Pháp Cú [06]: Lắng Yên Tranh Luận

Sunday September 11, 2022

Khemārāma tổng hợp và tóm tắt

 

 

 

Pare ca na vijānanti

mayamettha yamāmase

Ye ca tattha vijānanti

tato sammanti medhagā.

There are those who do not

realize that one day we all must die.

But those who do realize        

This settles their quarrels.

Người khác không hiểu biết,

Chúng ta đây bị hại.

Chỗ ấy, ai hiểu được

Tranh luận được lắng êm.

 

 

Tích truyện Pháp cú:
Bài kệ này được đức Thế Tôn thuyết tại Jetavana, đề cập đến nhóm Tỳ-khưu tại Kosambi.

(**) Sự tranh cãi giữa vị Pháp sư và Luật sư vì cái gáo múc nước:

Thời ấy gần thành Kosambi có 2 vị Tỳ-khưu cùng an cư trong chùa Ghosita. Một vị là pháp sư, vị còn lại là luật sư, mỗi vị đều có 500 đệ tử. Một hôm vị Pháp sư đi đại tiện trong cầu xí, rửa ráy xong đi ra, còn chừa nước dư trong cái gáo mà không úp xuống. Vị Luật sư đi vào sau thấy vậy thì nói vị Pháp sư đã phạm tội Dukkata (tác ác), tuy nhiên nếu không có sự cố ý thì không phạm. Vị Pháp sư biết mình không có cố ý nên không có đi sám hối. Vị Luật sư không kín miệng, đem nói với nhóm đệ tử của mình: “Vị Pháp sư nầy phạm giới mà không biết”. Những người đệ tử của vị Luật sư đi nói lại với đệ tử của vị Pháp sư rằng thầy tế độ của các ông phạm giới mà không sám hối. Đệ tử của vị Pháp sư đem chuyện nầy bạch với thầy mình. Vị Pháp sư nói rằng: “Cái ông Luật sư nầy, lúc trước đã bảo là ta không phạm, bây giờ lại nói là ta phạm. Vậy ông ta là người vọng ngữ”.

(**) Sự phân chia phe phái thấu đến cõi trời Sắc Cứu Cánh Thiên (kaniṭṭhabhavana)
Chuyện cứ như thế càng ngày càng lớn, vị Luật sư nắm được cơ hội, nhóm hết chư Tăng, đọc tuyên ngôn trục xuất vị Pháp, viện cớ rằng vị nầy phạm giới mà không chịu nhận lỗi. Từ ngày đó, phe phái bắt đầu hình thành từ chư thí chủ hộ độ tứ sự, đến chư Tỳ-khưu-ni thỉnh giáo giới cho đến chư thiên, phạm thiên còn phàm tâm thảy đều chia ra làm hai phe đối lập, tranh luận nhau, tiếng xôn xao thấu đến cõi trời Sắc Cứu Cánh Thiên (kaniṭṭhabhavana).

(**) Đức Thế Tôn bất lực trong việc hòa giải:
Đức Thế Tôn hai lần nhắn lời khuyên bảo: “Hãy nên hòa hiệp” nhưng Ngài được tin trả lời: “Bạch Ngài, họ vẫn không chịu hòa nhau”. Lần thứ ba được tin cho hay Tăng chúng đã phân ly, Đức Thế Tôn phải thân hành ngự đi đến tận nơi tranh chấp. Rồi Ngài phán dạy chư Tăng hãy làm lễ Phát lồ chung nhau ngay lúc đó và hành Tăng sự chung trong một chỗ có Kiết giới (Sīmā). Ngài ban hành điều lệ, cho phép các Tỳ khưu đã tranh chấp nhau nơi Trai Tăng đường hay bất luận nơi nào, hãy nên ngồi xen kẽ nhau (āsanatarikāya) trong Trai Tăng đường.
Dàn xếp xong xuôi, Đức Thế Tôn trở về chùa Jetavana. Kế đó, lại có tin cho hay: Chư Tỳ khưu ở Kosambi lại cạnh tranh với nhau nữa. Đức Thế Tôn lại thân thành ngự đến tận chùa Ghosita để hòa giải. Ngài mở lời cản ngăn rằng: “Thôi đi, các Tỳ khưu đừng chia rẽ, tranh chấp nữa”. Nói rồi, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ và khuyên chư Tỳ-khưu hãy sống trong hòa hợp. Nhưng chư Tăng vẫn giữ lập luận của mình, bất chấp những huấn từ của Đức Thế Tôn. Một vị Pháp sư háo thắng, muốn cho Đức Thế Tôn khỏi phải cực lòng nói mãi vô ích, lên tiếng can rằng: “Bạch Thế Tôn là Đức Pháp Chủ, xin Ngài hãy về ngơi nghỉ dưỡng nhàn và hưởng thụ sự an vui nhãn tiền hiện hữu. Để cho chúng Tăng nhờ sự chia rẽ, tranh chấp, cãi lẫy, kình chống nầy mà danh tiếng được lẫy lừng”.
Rồi đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ: Vua Brahmadatta xứ Kāsi xâm chiếm nước Kosala của vua Dīghīti (Trường Thọ), bắt hành quyết vị Vương tẩu quốc, sau dược Thái tử Dīghāyu (Trường Sanh) dung tha mạng sống, không báo thù, từ đó hai họ giao hòa, đồng vinh cộng lạc”. -- “Nầy các Tỳ khưu, rất đỗi là các bậc vua chúa anh hùng mã thượng, từng trải việc kiếm cung chinh chiến mà còn nhẫn nại giao hòa được như thế thay, hà huống là chư Tăng đã xuất gia Sa môn, dự hàng Thinh Văn đệ tử của Như Lai mà không làm sao sáng tỏ đức nhẫn nhục hiền hòa, cho mọi người trông thấy được sao?”.

(**) Đức Thế Tôn bất lực vào rừng nhập hạ:
Mặc dầu đã tận tình khuyến giới, Đức Bổn Sư cũng không hòa giải được nhóm đệ tử của Ngài. Nghĩ rồi, Đức Thế Tôn vào thành Kosambi khất thực, sau đó không từ giã chư Tăng, Ngài mang y bát đơn thân độc hành, ngự ngay đến làng Balaka của người làm muối (Lonakaranaṃ). Sau khi thuyết pháp cho Đại đức Bhagutthera về hạnh độc cư và thuyết pháp cho ba mươi công tử ở Pācinavamasamigadāya, Ngài trực chỉ vô miền Pālileyyaka. Đức Thế Tôn đã nhập một hạ an vui nơi đó, dưới gốc cây Tāla xinh đẹp trong khu rừng Rakkhitavana (Vệ Lâm) gần vùng Pālileyyaka có con Tượng chúa Pālileyyaka hộ độ.

(**) Chư Tỳ-khưu bị hàng cư sĩ xa lánh:
Chư thiện nam tử đến tu viện không thấy Đức Phật, khi biết ra sự tình họ đã bất mãn và không còn cung kính, đảnh lễ, cúng dường chư Tỳ-khưu ở Kosambi nữa. Chư Tỳ khưu đi khất thực cũng ít người để bát, phải nhịn đói hết hai ba ngày liền, nhờ đó mới tỉnh ngộ cùng nhau sám hối và tha thứ tội lỗi cho nhau. Vì đang mùa hạ nên chư Tỳ-khưu không để đi sám hối với đức Thế Tôn theo yêu cầu của chư tín thí nên chư Tăng phải sống lay lất vô cùng cực khổ.

(**) Đức Như Lai được voi chúa hộ độ:
Đức Bổn Sư nhập hạ một mình trong rừng được an vui nhờ có Tượng chúa Pālileyyaka hộ độ. Tượng chúa Pālileyyaka chán cảnh chung chạ, tranh giành và phiền hà của đàn voi nên cũng lìa đàn, đi vô rừng sâu một mình để được an tịnh. Mỗi ngày tượng chúa lấy nhánh cây Tāla làm chổi quét lá, dùng vòi voi lấy nước mang về cho đức Thế Tôn. Tượng dùng vòi kéo cây cứng cọ nhau cho nháng lửa, đoạn nó chất thêm củi khô cho cháy lên có ngọn, lượm đá nhỏ bỏ vô đống lửa, nướng cho nóng, rồi dùng vòi cầm gậy khều đá ra, lăn đùa đi cho đá rớt xuống các hồ nước thiên nhiên trên một hốc đá (sondi). Tượng chúa mang nhiều thứ trái cây dâng lên Đức Bổn Sư. Tới giờ Đức Bổn Sư vào làng khất thực, Tượng chúa lấy y bát đội lên đầu đi theo hầu Ngài. Khi đức Thế Tôn đi vào làng khất thực, nó đứng ở bìa rừng, mãi chờ cho tới khi Đức Bổn Sư đi bát về, chạy ra rước lấy y bát, đội lên đầu và lục thục theo Ngài trở về chỗ ngự. Ban đêm, Tượng cầm một khúc cây to, thức để canh phòng thú dữ, nó nói thầm: “Ta sẽ hộ vệ Đức Bổn Sư”, rồi nó đi tới đi lui, tuần hành theo các khoảng trống trong rừng cho tới khi mặt trời mọc… Cứ như vầy ngày và đêm, đức Thế Tôn được tượng chú hộ độ chu đáo qua mùa an cư kiết hạ.

(**) Khỉ chúa cũng cùng hộ độ đức Như Lai:
Gần nơi đó, có con khỉ chúa, ngày ngày trông thấy Tượng chúa dậy sớm, hầu hạ phục dịch Đức Như Lai, khỉ chúa tự nghĩ: “Ta cũng sẽ làm việc chút ít chứ”.
Trong khi nhảy nhót la cà nhiều chỗ, một hôm khỉ ta gặp được một ổ mật ong,
đóng trên một nhánh cây, thấy ong đã bỏ đi hết, nó bèn bẻ nhánh cây ấy, cầm đi đem về gần tới Đức Bổn Sư nó bứt lá chuối lót dưới ổ mật ong, rồi dâng lên cho Ngài dùng. Khỉ chúa đứng chờ coi Đức Bổn Sư có thọ dụng ổ mật đó không. Nhưng nó chỉ thấy Ngài cầm lên và để xuống chứ không dùng. Khi ta tự hỏi: “Có cái gì đây?”, nó bèn cầm lấy nhánh cây có ổ ong lên, lật qua lật lại xem thật kỹ, thì thấy còn sót trứng ong trong ổ, nó bèn cẩn thận gạt bỏ hết trứng ong, rồi dâng ổ mật lại Đức Bổn Sư. Lần này Ngài thọ lãnh và thọ dụng.
Thấy vậy, khỉ chúa mừng quýnh, tung tăng nhảy nhót chuyền hết cành nầy tới cành kia. Đang lúc cao hứng, không cẩn thận đề phòng, khỉ chúa với tay chụp phải một nhánh cây giòn yếu, nhánh nắm trong tay gãy, nhánh đạp dưới chân cũng gãy luôn, khỉ ta rơi từ trên cao xuống, trúng nhằm một gốc cây bén nhọn, chết liền tại chỗ. Rồi khỉ ta được sanh lên cõi trời Tāvatiṃsa trong một cung điện tráng lễ, có hàng ngàn tiên nữ hộ độ.

(**) Đại đức Ānanda dẫn chư Tỷ-kheo đi thỉnh đức Thế Tôn về:
Từ thành Sāvatthī Trưởng giả Anāthapiṇḍika và bà Visākhā cùng nhiều đại gia tộc khác gởi thơ yêu cầu Đại đức Ānanda rằng muốn gặp đức Thế Tôn, chư Tỳ-khưu mãn hạ phương xa trở về cũng muốn gặp đức Thế Tôn. Đến bìa rừng Pālileyyaka, đại đức Ānanda để chư tăng đứng ngoài bìa rừng, còn mình thì đi vào trong. Tượng chúa Pālileyyaka vừa thấy dáng người lạ đã cầm gậy chạy xông tới. Đức Bổn Sư nhìn tượng chúa và kêu: “Pālileyyaka hãy dang ra đừng đứng cản đường. Đó là vị thị giả của Như Lai”.
Đại đức vâng lời dạy dẫn chư Tăng vào đến nơi, đảnh lễ Đức Thầy xong, ngồi nép qua một bên. – “Nầy các Tỳ khưu! Đã có tượng chúa Pālileyyaka làm hết mọi việc cần thiết giúp Ta, nếu ai có được bạn đồng cư như Tượng chúa nầy, người ấy có thể vui sống chung, bằng không được vậy thì sống lẻ loi cô độc còn hơn”.
Nói rồi, đức Như Lai nói bài kệ sách tấn chư Tỳ-khưu rằng nếu không có người bạn thiện trí cùng đi thì chẳng thà đi một mình, còn hơn kết bạn cùng đứa ngu. Kệ ngôn vừa dứt, năm trăm vị Tỳ khưu đều đắc quả A La Hán. Đức Như Lai nghe thời cung thỉnh thì bảo đại đức Ānanda lấy y bát và chuẩn bị quay lại tịnh xá. Đại đức Ānanda vừa lấy y bát của Đức Bổn Sư bước đi, thì Tượng chúa đứng đường cản lại.

(**) Tượng chúa đau đớn khi phải chia ly với đức Thế Tôn, nứt tim mà chết:
Tượng chúa đi sâu vô rừng, kiếm chuối và nhiều thứ trái cây khác, chất lên trên đầu, đội về để dành qua ngày sau dâng cúng đến chư Tăng, năm trăm vị Tỳ khưu độ cũng không hết. Khi chư Tăng thọ thực xong, Đức Bổn Sư lấy y bát ra đi. Tượng chúa rẽ lối đi chen vào chư Tăng, đến đứng ngay trước mặt Đức Bổn Sư. Đức Bổn Sư quay qua bảo Tượng chúa rằng:
-- "Nầy Pālileyyaka, hôm nay Như Lai ra đi không còn trở lại. Vĩnh biệt nhà ngươi. Trong kiếp hiện tại nầy ngươi chẳng mong gì đắc Thiền định, Minh sát hay chứng được đạo quả chi đâu. Thôi ngươi hãy nán lại ở đây nghe".
Nghe vậy, Tượng chúa đút vòi vào miệng, từ từ thụt lùi lại phía sau vừa đi vừa rống lên những tiếng bi ai sầu thảm. Đến bìa rừng thì tượng chúa dừng lại rồi rống lên tiếng rống thảm thiết. Nó giương đôi mắt nhìn theo Đức Bổn Sư cho đến khi khuất dạng rồi bị nứt tim, nó chết ngay tại chỗ đó, nhờ đang có tâm trong sạch với Đức Như Lai, nó được sanh về cõi Tāvatimsa (Đao Lợi) ở trong một tòa lâu đài bằng vàng ba mươi do tuần, có cả ngàn thiên nữ theo hầu và được mệnh danh là Pālileyyaka Thiên tử (Devaputta).

(**) Đức Thế Tôn giảng bài kệ pháp cú cho chư Tỷ-kheo thành Kosambi:
Nầy các Tỳ khưu! Việc làm của các ông thật là đáng tội, các ông được xuất gia tu hành với một vị Phật như Ta, mà các ông bất chấp lời khuyên dạy, chẳng khứng hiệp hòa.
“Pare ca na vijānanti,
Mayam’ettha yamāmase;
Ye ca tattha vijānanti,
Tato sammanti medhagāti”.

Những tập kinh khác:

Pháp Cú [1]: Đau Khổ Đi Theo Người Làm Ác Nghiệp

Pháp Cú [2]: Hạnh Phúc Đi Theo Người Làm Thiện Nghiệp

Pháp Cú [03-04]: Oan Trái và Hận Thù

Pháp Cú [05]: Nhiếp Phục Hận Thù

Pháp Cú [06]: Lắng Yên Tranh Luận

Pháp Cú [07-08]: Tử Thần Đánh Bại Kẻ Ham Dục Lạc

Pháp Cú [09-10]: Ai Xứng Áo Cà-sa?

Pháp Cú [11-12]: Thấy Biết Như Chân

Những bộ Kinh khác :