thí cúng dường vật thực đến hai nhóm tỳ-khưu ấy.”

Khi hai nhóm tỳ-khưu ấy đi khất thực trong thành Kosambī, không có ai cúng dường vật thực suốt 2-3 ngày liền chịu đói, cho nên, hai nhóm tỳ-khưu ấy không còn thái độ cứng rắn như trước. Họ chịu sám hối với nhau, hòa hợp với nhau như trước.

Hai nhóm tỳ-khưu cùng nhau đi đến gặp dân chúng trong thành Kosambī, báo cho dân chúng biết, tất cả họ đã hòa hợp với nhau rồi.

Sau 3 tháng mùa mưa an cư nhập hạ xong, Ngài Trưởng-lão Ānanda cùng nhóm 500 tỳ-khưu rời khỏi kinh-thành Sāvatthi, đi đến khu rừng Pālileyyaka, để hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn. Khi ấy, Đức-Thế-Tôn thuyết-pháp tế độ 500 tỳ-khưu đều chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán tại nơi ấy.

Ngài Trưởng-lão Ānanda bạch với Đức-Thế-Tôn theo lời thỉnh mời của ông phú hộ Anāthapiṇḍika, bà Visākhā, …kính thỉnh Đức-Thế-Tôn ngự đến kinh-thành Sāvatthi.

Đức-Thế-Tôn im lặng nhận lời. Đức-Thế-Tôn rời khỏi khu rừng Pālileyyaka ngự đi đến kinh-thành Sāvatthi cùng với chư tỳ-khưu-Tăng.

* Voi chúa Pālileyyaka tiễn đưa Đức-Thế-Tôn ra đến bìa rừng, Đức-Thế-Tôn dạy voi chúa Pālileyyaka rằng:

– Này Pālileyyaka! Con nên trở lại khu rừng, từ đây trở ra thuộc địa phận loài người, có thể có hại đến con!

Nghe giọng phạm âm phát sinh từ tâm-từ của Đức-Thế-Tôn, Voi chúa Pālileyyaka đứng lại nhìn theo với tâm kính yêu vô hạn.

Khi Đức-Thế-Tôn vừa khuất, voi chúa Pālileyyaka đứng chết tại nơi ấy, sau khi chết, đại-thiện-nghiệp phục vụ Đức-Thế-Tôn ấy cho quả tái-sinh làm vị thiên-nam tên là Pālileyyaka devaputta trong lâu đài nguy nga tráng lệ tại cõi trời Tam-thập-tam-thiên.

Đúng pháp và sai pháp (dhamma-adhamma)

Khi đến kinh-thành Sāvatthi, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana. Nghe tin tất cả hai nhóm tỳ-khưu xứ Kosambī đang trên đường đến kinh-thành Sāvatthi, để hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi bạch rằng:

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, tất cả hai nhóm tỳ-khưu xứ Kosambī sẽ đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, để xin sám hối. Vậy, con nên đối xử với họ như thế nào? Bạch Ngài.

Đức-Thế-Tôn khuyên dạy Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta rằng:

– Này Sāriputta! Con nên đối xử với tất cả tỳ-khưu ấy theo chánh-pháp.

Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta bạch rằng:

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, con nên biết phân biệt thế nào gọi là tỳ-khưu nói tà-pháp (adhammavādī) và thế nào gọi là tỳ-khưu nói chánh-pháp (dhammavādī)?

Đức-Thế-Tôn khuyên dạy rằng:

– Này Sāriputta! Con nên biết phân biệt tỳ-khưu nói tà-pháp có 18 điều như sau:

18 điều tà pháp(1)

1 Vinayapiṭaka. Bộ Mahāvaggapāḷi, xem quyển “Giáo Pháp”, cùng soạn giả.

Tỳ-khưu trong Phật-giáo này là người:

1- Thuyết giảng điều tà-pháp, nói là điều chánh-pháp.
2-Thuyết giảng điều chánh-pháp, nói là điều tà-pháp.
3- Thuyết giảng điều sai luật, nói là điều đúng luật.
4- Thuyết giảng điều đúng luật, nói là điều sai luật.
5- Thuyết giảng điều Như-Lai không thuyết giảng, nói là điều Như-Lai thuyết giảng.
6- Thuyết giảng điều Như-Lai thuyết giảng, nói là điều Như-Lai không thuyết giảng.
7- Thuyết giảng điều Như-Lai không thường hành, nói là điều Như-Lai thường hành.
8- Thuyết giảng điều Như-Lai thường hành, nói là điều Như-Lai không thường hành
9- Thuyết giảng điều Như-Lai không chế định, nói là điều Như-Lai chế định.
10- Thuyết giảng điều Như-Lai chế định, nói là điều Như-Lai không chế định.
11- Thuyết giảng điều phạm giới, nói là điều không phạm giới.
12- Thuyết giảng điều không phạm giới, nói là điều phạm giới.
13- Thuyết giảng điều phạm giới nhẹ, nói là điều phạm giới nặng.
14- Thuyết giảng điều phạm giới nặng, nói là điều phạm giới nhẹ.
15- Thuyết giảng điều phạm giới rồi còn phạm giới nữa, nói là điều phạm giới, rồi không còn phạm giới nữa.
16- Thuyết giảng điều phạm giới rồi không còn phạm giới nữa, nói là điều phạm giới rồi còn phạm giới nữa.
17- Thuyết giảng điều phạm giới trầm trọng, nói là điều phạm giới không trầm trọng.
18- Thuyết giảng điều phạm giới không trầm trọng, nói là điều phạm giới trầm trọng.

– Này Sāriputta! Con nên biết phân biệt tỳ-khưu nói tà-pháp có 18 điều như vậy.

18 điều chánh pháp

– Này Sāriputta! Con nên biết phân biệt tỳ-khưu nói chánh-pháp có 18 điều như sau:

Tỳ-khưu trong Phật giáo này là người:

1- Thuyết giảng điều tà-pháp, nói là điều tà-pháp.
2- Thuyết giảng điều chánh-pháp, nói là điều chánh-pháp.
3- Thuyết giảng điều sai luật, nói là điều sai luật.
4- Thuyết giảng điều đúng luật, nói là điều đúng luật.
5- Thuyết giảng điều Như-Lai không thuyết giảng, nói là điều Như-Lai không thuyết giảng.
6- Thuyết giảng điều Như-Lai thuyết giảng, nói là điều Như-Lai thuyết giảng.
7- Thuyết giảng điều Như-Lai không thường hành, nói là điều Như-Lai không thường hành.
8- Thuyết giảng điều Như-Lai thường hành, nói là điều Như-Lai thường hành.
9- Thuyết giảng điều Như-Lai không chế định, nói là điều Như-Lai không chế định.
10- Thuyết giảng điều Như-Lai chế định, nói là điều Như-Lai chế định.
11- Thuyết giảng điều phạm giới, nói là điều phạm giới.
12- Thuyết giảng điều không phạm giới, nói là điều không phạm giới.
13- Thuyết giảng điều phạm giới nhẹ, nói là điều phạm giới nhẹ.
14- Thuyết giảng điều phạm giới nặng, nói là điều phạm giới nặng.
15- Thuyết giảng điều phạm giới rồi còn phạm giới nữa, nói là điều phạm giới, rồi còn phạm giới nữa.
16- Thuyết giảng điều phạm giới rồi không còn phạm giới nữa, nói là điều phạm giới rồi không còn phạm giới nữa.
17- Thuyết giảng điều phạm giới trầm trọng, nói là điều phạm giới trầm trọng.
18- Thuyết giảng điều phạm giới không trầm trọng, nói là điều phạm giới không trầm trọng.

– Này Sāriputta! Con nên biết phân biệt tỳ-khưu nói chánh-pháp có 18 điều như vậy.

Tà pháp (Adhamma) đó là

– 10 bất-thiện-nghiệp hoặc 10 ác-nghiệp.
– 4 pháp-chấp-thủ: Tham-dục chấp-thủ, tà-kiến chấp-thủ, pháp thường-hành chấp-thủ, ngã-kiến chấp-thủ.
– 8 tà-đạo (micchāmagga): Tà-kiến, tà-tư-duy, tà-ngữ, tà-nghiệp, tà-mạng, tà-tinh-tấn, tà-niệm, tà-định.

Tóm lại các ác-pháp đều gọi là tà-pháp (adhamma).

Chánh pháp (Dhamma) đó là

– 10 đại-thiện-nghiệp.

– 37 Pháp chứng đắc Thánh-đạo (Bodhipakkhiya-dhamma): 4 pháp-niệm-xứ, 4 pháp-tinh-tấn, 4 pháp-thành-tựu, 5 pháp-chủ, 5 pháp-lực, 7 pháp-giác-chi, 8 pháp-chánh-đạo.

Tóm lại các thiện-pháp đều gọi là chánh-pháp (dhamma).

Tà-pháp hoặc chánh-pháp có tầm quan trọng như thế nào trong Phật-giáo?

* Người nào thuyết tà-pháp, giảng tà-pháp đem lại sự tai hại, sự thoái hóa, sự khổ não lâu dài không chỉ riêng cho người ấy, mà còn cho nhiều người liên quan khác nữa, nhất là làm cho Phật-giáo suy thoái.

* Người nào thuyết chánh-pháp, giảng chánh-pháp đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc lâu dài không chỉ riêng cho người ấy, mà còn cho nhiều người liên quan khác nữa, nhất là làm cho Phật-giáo phát triển.

Như trong Chi-bộ-kinh, phần 1 chi có 2 phần:

– Thuyết-pháp làm cho chánh-pháp suy thoái.

– Thuyết-pháp làm cho chánh-pháp phát triển.

Thuyết pháp làm cho chánh pháp suy thoái như thế nào?

Đức-Phật thuyết dạy rằng:

1-“Ye te bhikkhave, bhikkhū adhammaṃ ‘dhammo’ti dīpenti, Te bhikkhave, bhikkhū bahujana-ahitāya paṭi-pannā bahujana asukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṃ. Bahuñca te bhikkhave, bhikkhū apuññaṃ pasavanti, te cimaṃ saddhammaṃ antaradhāpentī’ti.”

2-“Ye te bhikkhave, bhikkhū dhammaṃ ‘adhammo’ti dīpenti, Te bhikkhave, bhikkhū bahujana ahitāya paṭi-pannā bahujana asukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṃ. Bahuñca te bhikkhave, bhikkhū apuññaṃ pasavanti, te cimaṃ saddhammaṃ antaradhāpentī’ti.”

3-“Ye te bhikkhave, bhikkhū avinayaṃ ‘vinayo’ti dīpenti, Te bhikkhave, bhikkhū bahujana ahitāya paṭi-pannā bahujana asukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṃ. Bahuñca te bhikkhave, bhikkhū apuññaṃ pasavanti, te cimaṃ saddhammaṃ antaradhāpentī’ti.”

4-“Ye te bhikkhave, bhikkhū vinayaṃ ‘avinayo’ti dīpenti, Te bhikkhave, bhikkhū bahujana ahitāya paṭi-pannā bahujana asukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṃ. Bahuñca te bhikkhave, bhikkhū apuññaṃ pasavanti, te cimaṃ saddhammaṃ antaradhāpentī’ti…”

Thuyết pháp làm cho chánh pháp phát triển như thế nào?

Đức-Phật thuyết dạy rằng:

1-“Ye te bhikkhave, bhikkhū adhammaṃ ‘adhammo’ti dīpenti, Te bhikkhave, bhikkhū bahujanahitāya paṭi-pannā bahujanasukhāya bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. Bahuñca te bhikkhave, bhikkhū puññaṃ pasavanti, te cimaṃ saddhammaṃ ṭhāpentī’ti.”

2-“Ye te bhikkhave, bhikkhū dhammaṃ ‘dhammo’ti dīpenti, Te bhikkhave, bhikkhū bahujanahitāya paṭipannā bahujanasukhāya bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. Bahuñca te bhikkhave, bhikkhū puññaṃ pasavanti, te cimaṃ saddhammaṃ ṭhāpentī’ti”.

3-“Ye te bhikkhave, bhikkhū avinayaṃ ‘avinayo’ti dīpenti, Te bhikkhave, bhikkhū bahujanahitāya paṭi-pannā bahujanasukhāya bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. Bahuñca te bhikkhave, bhikkhū puññaṃ pasavanti, te cimaṃ saddhammaṃ ṭhāpentī’ti.”

4-“Ye te bhikkhave, bhikkhū vinayaṃ ‘vinayo’ti dīpenti, Te bhikkhave, bhikkhū bahujanahitāya paṭi-pannā bahujanasukhāya bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. Bahuñca te bhikkhave, bhikkhū puññaṃ pasavanti, te cimaṃ saddhammaṃ ṭhāpentī’ti…”(1)

1 Aṅguttaranikāya, phần Ekakanipāta, Dutiyapamādādivagga.

Ý nghĩa

* Thuyết-pháp làm cho chánh-pháp suy thoái như thế nào?

1- Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều tà-pháp (adhamma) mà nói là ‘chánh-pháp’(dhamma).

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều không đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, không đem lại sự an-lạc cho nhiều người, mà đem lại sự tai hại, sự thoái hóa, sự khổ não đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều tội-lỗi, nhiều ác-nghiệp và còn làm cho chánh-pháp suy thoái nữa.

2- Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều chánh-pháp (dhamma) mà nói là ‘tà-pháp’(adhamma).

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều không đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, không đem lại sự an-lạc cho nhiều người, mà đem lại sự tai hại, sự thoái hóa, sự khổ não đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều tội-lỗi, nhiều ác-nghiệp và còn làm cho chánh-pháp suy thoái nữa.

3- Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều sai luật (avinaya) mà nói là ‘đúng luật’ (vinaya).

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều không đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, không đem lại sự an-lạc cho nhiều người, mà đem lại sự tai hại, sự thoái hóa, sự khổ não đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều tội-lỗi, nhiều ác-nghiệp và còn làm cho chánh-pháp suy thoái nữa.

4- Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều đúng luật (vinaya) mà nói là ‘sai luật’ (avinaya).

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều không đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, không đem lại sự an-lạc cho nhiều người, mà đem lại sự tai hại, sự thoái hóa, sự khổ não đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều tội-lỗi, nhiều ác-nghiệp và còn làm cho chánh-pháp suy thoái nữa.

Tương tự như trên Đức-Phật thuyết dạy:

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai không thuyết giảng (abhāsitaṃ alapitaṃ Tathāgatena) mà nói là Như-Lai thuyết giảng (bhāsitaṃ lapitaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai thuyết giảng (bhāsitaṃ lapitaṃ Tathāgatena) mà nói là Như-Lai không thuyết giảng (abhāsitaṃ alapitaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai không thường hành (anāciṇṇaṃ Tathā-gatena) mà nói là Như-Lai thường hành (āciṇṇaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai thường hành (āciṇṇaṃ Tathāgatena) mà nói là Như-Lai không thường hành (anāciṇṇaṃ Tathā-gatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai không chế định (apaññattaṃ Tathāgatena) mà nói là Như-Lai chế định (paññattaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai chế định (paññattaṃ Tathāgatena) mà nói là Như-Lai không chế định (apaññattaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều không đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, không đem lại sự an-lạc cho nhiều người, mà đem lại sự tai hại, sự thoái hóa, sự khổ não đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều tội-lỗi, nhiều ác-nghiệp và còn làm cho chánh-pháp suy thoái nữa.

* Thuyết-pháp làm cho chánh-pháp phát triển như thế nào?

1- Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều tà-pháp (adhamma) nói là ‘tà-pháp’ (adhamma).

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, đem lại sự an-lạc cho nhiều người, chắc chắn đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều phước-thiện, nhiều thiện-nghiệp, và còn làm cho chánh-pháp được phát triển nữa.

2- Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều chánh-pháp (dhamma) nói là ‘chánh-pháp’(dhamma).

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, đem lại sự an-lạc cho nhiều người, chắc chắn đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều phước-thiện, nhiều thiện-nghiệp và còn làm cho chánh-pháp được phát triển nữa.

3- Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều sai luật (avinaya) nói là ‘sai luật’ (avinaya).

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, đem lại sự an-lạc cho nhiều người, chắc chắn đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều phước-thiện, nhiều thiện-nghiệp và còn làm cho chánh-pháp được phát triển nữa.

4- Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều đúng luật (vinaya) nói là ‘đúng luật’ (vinaya).

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, đem lại sự an-lạc cho nhiều người, chắc chắn đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều phước-thiện, nhiều thiện-nghiệp, và còn làm cho chánh-pháp được phát triển nữa.

Tương tự như trên Đức-Phật thuyết dạy:

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai không thuyết giảng (abhāsitaṃ alapitaṃ Tathāgatena) nói là Như-Lai không thuyết giảng (abhāsitaṃ alapitaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai thuyết giảng (bhāsitaṃ lapitaṃ Tathā-gatena) nói là Như-Lai thuyết giảng (bhāsitaṃ lapitaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai không thường hành (anāciṇṇaṃ Tathā-gatena) nói là Như-Lai không thường hành (anāciṇṇaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai thường hành (āciṇṇaṃ Tathāgatena) nói là Như-Lai thường hành (āciṇṇaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai không chế định (apaññattaṃ Tathāgatena) nói là Như-Lai không chế định (apaññattaṃ Tathāgatena).

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu nào thuyết giảng điều Như-Lai chế định (paññattaṃ Tathāgatena) nói là Như-Lai chế định (paññattaṃ Tathāgatena)…

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy đã thuyết những điều đem lại sự tiến hóa cho nhiều người, đem lại sự an-lạc cho nhiều người, chắc chắn đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc đến chư-thiên và nhân loại.

– Này chư tỳ-khưu! Những tỳ-khưu ấy tích lũy nhiều phước-thiện, nhiều thiện-nghiệp và còn làm cho chánh-pháp được phát triển nữa …

Pháp luật là lời giáo huấn của Đức Phật

Trong Tạng Luật, bộ Cūḷavagga, Đức-Phật thuyết dạy Đại-đức Tỳ-khưu-ni Mahāpajāpati Gotamī biết phân biệt rõ điều không đúng pháp, điều không đúng luật, điều không đúng lời giáo huấn của Đức-Phật và biết rõ điều đúng pháp, điều đúng luật, điều đúng lời giáo huấn của Đức-Phật.

Không đúng pháp, luật, lời giáo huấn của Đức-Phật

– Này Gotamī! Con nên biết phân biệt pháp nào

* là pháp làm phát sinh tham-ái, không phải diệt tham-ái,
* là pháp ràng buộc trong cảnh khổ, không phải giải thoát khỏi cảnh khổ,
* là pháp chấp-thủ trong tử sinh luân-hồi, không phải giải thoát khổ tử sinh luân-hồi,
* là pháp tham muốn nhiều, không phải tham muốn ít,
* là pháp không biết tri túc, không phải biết tri túc,
* là pháp thích sống chung nhiều người, không phải sống một mình nơi thanh vắng,
* là pháp làm biếng nhác, không phải cố gắng tinh-tấn,
* là pháp sống khó nuôi, không phải sống dễ nuôi.

Như vậy, con nên biết rõ chắc chắn rằng: Những pháp ấy là không đúng pháp, không đúng luật, không đúng lời giáo huấn của Đức-Tôn-sư.

Đúng pháp, luật, lời giáo huấn của Đức-Phật

– Này Gotamī! Con nên biết phân biệt pháp nào

* là pháp diệt tham-ái, không phải làm phát sinh tham-ái.
* là pháp giải thoát khỏi cảnh khổ, không phải ràng buộc trong cảnh khổ.
* là pháp giải thoát khổ tử sinh luân-hồi, không phải chấp-thủ trong tử sinh luân-hồi.
* là pháp tham muốn ít, không phải tham muốn nhiều.
* là pháp biết tri túc, không phải không biết tri túc.
* là pháp sống một mình nơi thanh vắng, không phải thích sống chung nhiều người.
* là pháp cố gắng tinh-tấn, không phải làm biếng nhác.
* là pháp sống dễ nuôi, không phải sống khó nuôi.

Như vậy, con nên biết rõ chắc chắn rằng: Những pháp ấy là đúng pháp, đúng luật, đúng lời giáo huấn của Đức-Tôn-sư(1) .

1 Vinayapiṭka, Cūḷavaggapāli, Paṭhamabhāṇavāra.

Ngài Trưởng lão Pháp sư (Dhammakathika)

Ngài Trưởng-lão Pháp-sư không chỉ là Bậc đa-văn túc-trí (bahussuta) học nhiều hiểu rộng, uyên thâm sâu sắc, thông thuộc, thấu suốt Tam-tạng Pāḷi và Chú-giải Pāḷi thuộc về pháp-học Phật-giáo, mà còn giảng giải rành rẽ về pháp-hành Phật-giáo nữa.

Kinh Dhammakathikasutta(2)

2 Saṃyuttanikāya, phần Khandhavagga, Dhammakathikasutta.

Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana, gần kinh-thành Sāvatthi. Khi ấy, một vị tỳ-khưu đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi ngồi một nơi hợp lẽ, bạch hỏi Đức-Thế-Tôn rằng:

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, tỳ-khưu như thế nào được gọi là ‘Dhammakathika, Dhammakathika’ Ngài Trưởng-lão Pháp-sư, Ngài Trưởng-lão Pháp-sư? Bạch Ngài.

Tỳ-khưu như thế nào được gọi là ‘dhammānudham-mappaṭipanno bhikkhu’ tỳ-khưu thực-hành chánh-pháp chứng đắc siêu-tam-giới-pháp? Bạch Ngài.

Tỳ-khưu như thế nào được gọi là ‘diṭṭhadhamma-nibbānappatto bhikkhu’ tỳ-khưu đạt đến Niết-bàn kiếp hiện-tại? Bạch Ngài.

Đức-Phật thuyết dạy rằng:

– Này tỳ-khưu! Nếu tỳ-khưu nào thuyết giảng chánh-pháp để phát sinh tâm nhàm chán, để xa lìa tham-ái, để diệt sắc-uẩn thì nên gọi tỳ-khưu ấy là vị pháp-sư (dhammakathika bhikkhu).

* Nếu tỳ-khưu nào là hành-giả thực-hành chánh-pháp, để phát sinh tâm nhàm chán, để xa lìa tham-ái, để diệt sắc-uẩn thì nên gọi tỳ-khưu ấy là hành-giả thực-hành chánh-pháp chứng đắc siêu-tam-giới-pháp (dham-mānudhammappaṭipanno bhikkhu).

* Nếu tỳ-khưu nào là hành-giả thực-hành chánh-pháp đã hoàn toàn giải thoát, không còn chấp-thủ, bởi vì đã nhàm chán, đã xa lìa tham-ái, đã diệt được sắc-uẩn thì gọi tỳ-khưu ấy là hành-giả đã đạt đến Niết-bàn kiếp hiện-tại (diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhu).

Tương tự như trên,

Nếu tỳ-khưu nào thuyết giảng chánh-pháp để phát sinh tâm nhàm chán, để xa lìa tham ái, để diệt thọ-uẩn, … tưởng-uẩn,… hành-uẩn,… thức-uẩn thì gọi tỳ-khưu ấy là vị pháp-sư (dhammakathika bhikkhu).

* Nếu tỳ-khưu nào là hành-giả thực-hành chánh- pháp, để phát sinh tâm nhàm chán, để xa lìa tham-ái, để diệt thọ-uẩn,… diệt tưởng-uẩn,… diệt hành-uẩn,… diệt thức-uẩn thì gọi tỳ-khưu ấy là hành-giả thực-hành chánh-pháp chứng đắc siêu-tam-giới-pháp (dham-mānudhammappaṭipanno bhikkhu).

* Nếu tỳ-khưu nào là hành-giả thực-hành chánh-pháp, đã hoàn toàn giải thoát, không còn chấp-thủ, bởi vì đã nhàm chán, đã xa lìa tham-ái, đã diệt được thọ-uẩn,… diệt tưởng-uẩn,… diệt hành-uẩn,… diệt thức-uẩn thì gọi tỳ-khưu ấy là hành-giả đã đạt đến Niết-bàn kiếp hiện-tại (diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhu).

Vấn: Nếu có cùng câu hỏi thì bậc Thánh Thanh-văn giải đáp với Đức-Phật giải đáp có khác nhau hay không?

Đáp: Nếu có cùng câu hỏi thì bậc Thánh Thanh-văn giải đáp với Đức-Phật giải đáp về nội dung ý nghĩa hoàn toàn giống nhau từng chữ, từng câu, nhưng chỉ có khác nhau về cách xưng hô mà thôi.

Một Đêm Tốt Lành (Bhaddekaratta)

Thật vậy, một thuở nọ Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Tapodārāma gần kinh-thành Rājagaha. Khi ấy, Ngài Trưởng-lão Samiddhi đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, ngồi một nơi hợp lẽ, rồi kính thỉnh Đức-Thế-Tôn thuyết dạy bài kệ “Bhaddekaratta: Một đêm tốt lành”.

Khi ấy, Đức-Thế-Tôn thuyết dạy rằng:

“Atītaṃ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṃ.
Yadatītaṃ pahīnaṃ taṃ, appattañca anāgataṃ.
Paccuppannañca yo dhammaṃ, tattha tattha vipassati.
Asaṃhīraṃ asaṃkuppaṃ, taṃ vivdā manubrūhaye….
Taṃ ve ‘bhaddekaratto’ti, santo acikkhate mini.”(1)

1 M. Uparipaṇṇāsapāḷi, Mahākaccānabhaddekarattasutta.

– Này tỳ-khưu!

Hành-giả không nên hồi tưởng đến ngũ-uẩn quá-khứ.
Không nên mong ước ngũ-uẩn trong vị-lai.
Ngũ-uẩn nào quá-khứ, ngũ-uẩn ấy đã diệt rồi.
Ngũ-uẩn nào vị-lai, ngũ-uẩn ấy chưa sinh.

Hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ có trí-tuệ thiền-tuệ chỉ thấy rõ, biết rõ thật-tánh của ngũ-uẩn đang sinh hiện-tại là pháp-vô-ngã. Hành-giả tinh-tấn thực-hành pháp-hành thiền-tuệ chứng ngộ Niết-bàn bất thoái, bất diệt.

Hãy nên cố gắng tinh-tấn tạo mọi thiện-pháp ngay trong ngày hôm nay!
Ai có thể biết được sự chết trong ngày mai?
Sự khất với tử thần có đoàn binh hùng hậu
không bao giờ được đối với chúng ta.

Tỳ-khưu nên cố gắng tinh-tấn ngày đêm không ngừng, như vậy, gọi là “tỳ-khưu có một đêm tốt lành”.

Sau khi thuyết dạy bài kệ “Một đêm tốt lành, Bhaddekaratta” như vậy, Đức-Thế-Tôn đứng dậy rời chỗ ngồi ngự vào cốc gandhakuṭi.

Chư tỳ-khưu bàn thảo

Sau khi Đức-Thế-Tôn ngự vào cốc gandhakuṭi, chư tỳ-khưu bàn thảo với nhau rằng:

– Này chư pháp-hữu! Đức-Thế-Tôn thuyết dạy bài kệ “Bhaddekaratta: Một đêm tốt lành” các đầu đề tóm tắt với chúng ta, mà chưa khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc các đầu đề của bài kệ ấy, rồi Đức-Thế-Tôn đứng dậy ngự vào cốc gandhakuṭi.

Vậy, Ngài Trưởng-lão nào có khả năng khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài kệ này. Khi ấy, chư tỳ-khưu có ý kiến rằng: “Ngài Trưởng-lão Mahākaccāna mà Đức-Thế-Tôn cùng chư pháp-hữu đồng phạm hạnh thiện-trí đều tán dương ca tụng tài đức của Ngài Trưởng-lão.

Chắc chắn, Ngài Trưởng-lão Mahākaccāna có khả năng khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài kệ này. Vậy, chúng ta cùng nhau đi đến tìm Ngài Trưởng-lão Mahākaccāna.”

Chư tỳ-khưu cùng nhau dẫn đến đảnh lễ Ngài Trưởng-lão Mahākaccāna, rồi bạch rằng:

– Kính bạch Ngài Trưởng-lão, Đức-Thế-Tôn thuyết dạy bài kệ “Bhaddekaratta: Một đêm tốt lành” rằng:

“Atītaṃ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṃ. Yadatītaṃ pahīnaṃ taṃ, appattañca anāgataṃ…”

Sau khi thuyết dạy xong bài kệ mà chưa khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc các đầu đề của bài kệ ấy, Đức-Thế-Tôn đứng dậy ngự vào cốc gandhakuṭi.

– Kính bạch Ngài Trưởng-lão, chúng tôi kính thỉnh Ngài Trưởng-lão khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài kệ ấy.

Nghe chư tỳ-khưu bạch như vậy, Ngài Trưởng-lão Mahākaccāna thưa rằng:

– Thưa quý vị! Ví như người đi tìm lõi cây, tìm gặp cây lớn có lõi, người ấy bỏ qua thân cây và rễ, mà tìm lõi cây ở nơi cành cây và lá, như thế nào. Quý vị cũng như thế ấy, khi Đức-Thế-Tôn đang hiện hữu thì quý vị không kính thỉnh Đức-Thế-Tôn khai triển giảng giải, mà lại đến hỏi tôi.

Chư tỳ-khưu tha thiết khẩn khoản, Ngài Trưởng-lão Mahākaccāna hoan-hỷ khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài kệ ấy.

Sau khi nghe Ngài Trưởng-lão Mahākaccāna giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài kệ ấy xong, chư tỳ-khưu đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi kính bạch Đức-Thế-Tôn rằng:

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, vị Trưởng-lão Mahākaccāna giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài kệ “Bhaddekaratta: Một đêm tốt lành” cho các con nghe với lời lẽ như vậy, với chữ như vậy, với câu như vậy.

Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

“Paṇḍito bhikkhave, Mahākaccāno, mahāpañño bhikkhave, Mahākaccāno, maṃ cepi tumhe bhikkhave, etamatthaṃ paṭipuccheyyātha, ahampi taṃ evamevaṃ byākareyyaṃ. Yathā taṃ Mahākaccānena byākataṃ, eso cevetassa attho, evañca naṃ dhāretha.”(1)

1 M. Uparipaṇnāsapāḷi, Mahākaccānabhaddekarattasutta.

“- Này chư tỳ-khưu! Mahākaccāna là bậc thiện-trí.

– Này chư tỳ-khưu! Mahākaccāna là bậc đại-trí-tuệ.

– Này chư tỳ-khưu! Nếu các con bạch hỏi, thỉnh cầu Như-Lai giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài kệ ấy, thì Như-Lai cũng giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài kệ ấy giống như Mahākaccāna vậy.

Mahākaccāna giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề ấy, đó là ý nghĩa của các đầu đề ấy. Các con nên ghi nhớ rõ như vậy.”

Đức-Thế-Tôn truyền dạy như vậy, chư tỳ-khưu vô cùng hoan-hỷ nghe theo lời dạy của Đức-Thế-Tôn.

Tận cùng pháp-hành cấu tạo

Đức-Thế-Tôn thuyết dạy chư tỳ-khưu rằng:

“Nāhaṃ bhikkhave, gamanena lokassa antaṃ ñāteyyaṃ daṭṭheyyaṃ pattheyyan’ti vadāmi.
Na ca bhikkhave appatvā lokassa antaṃ dukkhassa antakiriyaṃ vadāmi…”(2)

2 Saṃ. Saḷāyatanavaggasaṃyuttapāḷi, Lokantagamanasutta.

“- Này chư tỳ-khưu! Như-Lai không thuyết dạy rằng: “Chúng-sinh có khả năng biết, thấy, đạt đến tận cùng toàn pháp-hành saṅkhāraloka (tất cả các pháp đều do nhân-duyên cấu tạo) bằng sự đi tìm.”

– Này chư tỳ-khưu! Như-lai chưa đạt đến tận cùng của toàn pháp-hành saṅkhāraloka, Như-lai không thuyết dạy các con thực-hành pháp-hành dẫn đến, đạt đến tận cùng sự khổ-đế trong tam-giới.”

Sau khi truyền dạy như vậy, Đức-Thế-Tôn đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi, ngự vào cốc gandhakuṭi.

Sau khi Đức-Thế-Tôn ngự vào cốc gandhakuṭi, chư tỳ-khưu bàn thảo với nhau rằng:

– Này chư pháp-hữu! Đức-Thế-Tôn thuyết dạy bài pháp đầu đề tóm tắt cho chúng ta, mà chưa khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc các đầu đề của bài pháp ấy, rồi Đức- Thế-Tôn đứng dậy ngự vào cốc gandhakuṭi.

Vậy, Ngài Trưởng-lão nào có khả năng giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của đầu đề tóm tắt của bài pháp ấy.

Khi ấy, nhóm tỳ-khưu có ý kiến rằng: “Ngài Trưởng-lão Ānanda mà Đức-Thế-Tôn cùng chư pháp-hữu đồng phạm hạnh thiện-trí đều tán dương ca tụng tài đức Ngài Trưởng-lão. Chắc chắn, Ngài Trưởng-lão Ānanda có khả năng giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài pháp ấy. Vậy, chúng ta cùng nhau đi đến tìm Ngài Trưởng-lão Ānanda.”

Nhóm tỳ-khưu đến đảnh lễ Ngài Trưởng-lão Ānanda, rồi bạch với Ngài rằng:

– Kính bạch Ngài Trưởng-lão, Đức-Thế-Tôn thuyết dạy bài pháp rằng:

“Nāhaṃ bhikkhave, gamanena lokassa antaṃ ñāteyyaṃ daṭṭheyyaṃ pattheyyan’ti vadāmi.
Na ca bhikkhave appatvā lokassa antaṃ dukkhassa antakiriyaṃ vadāmi…”

“- Này chư tỳ-khưu! Như-Lai không thuyết dạy rằng: “Chúng-sinh có khả năng biết, thấy, đạt đến tận cùng toàn pháp-hành saṅkhāraloka: do nhân-duyên cấu tạo bằng sự đi tìm.”

– Này chư tỳ-khưu! Như-lai chưa đạt đến tận cùng của toàn pháp-hành saṅkhāraloka, Như-lai không thuyết dạy các con thực-hành pháp-hành dẫn đến, đạt đến tận cùng sự khổ-đế trong tam-giới.” Sau khi truyền dạy như vậy, Đức-Thế-Tôn đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi, ngự vào cốc gandhakuṭi.

– Kính bạch Ngài Trưởng-lão, chúng tôi kính thỉnh Ngài Trưởng-lão giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài pháp ấy.

Nghe nhóm tỳ-khưu bạch như vậy, Ngài Trưởng-lão Ānanda thưa rằng:

– Thưa quý vị! Ví như người đi tìm lõi cây, tìm gặp cây lớn có lõi, người ấy bỏ qua thân cây và rễ, mà tìm lõi cây ở nơi cành cây và lá, như thế nào. Quý vị cũng như thế ấy, khi Đức-Thế-Tôn đang hiện hữu thì quý vị không kính thỉnh Ngài giảng giải khai triển giảng giải, mà lại đến hỏi tôi.

Nhóm tỳ-khưu tha thiết khẩn khoản, Ngài Trưởng-lão Ānanda hoan-hỷ giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài pháp ấy. Sau khi nghe Ngài Trưởng-lão Ānanda giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài pháp ấy xong, Ngài Trưởng-lão Ānanda khuyên nhóm tỳ-khưu ấy rằng:

– Thưa quý vị! Muốn hiểu rõ ràng hơn, xin quý vị nên đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi bạch hỏi lại câu hỏi ấy, Đức-Thế-Tôn giảng giải như thế nào, xin quý vị ghi nhớ như thế ấy.

Theo sự hướng dẫn của Ngài Trưởng-lão Ānanda, nhóm tỳ-khưu đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi kính bạch Đức-Thế-Tôn rằng:

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, Đức-Thế-Tôn đã thuyết dạy bài pháp ấy rằng:

“Nāhaṃ bhikkhave, gamanena lokassa antaṃ ñāteyyaṃ daṭṭheyyaṃ pattheyyan’ti vadāmi.
Na ca bhikkhave appatvā lokassa antaṃ dukkhassa antakiriyaṃ vadāmi…”

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, sau khi truyền dạy như vậy, Đức-Thế-Tôn đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi, ngự vào cốc gandhakuṭi.

Chúng con không hiểu rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài pháp ấy, nên chúng con cùng nhau đi đến đảnh lễ Ngài Trưởng-lão Ānanda, kính xin Ngài Trưởng-lão giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của các đầu đề tóm tắt của bài pháp cho các con nghe với lời lẽ như vậy, với chữ như vậy, với câu như vậy.

Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

“Paṇḍito bhikkhave! Ānando, mahāpañño bhikkhave, Ānando, maṃ cepi tumhe bhikkhave, etamatthaṃ paṭipuccheyyātha, ahampi taṃ evamevaṃ byākareyyaṃ. Yathā taṃ Ānandena byākataṃ, eso cevetassa attho, evañca naṃ dhāreyyātha.”(1)

1 Saṃ. Saḷāyatanavaggasaṃyuttapāḷi, Lokantagamanasutta.

“- Này chư tỳ-khưu! Ānanda là bậc thiện-trí.

– Này chư tỳ-khưu! Ānanda là bậc đại-trí-tuệ.

– Này chư tỳ-khưu! Nếu các con bạch hỏi, thỉnh cầu Như-Lai giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của đầu đề tóm tắt của bài pháp ấy, thì Như-Lai cũng giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của đầu đề tóm tắt của bài pháp ấy giống như Ānanda vậy.

Như Ānanda giảng giải khai triển rõ ý nghĩa sâu sắc của vấn đề ấy, đó là ý nghĩa của vấn đề ấy. Các con nên ghi nhớ rõ như vậy.”

Đức-Thế-Tôn truyền dạy như vậy, chư tỳ-khưu vô cùng hoan-hỷ nghe theo lời dạy của Đức-Thế-Tôn.

Vấn đáp chánh pháp

Cuộc vấn đáp chánh-pháp giữa cận-sự-nam Visakha là bậc Thánh Bất-lai với Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Dhammadinnā là bậc Thánh A-ra-hán(2) trong bài kinh Cūḷavedallasutta(3) được tóm lược phần chính như sau:

2 Trước khi trở thành Đại-đức Tỳ-khưu-ni, bà Dhammadinnā vốn là phu nhân của cận-sự-nam Visakha.
3 M. Mūlapaṇṇāsapāḷi, Cūḷavedallasutta.

Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Veḷuvana gần kinh-thành Rājagaha. Khi ấy, cận-sự-nam Visakha đến đảnh lễ Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Dhamma-dinnā, rồi ngồi một nơi hợp lẽ.

Cận-sự-nam Visakha hỏi Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Dhammadinnā những câu hỏi sâu sắc về các pháp, thì Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni đều giải đáp rõ ràng làm cho cận-sự-nam Visakha vô cùng hoan-hỷ theo lời giải đáp của Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni.

Khi ấy, Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Dhammadinnā tác động, khuyến khích cận-sự-nam Visakha rằng:

– Này cận-sự-nam Visakha! Ông nên đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi bạch hỏi lại những câu hỏi ấy.

Khi Đức-Thế-Tôn truyền dạy như thế nào, thì ông nên ghi nhớ như thế ấy.

Cận-sự-nam Visakha đảnh lễ Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Dhammadinnā, xin phép đi đến hầu đảnh lễ Đức-Thế- Tôn, rồi ngồi một nơi hợp lẽ.

Cận-sự-nam Visakha kính bạch lại Đức-Thế-Tôn toàn cuộc vấn đáp giữa ông với Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Dhammadinnā từ đầu đến cuối.

Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

“- Paṇḍitā Visakha, Dhammadinnā bhikkhunī, mahā-paññā Visakha, Dhammadinnā bhikkhunī. Maṃ cepi tvaṃ Visakha, etamatthaṃ puccheyyāsi, ahampi taṃ evamevaṃ byākareyyaṃ, yathā taṃ Dhammadinnāya bhikkhuniyā byākataṃ, eso cevetassa attho, evañca naṃ dhārehi.”

“- Này Visakha! Dhammadinnā bhikkhunī là bậc thiện-trí.

– Này Visakha! Dhammadinnā bhikkhunī là bậc đại-trí-tuệ.

– Này Visakha! nếu con bạch hỏi Như-Lai những câu hỏi ấy thì Như-Lai cũng giải đáp giống như tỳ-khưu-ni Dhammadinnā vậy.

Tỳ-khưu-ni Dhammadinnā giải đáp những câu hỏi ấy, đó là ý nghĩa của câu hỏi. Con nên ghi nhớ như vậy.”

Đức-Thế-Tôn truyền dạy như vậy, cận-sự-nam Visakha vô cùng hoan-hỷ nghe theo lời dạy của Đức-Thế-Tôn.

Phước-thiện thuyết-pháp là thuyết giảng những pháp mà Đức-Phật đã thuyết giảng, những luật mà Đức-Phật đã chế định, rồi ban hành.

* Như Ngài Trưởng-lão Soṇakuṭikaṇṇa tụng đọc tạng Kinh, phần aṭṭhakavagga từng chữ từng câu đúng đắn rõ ràng với giọng rất hay.

Khi Ngài Trưởng-lão Soṇa tụng xong, Đức-Thế-Tôn hoan-hỷ nói lên lời Sādhu! Sādhu! Lành thay!Lành thay!

Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

“Suggahito te bhikkhu, dhammo, mayā desitakāle ca ajja ca ekasadisāva desanā, kiñci ūnaṃ vā adhikaṃ vā natthi.”

(Aṅg. Soṇakuṭikaṇṇattheravatthu)

– Này tỳ-khưu! Chánh-pháp mà con đã học, ghi nhớ đúng đắn, Như-Lai đã thuyết dạy trong thời gian trước đây và ngày nay giống như một, không thiếu không dư.

* Bậc Thánh Thanh-văn, hoặc cận-sự-nam, cận-sự-nữ, hoặc chư-thiên,… có khả năng thuyết giảng những pháp nào, những pháp ấy chỉ khi nào được Đức-Phật xác nhận, thì những pháp ấy mới được xem là chánh-pháp đáng ghi nhớ mà thôi.

Những bài kinh trên được trích dẫn làm ví dụ, nên tìm đọc đầy đủ trong các bộ kinh như sau:

* Kinh Mahākaccānabhaddekarattasutta trong Trung- bộ-kinh, phần Uparipaṇṇāsapāḷi.

* Kinh Lokantagamanasutta trong Đồng-loại-bộ- kinh, phần Saḷāyatanavaggasaṃyuttapāḷi.

* Kinh Cūḷavedallasutta trong Trung-bộ-kinh, phần Mūlapaṇṇāsapāḷi.

Phước-thiện thuyết-pháp là phước-thiện được phát sinh do thuyết giảng những chánh-pháp của Đức-Phật được trích dẫn từ trong Tam-tạng Pāḷi và Chú-giải Pāḷi.

Bậc thiện-trí có khả năng thông thuộc những bài kinh, những chánh-pháp của Đức-Phật, hiểu biết rõ ý nghĩa những chánh-pháp ấy rồi đem ra thuyết giảng cho nhiều người nghe chánh-pháp ấy.

Sau khi hiểu biết rõ đúng theo chánh-pháp, người nghe mới có thể thực-hành đúng theo chánh-pháp của Đức-Phật, để đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai, tuỳ theo năng lực của các pháp-hạnh ba-la-mật và 5 pháp-chủ (indriya): tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ của mỗi hạng thanh-văn đệ-tử.

 

Nguồn: phatgiaonguyenthuy.org

Thursday September 23, 2021
Các bài viết khác :