MN 3: Dhammadāyādasutta – Kinh thừa tự Pháp – Discourse on Heirs of Dhamma

Monday April 17, 2023
Majjhima Nikāya 3 Trung Bộ Kinh The Middle Length Sayings
Dhammadāyādasutta Kinh Thừa Tự Pháp Discourse on Heirs of Dhamma
Evaṃ me sutaṃ—​   ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anātha­piṇḍi­kassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca:  Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”, —“ Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói:

 

Thus have I heard: One time the Lord was staying near Sāvatthī in the Jeta Grove in Anāthapiṇḍika's monastery. While he was there the Lord addressed the monks, saying:

“Dhammadāyādā me, bhikkhave, bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā: ‘kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā’ti. Tumhe ca me, bhikkhave, āmisadāyādā bhaveyyātha no dhammadāyādā, tumhepi tena ādiyā bhaveyyātha: ‘āmisadāyādā satthusāvakā viharanti, no dhammadāyādā’ti; ahampi tena ādiyo bhaveyyaṃ: ‘āmisadāyādā satthusāvakā viharanti, no dhammadāyādā’ti.

Tumhe ca me, bhikkhave, dhammadāyādā bhaveyyātha, no āmisadāyādā, tumhepi tena na ādiyā bhaveyyātha: ‘dhammadāyādā satthusāvakā viharanti, no āmisadāyādā’ti; ahampi tena na ādiyo bhaveyyaṃ: ‘dhammadāyādā satthusāvakā viharanti, no āmisadāyādā’ti. Tasmātiha me, bhikkhave, dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā: ‘kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā’ti.

 

 

 

Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?”. Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”.

Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: “Cả Thầy và trò là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả Thầy và trò đều là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?”

“Monks.”

“Revered One,” these monks answered the Lord in assent. The Lord spoke thus:

“Monks, become my heirs of Dhamma, not heirs of material things. I have sympathy with you and think: How may disciples become my heirs of Dhamma, not heirs of material things? If you, monks, should become heirs of material things, not heirs of Dhamma, not only may you become in consequence those of whom it is said: ‘The Teacher's disciples are heirs of material things, not heirs of Dhamma,’ but I too may become in consequence one of whom it is said: ‘The Teacher's disciples are heirs of material things, not heirs of Dhamma,’

But if you, monks, should become my heirs of Dhamma, not heirs of material things, then you may become in consequence those of whom it is said: ‘The Teacher's disciples are heirs of Dhamma, not heirs of material things,’ and I too may become in consequence one of whom it is said: ‘The Teacher's disciples are heirs of Dhamma, not heirs of material things,’ Therefore, monks, become my heirs of Dhamma, not heirs of material things.

 

Idhāhaṃ, bhikkhave, bhuttāvī assaṃ pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; siyā ca me piṇḍapāto atirekadhammo ­chaḍḍa­nīya­dhammo. Atha dve bhikkhū āgaccheyyuṃ ­jighac­chā­dubbal­ya­paretā. Tyāhaṃ evaṃ vadeyyaṃ: ‘ahaṃ khomhi, bhikkhave, bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; atthi ca me ayaṃ piṇḍapāto atirekadhammo ­chaḍḍa­nīya­dhammo. Sace ākaṅkhatha, bhuñjatha, no ce tumhe bhuñjissatha, idānāhaṃ appaharite vā chaḍḍessāmi, appāṇake vā udake opilāpessāmī’ti.

Này các Tỷ-kheo, ở đây, một thời Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực của Ta đáng được quăng bỏ. Khi ấy có hai Tỷ-kheo đến, đói lả và kiệt sức. Ta có thể nói với hai vị ấy: “Này các Tỷ-kheo, Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực này của Ta đáng được quăng bỏ. Nếu các Ngươi muốn, hãy ăn đi. Nếu các Ngươi không muốn ăn, Ta sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay Ta sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy”. 

I have sympathy with you and think: How may disciples become my heirs of Dhamma, not heirs of material things? Take a case where I, monks, may have eaten and be satisfied, (the meal) ended, finished, I having had enough, as much as I pleased. But it may be that some of my alms-food is over and is to be thrown away, when two monks may arrive worn out with exhaustion and hunger. If I should speak to them thus: ‘I, monks, have eaten and am satisfied (the meal) ended, finished, I having had enough, as much as I pleased. But some of my alms-food is over and is to be thrown away. Do eat it if you (so) desire; if you do not eat it I will now throw it away where there is no grass or I will drop it into water that has no living creatures in it.’
Tatrekassa bhikkhuno evamassa: ‘bhagavā kho bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; atthi cāyaṃ bhagavato piṇḍapāto atirekadhammo ­chaḍḍa­nīya­dhammo. Sace mayaṃ na bhuñjissāma, idāni bhagavā appaharite vā chaḍḍessati, appāṇake vā udake opilāpessati. Vuttaṃ kho panetaṃ bhagavatā: “dhammadāyādā me, bhikkhave, bhavatha, mā āmisadāyādā”ti. Āmisaññataraṃ kho panetaṃ, yadidaṃ piṇḍapāto. Yannūnāhaṃ imaṃ piṇḍapātaṃ abhuñjitvā imināva ­jighac­chā­dubbal­yena evaṃ imaṃ rattindivaṃ 
 vītināmeyyan’ti. So taṃ piṇḍapātaṃ abhuñjitvā teneva ­jighac­chā­dubbal­yena evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya.
Rồi một Tỷ-kheo có thể nghĩ như sau: “Nay Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Nhưng Thế Tôn có dạy như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật”. Ðây là loại tài vật; món đồ ăn này, ta hãy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày hôm nay, bị đói lả và kiệt sức”. Rồi vị ấy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày ấy, đói lả và kiệt sức. Then it may occur to one monk: ‘Now, the Lord having eaten and being satisfied (the meal) ended, finished, having had enough, as much as he pleased. But this alms-food of the Lord's is to be thrown away; if we do not eat it, the Lord will now throw it away where there is no grass or he will drop it into water that has no living creatures in it. But this was said by the Lord: Monks, become my heirs of Dhamma, not heirs of material things. But this is a material thing, that is to say, alms-food. Suppose that I, not having eaten this alms-food, in spite of this hunger and exhaustion, should pass this night and day thus?’ He, not having eaten that alms-food, in spite of that hunger and exhaustion, may pass this night and day thus.

Atha dutiyassa bhikkhuno evamassa: ‘bhagavā kho bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; atthi cāyaṃ bhagavato piṇḍapāto atirekadhammo ­chaḍḍa­nīya­dhammo. Sace mayaṃ na bhuñjissāma, idāni bhagavā appaharite vā chaḍḍessati, appāṇake vā udake opilāpessati. Yannūnāhaṃ imaṃ piṇḍapātaṃ bhuñjitvā ­jighac­chā­dubbal­yaṃ paṭivinodetvā evaṃ imaṃ rattindivaṃ vītināmeyyan’ti. So taṃ piṇḍapātaṃ bhuñjitvā ­jighac­chā­dubbal­yaṃ paṭivinodetvā evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya.

Tỷ-kheo thứ hai nghĩ như sau: “Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Vậy ta hãy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm nay như vậy”. Rồi vị ấy ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy.

Then it occurs to the second monk, thus: ‘Now, the Lord having eaten and being satisfied (the meal) ended, finished, having had enough, as much as he pleased. But this alms-food of the Lord's is to be thrown away; if we do not eat it, the Lord will now throw it away where there is no grass or he will drop it into water that has no living creatures in it. Suppose that I, having eaten this alms-food, having driven away this hunger and exhaustion, should pass this night and day thus? He, having eaten that alms-food, having driven away that hunger and exhaustion, may spend that night and day thus.
Kiñcāpi so, bhikkhave, bhikkhu taṃ piṇḍapātaṃ bhuñjitvā ­jighac­chā­dubbal­yaṃ paṭivinodetvā evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya, atha kho asuyeva me purimo bhikkhu pujjataro ca pāsaṃsataro ca. Taṃ kissa hetu? Tañhi tassa, bhikkhave, bhikkhuno dīgharattaṃ appicchatāya santuṭṭhiyā sallekhāya subharatāya vīriyārambhāya saṃvattissati. Tasmātiha me, bhikkhave, dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā: ‘kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā’”ti.

Này các Tỷ-kheo, dầu cho Tỷ-kheo này, sau khi ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy, nhưng đối với Ta, Tỷ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn, và đáng được tán thán hơn. Vì sao vậy? Vì như vậy sẽ đưa đến cho Tỷ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật.

 

Although, monks, that monk, having eaten that alms-food, having driven away this hunger and exhaustion, should pass this night and day thus, he, having eaten that alms-food, having driven away that hunger and exhaustion, may spend that night and day thus, yet that first monk is for me the more to be honoured and the more to be praised. What is the reason for this? It is, monks, that it will conduce for a long time to that monk's desirelessness, to his contentment, expunging (of evil), to his being easily supported, to his putting forth energy. Therefore, monks, become my heirs of Dhamma, not heirs of material things.

Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṃ pāvisi. Tatra kho āyasmā sāriputto acira­pakkan­tassa bhagavato bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti. “Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā sāriputto etadavoca: 

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá. Lúc ấy, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, liền gọi các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả Tỷ-kheo!” —“ Thưa vâng Hiền giả”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói:

Thus spoke the Lord; when the Well-farer had spoken thus, rising from his seat, he entered the dwelling-place. Thereupon the venerable Sāriputta, not long after the Lord had gone away, addressed the monks, saying:

 

“Kittāvatā nu kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti, kittāvatā ca pana satthu pavivittassa viharato sāvakā viveka­manu­sikkhantī”ti? “Dūratopi kho mayaṃ, āvuso, āgacchāma āyasmato sāriputtassa santike etassa bhāsitassa atthamaññātuṃ. Sādhu vatā­yasman­taṃyeva sāriputtaṃ paṭibhātu etassa bhāsitassa attho; āyasmato sāriputtassa sutvā bhikkhū dhāressantī”ti. “Tena hāvuso, suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā sāriputto etadavoca: 

 

 

 

 

“Này các Hiền giả, như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly? Và như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy học viễn ly?” —“ Này Hiền giả, chúng tôi từ xa lại để được hiểu nghĩa lý câu nói này từ Tôn giả Sāriputta. Lành thay, nếu Tôn giả Sāriputta thuyết giảng nghĩa lý câu nói ấy. Sau khi được nghe Tôn giả Sāriputta thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì” —“ Chư Hiền, vậy hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ giảng” —“ Thưa vâng, Hiền giả”, những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:

 

 

 

 

“Reverend monks.” “Your reverence,” these monks answered the venerable Sāriputta in assent. Then the venerable Sāriputta spoke thus:“In what respects, your reverences, while the Teacher is staying in seclusion, do disciples not follow his example of aloofness? And in what respects, while the Teacher is staying in seclusion, do disciples follow his example of aloofness?”“We would come even from afar to learn from the venerable Sāriputta the meaning of this that is said. It were good indeed if the meaning of this that is said should be spoken out by the venerable Sāriputta, so that monks, having heard the venerable Sāriputta, might master it.”“Very well, your reverences, listen, attend carefully, and I will speak.”“Yes, your reverence,” these monks answered the venerable Sāriputta in assent. Then the venerable Sāriputta spoke thus:

“Kittāvatā nu kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti? Idhāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti, yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha, te ca dhamme nappajahanti, bāhulikā ca honti, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā. Này chư Hiền, ở đây vị Ðạo Sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly. Những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ, và họ sống trong sự đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. “This is a case, your reverences, where, while the Teacher is staying in seclusion, disciples do not follow his example as to aloofness, they do not get rid of those things of which the Teacher has spoken of getting rid, they are ones for abundance and are lax, taking the lead in backsliding, throwing off the yoke of seclusion.

Tatrāvuso, therā bhikkhū tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhantī’ti—iminā paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. ‘Yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme nappajahantī’ti—iminā dutiyena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. ‘Bāhulikā ca, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā’ti—iminā tatiyena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. Therā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. 

 

 

Này chư Hiền, các Thượng Tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này đáng bị quở trách.

 

Among them, your reverences, monks who are elders become contemptible in three ways: (1) If, while the Teacher is staying in seclusion, disciples do not follow his example as to aloofness, this is the first way in which monks who are elders become contemptible. (2) If they do not get rid of those things of which the Teacher has spoken of getting rid, this is the second way in which monks who are elders become contemptible. (3) If they are ones for abundance and are lax, taking the lead in backsliding, throwing off the yoke of seclusion, this is the third way in which monks who are elders become contemptible. So, your reverences, monks who are elders become contemptible in these three ways.

Tatrāvuso, majjhimā bhikkhū … pe … 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách, … (như trên) …

 

 

 

 

 

 

 

 

Among them, your reverences, monks who are of middle standing become contemptible in three ways: (1) If, while the Teacher is staying in seclusion, disciples do not follow his example as to aloofness, this is the first way in which monks who are of middle standing become contemptible. (2) If they do not get rid of those things of which the Teacher has spoken of getting rid, this is the second way in which monks who are of middle standing become contemptible. (3) If they are ones for abundance and are lax, taking the lead in backsliding, throwing off the yoke of seclusion, this is the third way in which monks who are of middle standing become contemptible. So, your reverences, monks who are of middle standing become contemptible in these three ways.

Tatrāvuso, navā bhikkhū tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhantī’ti—iminā paṭhamena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. ‘Yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme nappajahantī’ti—iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. ‘Bāhulikā ca honti, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā’ti—iminā tatiyena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. Navā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti.

Ettāvatā kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti.

 

 

 

Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng bị quở trách.

Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly.

 

 

Among them, your reverences, monks who are newly ordained monks become contemptible in three ways: (1) If, while the Teacher is staying in seclusion, disciples do not follow his example as to aloofness, this is the first way in which monks who are newly ordained monks become contemptible. (2) If they do not get rid of those things of which the Teacher has spoken of getting rid, this is the second way in which monks who are newly ordained monks become contemptible. (3) If they are ones for abundance and are lax, taking the lead in backsliding, throwing off the yoke of seclusion, this is the third way in which monks who are newly ordained monks become contemptible. So, your reverences, monks who are newly ordained monks become contemptible in these three ways.

In these respects, your reverences, while the Teacher is staying in seclusion, do disciples not follow his example as to aloofness.

Kittāvatā ca panāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā viveka­manu­sikkhanti? Idhāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā viveka­manu­sikkhanti—yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahanti; na ca bāhulikā honti, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā. 

 

Và như thế nào, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly? Này chư Hiền, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Những pháp nào, vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly.

 

But in what respects, while the Teacher is staying in seclusion, do disciples follow his example as to aloofness? This is a case, your reverences, where, while the Teacher is staying in seclusion, disciples follow his example as to aloofness and get rid of those things of which the Teacher has spoken of getting rid, they are not ones for abundance, they are not lax, they throw off the yoke of backsliding and take the lead in seclusion.

Tatrāvuso, therā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā viveka­manu­sikkhantī’ti—iminā paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. ‘Yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahantī’ti—iminā dutiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. ‘Na ca bāhulikā, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā’ti—iminā tatiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. Therā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. 

 

Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán. Among them, your reverences, monks who are elders become praiseworthy in three ways: (1) If, while the Teacher is staying in seclusion, disciples follow his example as to aloofness, this is the first way in which monks who are elders become praiseworthy. (2) If they get rid of those things of which the Teacher has spoken of getting rid, this is the second way in which monks who are elders become praiseworthy. (3) If they are not ones for abundance, if they are not lax, if they throw off the yoke of backsliding and take the lead in seclusion, this is the third way in which monks who are elders become praiseworthy. So, your reverences, monks who are elders become praiseworthy in these three ways.

Tatrāvuso, majjhimā bhikkhū … pe …

 

 

 

 

 

 

 

 

Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. … (như trên) …

 

 

 

 

 

 

 

Among them, your reverences, monks who are of middle standing become praiseworthy in three ways: (1) If, while the Teacher is staying in seclusion, disciples follow his example as to aloofness, this is the first way in which monks who are of middle standing become praiseworthy. (2) If they get rid of those things of which the Teacher has spoken of getting rid, this is the second way in which monks who are of middle standing become praiseworthy. (3) If they are not ones for abundance, if they are not lax, if they throw off the yoke of backsliding and take the lead in seclusion, this is the third way in which monks who are of middle standing become praiseworthy. So, your reverences, monks who are of middle standing become praiseworthy in these three ways.

Tatrāvuso, navā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā viveka­manu­sikkhantī’ti—iminā paṭhamena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. ‘Yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahantī’ti—iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. ‘Na ca bāhulikā, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā’ti—iminā tatiyena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. Navā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti.

Ettāvatā kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā viveka­manu­sikkhanti.

 

 

 

 

Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly.

 

 

 

Among them, your reverences, monks who are newly ordained monks become praiseworthy in three ways: (1) If, while the Teacher is staying in seclusion, disciples follow his example as to aloofness, this is the first way in which monks who are newly ordained monks become praiseworthy. (2) If they get rid of those things of which the Teacher has spoken of getting rid, this is the second way in which monks who are newly ordained monks become praiseworthy. (3) If they are not ones for abundance, if they are not lax, if they throw off the yoke of backsliding and take the lead in seclusion, this is the third way in which monks who are newly ordained monks become praiseworthy. So, your reverences, monks who are newly ordained monks become praiseworthy in these three ways.

In these respects, your reverences, while the Teacher is staying in seclusion, do disciples follow his example as to aloofness.

Tatrāvuso, lobho ca pāpako doso ca pāpako. Lobhassa ca pahānāya dosassa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. Katamā ca sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṃ kho sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.

 

 

Ở đây, này chư Hiền, tham là ác pháp, và sân cũng là ác pháp, có một con đường Trung đạo diệt trừ tham và diệt trừ sân, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền con đường Trung đạo ấy là gì—(con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

 

Herein, your reverences, greed is evil and ill-will is evil; for getting rid of greed and for getting rid of ill-will there is the Middle Course which, making for vision, making for knowledge, conduces to tranquillity, to super-knowledge, to awakening, to Nibbāna. And what, your reverences, is this Middle Course which, making for vision, making for knowledge, conduces to tranquillity, to super-knowledge, to Nibbāna? It is this Ariyan Eightfold Way itself, that is to say, perfect view, perfect thought, perfect speech, perfect action, perfect mode of livelihood, perfect exertion, perfect mindfulness, perfect concentration. It is this, your reverences, that is the Middle Course which, making for vision, making for knowledge, conduces to tranquillity, to super-knowledge, to Nibbāna.

Tatrāvuso, kodho ca pāpako upanāho ca pāpako … pe … makkho ca pāpako paḷāso ca pāpako, issā ca pāpikā maccherañca pāpakaṃ, māyā ca pāpikā sāṭheyyañca pāpakaṃ, thambho ca pāpako sārambho ca pāpako, māno ca pāpako atimāno ca pāpako, mado ca pāpako pamādo ca pāpako. Madassa ca pahānāya pamādassa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. Katamā ca sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṃ kho sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattatī”ti.

 

 

 

 

 

 

Ở đây, này chư Hiền, phẫn nộ là ác pháp và hiềm hận cũng là ác pháp, giả dối là ác pháp và não hại cũng là ác pháp, tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật cũng là ác pháp. Có một con đường Trung đạo diệt trừ kiêu và diệt trừ phóng dật, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền, con đường Trung đạo ấy là gì—(con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

 

 

 

 

Herein, your reverences, anger is evil and malevolence is evil for getting rid of greed and for getting rid of ill-will; hypocrisy is evil and spite is evil for getting rid of hypocrisy and for getting rid of spite; envy is evil and stinginess is evil for getting rid of envy and for getting rid of stinginess; deceit is evil and treachery is evil for getting rid of deceit and for getting rid of treachery; obstinacy is evil and impetuosity is evil for getting rid of obstinacy, for getting rid of impetuosity; arrogance is evil and pride is evil for getting rid of arrogance and for getting rid of pride; conceit is evil and indolence is evil for getting rid of conceit and for getting rid of indolence there is the Middle Course which, making for vision, making for knowledge, conduces to tranquillity, to super-knowledge, to awakening, to Nibbāna. And what, your reverences, is this Middle Course which, making for vision, making for knowledge, conduces to tranquillity, to super-knowledge, to Nibbāna? It is this Ariyan Eightfold Way itself, that is to say, perfect view, perfect thought, perfect speech, perfect action, perfect mode of livelihood, perfect exertion, perfect mindfulness, perfect concentration. It is this, your reverences, that is the Middle Course which, making for vision, making for knowledge, conduces to tranquillity, to super-knowledge, to Nibbāna.
Idamavocāyasmā sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ abhinandunti. Tôn giả Sāriputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời giảng của Tôn giả Sāriputta. Thus spoke the venerable Sāriputta. Delighted, these monks rejoiced in what the venerable Sāriputta had said.

 

Nguồn: 

Pali: MN 3: Dhamma­dāyāda­sutta (Pāli) - Majjhima Nikāya - SuttaCentral
Tiếng Việt: MN 3: Kinh thừa tự Pháp (Tiếng Việt) - Majjhima Nikāya - SuttaCentral
English: MN 3: Discourse on Heirs of Dhamma (English) - Majjhima Nikāya - SuttaCentral

Những tập kinh khác:

MN 1: Mūlapariyāyasutta – Kinh Pháp Môn Căn Bản – The Root of All Things

MN 2: Sabbāsavasutta – Kinh Tất cả các lậu hoặc – All the Taints

MN 3: Dhammadāyādasutta – Kinh thừa tự Pháp – Discourse on Heirs of Dhamma

MN 4: Bhayabheravasutta – Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm – Fear and Dread

MN5: Anaṅgaṇasutta – Kinh Không Uế Nhiễm – Discourse on No Blemishes

MN 6: Ākaṅkheyyasutta – Kinh Ước Nguyện – If a Bhikkhu Should Wish

Những bộ Kinh khác :