DN 33: Saṅgītisuttaṃ – Kinh Phúng Tụng – The Chanting Together

Saturday April 27, 2024

 

 

SAṄGĪTISUTTAṂ

KINH PHÚNG TỤNG

(Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu)

THE CHANTING TOGETHER

(English Translation from Pāli: Maurice Walshe)

[unnamed] (DN 33) Tụng phẩm I  
♦ 296. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā mallesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi yena pāvā nāma mallānaṃ nagaraṃ tadavasari. tatra sudaṃ bhagavā pāvāyaṃ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane.

Như vầy tôi nghe.

1. Một thời Thế Tôn du hành giữa dân tộc Mallà cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Ngài đến tại thành của dân chúng Mallà tên là Pàvà và trú tại đấy. Thế Tôn trú tại Pàvà trong rừng xoài của thợ rèn Cunda.

[207] 1.1. THUS HAVE I HEARD. Once the Lord was touring in the Malla country with a large company of about five hundred monks. Arrived at Pāvā, the Mallas’ capital, he stayed in the mango-grove of Cunda the smith. (1012)
ubbhatakanavasandhāgāraṃ (DN 33)    
♦ 297. tena kho pana samayena pāveyyakānaṃ mallānaṃ ubbhatakaṃ nāma navaṃ sandhāgāraṃ {santhāgāraṃ (sī. pī.), saṇṭhāgāraṃ (syā. kaṃ.)} acirakāritaṃ hoti anajjhāvuṭṭhaṃ {anajjhāvutthaṃ (sī. syā. pī. ka.)} samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena. assosuṃ kho pāveyyakā mallā — “bhagavā kira mallesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi pāvaṃ anuppatto pāvāyaṃ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane”ti. atha kho pāveyyakā mallā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinnā kho pāveyyakā mallā bhagavantaṃ etadavocuṃ — “idha, bhante, pāveyyakānaṃ mallānaṃ ubbhatakaṃ nāma navaṃ sandhāgāraṃ acirakāritaṃ hoti anajjhāvuṭṭhaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena. tañca kho, bhante, bhagavā paṭhamaṃ paribhuñjatu, bhagavatā paṭhamaṃ paribhuttaṃ pacchā pāveyyakā mallā paribhuñjissanti. tadassa pāveyyakānaṃ mallānaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti. adhivāsesi kho bhagavā tuṇhībhāvena.

2. Lúc bấy giờ, một hội trường tên là Ubbhataka mới được dựng lên giữa dân chúng Mallà, trú ở Pàvà, và hội trường này chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn, hay một người nào khác an trú. Dân chúng Mallà ở Pàvà được nghe: "Thế Tôn du hành giữa dân tộc Mallà, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị.

Ngài đến tại Pàvà, trú tại đấy, trong rừng xoài của thợ rèn Cunda". Rồi các vị Mallà ở Pàvà đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị Mallà ở Pàvà bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, ở đây một hội trường tên là Ubbhataka mới được dựng lên giữa dân chúng Mallà ở Pàvà, và hội trường này chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn, hay một người nào khác an trú.

Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn là người đến dùng hội trường này trước tiên. Nhờ Thế Tôn dùng trước tiên, dân chúng Mallà ở Pàvà sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài.

Thế Tôn im lặng nhận lời.

1.2. Now at that time a new meeting-hall of the Mallas of Pāvā, called Ubbhaṭaka, (1013) had recently been built, and it had not yet been occupied by any ascetic or Brahmin, or indeed by any human being.

Hearing that the Lord was staying in Cunda’s mangogrove, the Mallas of Pāvā went to see him. Having saluted him, they sat down to one side and said:

‘Lord, the Mallas of Pāvā have recently erected a new meeting-hall called Ubbhataka, and it has not yet been occupied by any ascetic or Brahmin, or indeed by any human being. [208]

May the Blessed Lord be the first to use it! Should he do so, that would be for the lasting good and happiness of the Mallas of Pāvā.’

And the Lord consented by silence.

♦ 298. atha kho pāveyyakā mallā bhagavato adhivāsanaṃ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā yena sandhāgāraṃ tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṃ {sabbasanthariṃ santhataṃ (ka.)} sandhāgāraṃ santharitvā bhagavato āsanāni paññāpetvā udakamaṇikaṃ patiṭṭhapetvā telapadīpaṃ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. ekamantaṃ ṭhitā kho te pāveyyakā mallā bhagavantaṃ etadavocuṃ — “sabbasantharisanthataṃ {sabbasanthariṃ santhataṃ (sī. pī. ka.)}, bhante, sandhāgāraṃ, bhagavato āsanāni paññattāni, udakamaṇiko patiṭṭhāpito, telapadīpo āropito. yassadāni, bhante, bhagavā kālaṃ maññatī”ti.

3. Rồi các vị Mallà ở Pàvà, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng đến Ngài, từ tạ đi đến hội trường. Sau khi đến, liền dùng đệm trải khắp tất cả, sửa soạn các ghế ngồi, đặt sẵn một ghè nước, treo cây đèn dầu, rồi đến chỗ Thế Tôn ở. Sau khi đến, các vị này đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, các vị Mallà ở Pàvà bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, hội trường đã được trải nệm tất cả, các ghế ngồi đã được sửa soạn, ghè nước đã được đặt sẵn, cây đèn dầu đã được treo lên, Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời.

1.3. Noting his assent, the Mallas rose, saluted him, passed out to his right and went to the meeting-hall. They spread mats all round, arranged seats, put out a water-pot and an oil-lamp, and then, returning to the Lord, saluted him, sat down to one side and reported what they had done, saying:

‘Whenever the Blessed Lord is ready.’

♦ 299. atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṃ bhikkhusaṅghena yena sandhāgāraṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā sandhāgāraṃ pavisitvā majjhimaṃ thambhaṃ nissāya puratthābhimukho nisīdi. bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā sandhāgāraṃ pavisitvā pacchimaṃ bhittiṃ nissāya puratthābhimukho nisīdi bhagavantaṃyeva purakkhatvā. pāveyyakāpi kho mallā pāde pakkhāletvā sandhāgāraṃ pavisitvā puratthimaṃ bhittiṃ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṃsu bhagavantaṃyeva purakkhatvā. atha kho bhagavā pāveyyake malle bahudeva rattiṃ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṃsetvā uyyojesi — “abhikkantā kho, vāseṭṭhā, ratti. yassadāni tumhe kālaṃ maññathā”ti. “evaṃ, bhante”ti kho pāveyyakā mallā bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkamiṃsu.

4. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại hội trường. Khi đến xong Ngài rửa chân và vào hội trường. Thế Tôn ngồi dựa trên cột chính giữa, mặt hướng về phía Ðông.

Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, vào hội trường, ngồi dựa trên bức tường phía Tây, mặt hướng về phía Ðông, sau lưng Thế Tôn.

Các vị Mallà ở Pàvà cũng rửa chân, đi vào hội trường, và ngồi xuống, dựa vào bức tường phía Ðông, mặt hướng phía Tây, trước mặt có Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn, cho đến đêm thật khuya, thuyết pháp cho dân Mallà ở Pàvà, giảng dạy, giải thích, khích lệ, làm cho hứng khởi rồi bảo các vị ấy về:

- Này Vàsetthà, đêm đã quá khuya. Các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi xem là phải thời.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Các vị Mallà ở Pàvà vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và ra đi.

1.4. Then the Lord dressed, took his robe and bowl, and went to the meeting-hall with his monks. There he washed his feet, entered the hall and sat down against the central pillar, facing east.

The monks, having washed their feet, entered the hall and sat down along the western wall facing east, [209] with the Lord in front of them.

The Pāvā Mallas washed their feet, entered the hall, and sat down along the eastern wall facing west, with the Lord in front of them.

Then the Lord spoke to the Mallas on Dhamma till far into the night, instructing, inspiring, firing and delighting them. Then he dismissed them, saying:

‘Vāseṭṭhas, (1014) the night has passed away. (1015) Now do as you think fit.’

‘Very good, Lord’, replied the Mallas. And they got up, saluted the Lord, and went out, passing him by on the right.

♦ 300. atha kho bhagavā acirapakkantesu pāveyyakesu mallesu tuṇhībhūtaṃ tuṇhībhūtaṃ bhikkhusaṃghaṃ anuviloketvā āyasmantaṃ sāriputtaṃ āmantesi — “vigatathinamiddho {vigatathīnamiddho (sī. syā. kaṃ. pī.)} kho, sāriputta, bhikkhusaṅgho. paṭibhātu taṃ, sāriputta, bhikkhūnaṃ dhammīkathā. piṭṭhi me āgilāyati. tamahaṃ āyamissāmī”ti {āyameyyāmīti (syā. kaṃ.)}. “evaṃ, bhante”ti kho āyasmā sāriputto bhagavato paccassosi. atha kho bhagavā catugguṇaṃ saṅghāṭiṃ paññapetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṃ kappesi pāde pādaṃ accādhāya, sato sampajāno uṭṭhānasaññaṃ manasi karitvā.

5. Thế Tôn, khi dân Mallà đi chưa bao lâu, nhìn chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, rồi bảo tôn giả Sàriputta:

- Này Sàriputta, chúng Tỷ-kheo không có hôn trầm thụy miên. Này Sàriputta, hãy thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo. Ta cảm thấy đau lưng! Ta muốn nằm nghỉ.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn! - Tôn giả Sàriputta vâng lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn, xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn và nằm xuống như cách nằm con sư tử, thân phía hữu, hai chân để trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, với tâm nghĩ đến lúc ngồi dậy.

1.5. As soon as the Mallas had gone the Lord, surveying the monks sitting silently all about, said to the Venerable Sāriputta:

‘The monks are free from sloth-and torpor, (1016) Sāriputta. You think of a discourse on Dhamma to give to them. My back aches, I want to stretch it.’

‘Very good, Lord’, replied Sāriputta.

Then the Lord, having folded his robe in four, lay down on his right side in the lion posture, (1017) with one foot on the other, mindful and clearly aware, and bearing in mind the time to arise.

bhinnanigaṇṭhavatthu (DN 33)    
♦ 301. tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto pāvāyaṃ adhunākālaṅkato hoti. tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā {ddheḷhakajātā (syā. kaṃ.)} bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṃ mukhasattīhi vitudantā viharanti {vicaranti (syā. kaṃ.)} — “na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi, ahaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāmi, kiṃ tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānissasi! micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. sahitaṃ me, asahitaṃ te. purevacanīyaṃ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṃ pure avaca. adhiciṇṇaṃ te viparāvattaṃ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī”ti. vadhoyeva kho maññe nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu vattati. yepi {yepi te (sī. pī.)} nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvakā gihī odātavasanā, tepi nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu nibbinnarūpā virattarūpā paṭivānarūpā, yathā taṃ durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṃvattanike asammāsambuddhappavedite bhinnathūpe appaṭisaraṇe.

6. Lúc bấy giờ, Niganthà Nàthaputta vừa mới tạ thế ở Pàvà. Sau khi vị này tạ thế, các vị Niganthà chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí bằng miệng: "Ngươi không biết Pháp và Luật này, ta biết Pháp và Luật này. Sao Ngươi có thể biết Pháp và Luật này?

Người theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Ðiều đáng nói trớưc, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước.

Ðiều Ngươi quan niệm trình bày đã bị đảo lộn. Quan niệm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được".

Hình như các đệ tử của Niganthà Nàthaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigantha Nàthaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm và phản đối các vị Nigantha, vì Pháp và Luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.

1.6. Now at that time the Nigaṇṭha Nātaputta [210] had just died at Pāvā. And at his death the Nigaṇṭhas were split into two parties, quarrelling and disputing... (as Sutta 29, verse 1).

You would have thought they were bent on killing each other. Even the white-robed lay followers were disgusted when they saw that their doctrine and discipline was so illproclaimed,... having been proclaimed by one not fullyenlightened and now with its support gone, without an arbiter.

♦ 302. atha kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi — “nigaṇṭho, āvuso, nāṭaputto pāvāyaṃ adhunākālaṅkato, tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā ... pe ... bhinnathūpe appaṭisaraṇe”. “evañhetaṃ, āvuso, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṃvattanike asammāsambuddhappavedite. ayaṃ kho panāvuso amhākaṃ {asmākaṃ (pī.)} bhagavatā {bhagavato (ka. sī.)} dhammo svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṃvattaniko sammāsambuddhappavedito. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ, na vivaditabbaṃ, yathayidaṃ brahmacariyaṃ addhaniyaṃ assa ciraṭṭhitikaṃ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

7. Rồi tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:

- Này Hiền giả, Niganthà Nàthaputta vừa mới từ trần không bao lâu. Sau khi vị này từ trần, các Nigantha (Ni-kiền-tử) chia làm hai phe... và không có chỗ y chỉ.

Nhưng với chúng ta, này các Hiền giả, pháp này được Thế Tôn khéo giảng dạy, khéo trình bày, một Chánh pháp có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác trình bày.

Ở đây, tất cả mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

1.7. And the Venerable Sāriputta addressed the monks, referring to this situation, and said:

‘So ill-proclaimed was their teaching and discipline, so unedifyingly displayed, and so ineffectual in calming the passions, having been proclaimed by one who was not fully enlightened. [211]

But, friends, this Dhamma has been well proclaimed by the Lord, the fully-enlightened One.

And so we should all recite it together (1018) without disagreement, so that this holy life may be enduring and established for a long time, thus to be for the welfare and happiness of the multitude, out of compassion for the world, for the benefit, welfare and happiness of devas and humans.

♦ “katamo cāvuso, amhākaṃ bhagavatā {bhagavato (ka. sī.)} dhammo svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṃvattaniko sammāsambuddhappavedito; yattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ, na vivaditabbaṃ, yathayidaṃ brahmacariyaṃ addhaniyaṃ assa ciraṭṭhitikaṃ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ?

Này các Hiền giả, thế nào là Pháp được Thế Tôn chúng ta khéo giảng dạy, khéo trình bày, một pháp có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh do vị Chánh Ðẳng Giác trình bày?

Ở đây, tất cả cần phải cùng nhau tụng đọc không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

And what is this Dhamma that has been well proclaimed by the Lord...?
ekakaṃ (DN 33) Một pháp  
♦ 303. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena eko dhammo sammadakkhāto. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ, na vivaditabbaṃ, yathayidaṃ brahmacariyaṃ addhaniyaṃ assa ciraṭṭhitikaṃ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katamo eko dhammo? sabbe sattā āhāraṭṭhitikā. sabbe sattā saṅkhāraṭṭhitikā. ayaṃ kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena eko dhammo sammadakkhāto. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ, na vivaditabbaṃ, yathayidaṃ brahmacariyaṃ addhaniyaṃ assa ciraṭṭhitikaṃ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

Này các Hiền giả, có một pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị này đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

8. Thế nào là một pháp? Tất cả loài hữu tình do các món ăn (àhàra) mà an trú,

tất cả loài hữu tình do các hành (samkhàrà) mà an trú.

Này các Hiền giả, đó là một pháp được Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng một cách chơn chánh.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

‘There is one thing that was perfectly proclaimed by the Lord who knows and sees, the fully-enlightened Buddha.

So we should all recite together... for the benefit, welfare and happiness of devas and humans.

1.8. ‘What is this one thing? (1019) (eko dhammo).

(1) ‘All beings are maintained by nutriment āhāratthitikā).

(2) ‘All beings are maintained by conditions (sankhdratthitikā).’ (1020) [212]

dukaṃ (DN 33) Hai pháp  
♦ 304. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dve dhammā sammadakkhātā. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ, na vivaditabbaṃ, yathayidaṃ brahmacariyaṃ addhaniyaṃ assa ciraṭṭhitikaṃ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katame dve {dve dhammo (syā. kaṃ.) evamuparipi}?

9. Này các Hiền giả, có hai pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Thế nào là hai pháp?

1.9. ‘There are [sets of] two things that were perfectly proclaimed by the Lord...

Which are they?

♦ “nāmañca rūpañca.

♦ “avijjā ca bhavataṇhā ca.

♦ “bhavadiṭṭhi ca vibhavadiṭṭhi ca.

♦ “ahirikañca {ahirīkañca (katthaci)} anottappañca.

♦ “hirī ca ottappañca.

♦ “dovacassatā ca pāpamittatā ca.

♦ “sovacassatā ca kalyāṇamittatā ca.

♦ “āpattikusalatā ca āpattivuṭṭhānakusalatā ca.

♦ “samāpattikusalatā ca samāpattivuṭṭhānakusalatā ca.

♦ “dhātukusalatā ca manasikārakusalatā ca.

♦ “āyatanakusalatā ca paṭiccasamuppādakusalatā ca.

♦ “ṭhānakusalatā ca aṭṭhānakusalatā ca.

♦ “ajjavañca lajjavañca.

♦ “khanti ca soraccañca.

♦ “sākhalyañca paṭisanthāro ca.

♦ “avihiṃsā ca soceyyañca.

♦ “muṭṭhassaccañca asampajaññañca.

♦ “sati ca sampajaññañca .

♦ “indriyesu aguttadvāratā ca bhojane amattaññutā ca.

♦ “indriyesu guttadvāratā ca bhojane mattaññutā ca.

♦ “paṭisaṅkhānabalañca {paṭisandhānabalañca (syā.)} bhāvanābalañca.

♦ “satibalañca samādhibalañca.

♦ “samatho ca vipassanā ca.

♦ “samathanimittañca paggahanimittañca.

♦ “paggaho ca avikkhepo ca.

♦ “sīlavipatti ca diṭṭhivipatti ca.

♦ “sīlasampadā ca diṭṭhisampadā ca.

♦ “sīlavisuddhi ca diṭṭhivisuddhi ca.

♦ “diṭṭhivisuddhi kho pana yathā diṭṭhissa ca padhānaṃ.

♦ “saṃvego ca saṃvejanīyesu ṭhānesu saṃviggassa ca yoniso padhānaṃ.

♦ “asantuṭṭhitā ca kusalesu dhammesu appaṭivānitā ca padhānasmiṃ.

♦ “vijjā ca vimutti ca.

♦ “khayeñāṇaṃ anuppādeñāṇaṃ.

i) Danh và sắc.

ii) Vô minh và hữu ái.

iii) Hữu kiến và vô hữu kiến.

iv) Vô tàm và vô quý.

v) Tàm và quý.

vi) Ác ngôn và ác hữu.

vii) Thiện ngôn và thiện hữu.

viii) Nhập tội thiện xảo và xuất tội thiện xảo.

ix) Ðẳng chí thiện xảo và xuất khởi đẳng chí thiện xảo.

x) Giới thiện xảo và tác ý thiện xảo.

xi) Xứ thiện xảo và duyên khởi thiện xảo.

xii) Thiện xảo về xứ và thiện xảo về phi xứ.

xii) Chơn trực và tàm quý.

xiv) Kham nhẫn và nhu hòa.

xv) Lời nói nhu thuần và tiếp đón thân tình.

xvi) Vô hại và từ ái.

xvii) Thất niệm và bất chánh tri.

xvii) Chánh niệm và tỉnh giác.

xix) Các căn không được chế ngự và ăn uống không tiết độ.

xx) Các căn được chế ngự và ăn uống có tiết độ.

xxi) Tư duy lực và tu tập lực.

xxii) Niệm lực và định lực.

xxiii) Chỉ và quán.

xxiv) Chỉ tướng và tinh cần tướng.

xxv) Tinh cần và không dao động.

xxvi) Giới thành tựu và kiến thành tựu.

xxvii) Giới suy khuyết và kiến suy khuyết.

xxxiii) Giới thanh tịnh và kiến thanh tịnh.

xxix) Kiến thanh tịnh và tinh cần theo tri kiến ấy.

xxx) Dao động đối với các pháp bị dao động và chánh tinh cần của người bị dao động ấy.

xxxi) Không tri túc với các thiện pháp và không thối thất trong tinh cần.

xxxii) Minh tri và giải thoát.

xxxiii) Tận tri và vô sanh trí.

(1) ‘Mind and body (nāmañ ca rūpañ ca).

(2) ‘Ignorance and craving for existence (avijjā ca bhavataṇhā ca).

(3) ‘Belief in [continued] existence and belief in nonexistence (bhava-ditthi ca vibhava-diṭṭhi ca).

(4) ‘Lack of moral shame and lack of moral dread (ahirikañ ca anottappan ca).

(5) ‘Moral shame and moral dread (hiri ca ottappañ ca).

(6) ‘Roughness and friendship with evil (dovacassatā ca pāpamittata ca).

(7) ‘Gentleness and friendship with good (sovacassatā ca kalyānamittatā ca).

(8) ‘Skill in [knowing] offences and [the procedure for] rehabilitation from them (āpatti-kusalatā ca āpatti-vuṭṭhānakusalatā ca).

(9) ‘Skill in entering and returning from [jhāna] (samāpattikusalatā ca samāpatti vuṭṭhāna-kusalatā ca). (1021)

(10) ‘Skill in [knowing] the [eighteen] elements (1022) and in paying attention to them (dhātu-kusalatā ca manasikārakusala-ta ca).

(11) ‘Skill in [knowing] the [twelve] sense-spheres (āyatanak.) and dependent origination.

(12) ‘Skill in [knowing] what are causes and what are not (ṭhāna-k. ca aṭṭhāna-k.) [213]

(13) ‘Straightforwardness and modesty (ajjavañ ca lajjavañ ca). (1023)

(14) ‘Patience and gentleness (khanti ca soraccañ ca).

(15) ‘Gentle speech and politeness (sākhalyañ ca paṭisanthāro ca).

(16) ‘Non-harming and purity (avihi̇ṁsā ca soceyyañ ca). (1024)

(17) ‘Lack of mindfulness (1025) and of clear awareness (muṭṭhasaccañ ca asampajaññañ ca).

(18) ‘Mindfulness and clear awareness (sati ca sampajaññañ ca).

(19) ‘Unguarded sense-doors and non restraint in eating (indriyesu aguttadvāratā ca bhojane amattaññutā ca).

(20) ‘Guarded sense-doors and restraint in eating (... guttadvāratā... mattaññutā).

(21) ‘Powers of reflection (1026) and mental development (paṭisankhāna-balañca bhāvanā-balañ ca).

(22) ‘Powers of mindfulness and concentration (sati-balañ ca samādhi-balañ ca).

(23) ‘Calm and insight (samatho ca vipassanā ca). (1027)

(24) ‘The sign of calm and grasping the sign (samathanimittañ ca paggaha nimittañ ca).

(25) ‘Exertion and non-distraction (paggaho ca avikheppo ca).

(26) ‘Attainment of morality and [right] view (sīla-sampadā ca diṭṭhi-sampadā ca).

[214] (27) ‘Failure of morality and view (sīla-vipatti ca diṭṭhivipatti ca).

(28) ‘Purity of morality and view (sīla visuddhi ca diṭṭhivisuddhi ca).

(29) ‘Purity of view and the effort to attain it (diṭṭhi-visuddhi kho pana yathā diṭṭhissa ca padhānaṁ).

(30) ‘Being moved to a sense of urgency (1028) by what should move one, and the systematic effort of one so moved (saṁvego ca saṁvejaniyesu ṭhānesu saṁviggassa ca yoniso padhānaṁ).

(31) ‘Not being content with wholesome acts and not shrinking from exertion (asantutthitā ca kusalesu dhammesu appaṭiv ānitā ca padhānasmiṁ).

(32) ‘Knowledge and liberation (vijjā ca vimutti ca).

(33) ‘Knowledge of the destruction [of the defilements] and of [their] nonrecurrence (khaye ñiṇaṁ anuppāde ñānaṁ).

♦ “ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dve dhammā sammadakkhātā. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ, na vivaditabbaṃ, yathayidaṃ brahmacariyaṃ addhaniyaṃ assa ciraṭṭhitikaṃ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

Này các Hiền giả, hai pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

‘These are the [sets of] two things that were perfectly proclaimed by the Lord...

So we should all recite them together...’

tikaṃ (DN 33) Ba Pháp  
♦ 305. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tayo dhammā sammadakkhātā. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katame tayo?

10. Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Thế nào là ba pháp?

1.10. ‘There are [sets of] three things...

Which are they?

♦ “tīṇi akusalamūlāni — lobho akusalamūlaṃ, doso akusalamūlaṃ, moho akusalamūlaṃ.

♦ “tīṇi kusalamūlāni — alobho kusalamūlaṃ, adoso kusalamūlaṃ, amoho kusalamūlaṃ.

♦ “tīṇi duccaritāni — kāyaduccaritaṃ, vacīduccaritaṃ, manoduccaritaṃ.

♦ “tīṇi sucaritāni — kāyasucaritaṃ, vacīsucaritaṃ, manosucaritaṃ.

♦ “tayo akusalavitakkā — kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṃsāvitakko.

♦ “tayo kusalavitakkā — nekkhammavitakko, abyāpādavitakko, avihiṃsāvitakko.

♦ “tayo akusalasaṅkappā — kāmasaṅkappo, byāpādasaṅkappo, vihiṃsāsaṅkappo.

♦ “tayo kusalasaṅkappā — nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṃsāsaṅkappo.

♦ “tisso akusalasaññā — kāmasaññā, byāpādasaññā, vihiṃsāsaññā.

♦ “tisso kusalasaññā — nekkhammasaññā, abyāpādasaññā, avihiṃsāsaññā.

♦ “tisso akusaladhātuyo — kāmadhātu, byāpādadhātu, vihiṃsādhātu.

♦ “tisso kusaladhātuyo — nekkhammadhātu, abyāpādadhātu, avihiṃsādhātu.

♦ “aparāpi tisso dhātuyo — kāmadhātu, rūpadhātu, arūpadhātu.

♦ “aparāpi tisso dhātuyo — rūpadhātu, arūpadhātu, nirodhadhātu.

♦ “aparāpi tisso dhātuyo — hīnadhātu, majjhimadhātu, paṇītadhātu.

♦ “tisso taṇhā — kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā.

♦ “aparāpi tisso taṇhā — kāmataṇhā, rūpataṇhā, arūpataṇhā.

♦ “aparāpi tisso taṇhā — rūpataṇhā, arūpataṇhā, nirodhataṇhā.

♦ “tīṇi saṃyojanāni — sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbataparāmāso.

♦ “tayo āsavā — kāmāsavo, bhavāsavo, avijjāsavo.

♦ “tayo bhavā — kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo.

♦ “tisso esanā — kāmesanā, bhavesanā, brahmacariyesanā.

♦ “tisso vidhā — seyyohamasmīti vidhā, sadisohamasmīti vidhā, hīnohamasmīti vidhā.

♦ “tayo addhā — atīto addhā, anāgato addhā, paccuppanno addhā.

♦ “tayo antā — sakkāyo anto, sakkāyasamudayo anto, sakkāyanirodho anto.

♦ “tisso vedanā — sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.

♦ “tisso dukkhatā — dukkhadukkhatā, saṅkhāradukkhatā, vipariṇāmadukkhatā.

♦ “tayo rāsī — micchattaniyato rāsi, sammattaniyato rāsi, aniyato rāsi.

i) Ba bất thiện căn: Tham bất thiện căn, sân bất thiện căn, si bất thiện căn.

ii) Ba thiện căn: Vô tham thiện căn, vô sân thiện căn, vô si thiện căn.

iii) Ba ác hạnh: Thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh.

iv) Ba thiện hạnh: Thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh.

v) Ba bất thiện tầm: Dục tầm, sân tầm, hại tầm.

vi) Ba thiện tầm: Ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm.

vii) Ba bất thiện tư duy: Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy.

viii) Ba thiện tư duy: Ly dục tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy.

ix) Ba bất thiện tưởng: Dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng.

x) Ba thiện tưởng: Ly dục tưởng, vô sân tưởng, vô hại tưởng.

xi) Ba bất thiện giới: Dục giới, sân giới, hại giới.

xii) Ba thiện giới: Ly dục giới, vô sân giới, vô hại giới.

xiii) Ba giới khác: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới.

xiv) Ba giới khác: Sắc giới, vô sắc giới, diệt giới.

xv) Ba giới khác: Liệt giới, trung giới, thắng giới.

xvi) Ba ái: Dục ái, hữu ái, vô hữu ái.

xvii) Ba ái khác: Dục ái, sắc ái, vô sắc ái.

xviii) Ba ái khác: Sắc ái, vô sắc ái, diệt ái.

xix) Ba kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ.

xx) Ba lậu: Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.

xxi) Ba hữu: Dục hữu, sắc hữu, vô minh hữu.

xxii) Ba cầu: Dục cầu, hữu cầu, phạm hạnh cầu.

xxiii) Ba mạn: Thắng mạn, đẳng mạn, ty liệt mạn.

xxiv) Ba thời: Quá khứ thời, vị lai thời, hiện tại thời.

xxv) Ba biên: Hữu thân biên, hữu thân tập biên, hữu thân diệt biên.

xvi) Ba thọ: Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ.

xvii) Ba khổ tánh: Khổ khổ, hành khổ, hoại khổ.

xxviii) Ba tụ: Tà định tụ, chánh định tụ, bất định tụ.

(1) ‘Three unwholesome roots: of greed, hatred, delusion (lobho akusala-mūlaṁ, doso akusala-mūlaṁ, moho akusalamūlaṁ).

(2) ‘Three wholesome roots: of non-greed, non-hatred non-delusion (alobho...).

(3) ‘Three kinds of wrong conduct: in body, speech and thought (kāya duccaritaṁ, vacī-duccaritaṁ, manoduccaritaṁ). [215]

(4) ‘Three kinds of right conduct: in body, speech and thought (kāya-sucaritaṁ...).

(5) ‘Three kinds of unwholesome thought (akusalavitakkā): of sensuality, of enmity, of cruelty (kāma-vitakko, vyāpādavitakko, vihiṁsa-vitakko).

(6) ‘Three kinds of wholesome thought: of renunciation (nekkhamma-vitakko), of non-enmity, of non-cruelty.

(7) ‘Three kinds of unwholesome motivation (sankappa): (1029) through sensuality, enmity, cruelty.

(8) ‘Three kinds of wholesome motivation: through renunciation (nekkhamma), non enmity, non-cruelty.

(9) ‘Three kinds of unwholesome perception (saññā): of sensuality, of enmity, of cruelty.

(10) ‘Three kinds of wholesome perception: of renunciation, of non-enmity, of non cruelty.

(11) ‘Three unwholesome elements (dhātuyo): sensuality, enmity, cruelty.

(12) ‘Three wholesome elements: renunciation, nonenmity, non-cruelty.

(13) ‘Three more elements: the element of sensedesire, (1030) the element of form, the formless element (kāmadhātu, rūpadhātu, arūpa-dhātu).

(14) ‘Three more elements: the element of form, the formless element, the element of cessation (1031) (rūpa-dhūtu, arūpa-dhātu, nirodha-dhātu).

(15) ‘Three more elements: the low element, the middling element, the sublime element (hīnā dhātu, majjhimā dhātu, paṇītā dhātu). [216]

(16) ‘Three kinds of craving: sensual craving, craving for becoming, (1032) craving for extinction (1033) (kāma-taṇhā, bhavataṇhā, vibhava-taṇhā).

(17) ‘Three more kinds of craving: craving for [the World of] Sense-Desires, for [the World of] Form, for the Formless [World (kāma-taṇhā, rūpa-taṇhā, arūpa-taṇhā).

(18) ‘Three more kinds of craving: for [the World of] Form, for the Formless [World], for cessation (as for (14)).

(19) ‘Three fetters (saṁyojanāni): of personality-belief, of doubt, of attachment to rite and ritual (sakkāya-diṭṭhi, vicikicchā, sīabbata-parāmāso).

(20) ‘Three corruptions (āsavā): of sense desire, of becoming, of ignorance (kāmāsavo, bhavāsavo, avijjāsavo).

(21) ‘Three kinds of becoming: [in the World] of SenseDesire, of Form, in the Formless World (kāma-bhavo, rūpabhavo, arūpa-bhavo).

(22) ‘Three quests: for sense-desires, for becoming, for the holy life (kāmesanā, bhavesanā, brahmacariyesanā).

(23) ‘Three forms of conceit: “I am better than... ”, “I am equal to...”, “I am worse than...” (“seyyo ‘ham asmīti” vidhā, “sadiso ‘ham asmīti” vidhā, “hīno ‘ham asmīti” vidhā).

(24) ‘Three times: past, future, present (atīto addhā, anāgato addhā, paccuppanno addhā).

(25) ‘Three “ends” (antd): (1034) personality, its arising, its cessation (sakkāya anto, sakkāya-samudayo anto, sakkāyanirodho anto).

(26) ‘Three feelings: pleasant, painful, neither (sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkham-asukhā vedanā).

(27) ‘Three kinds of suffering: as pain, as inherent in formations, as due to change (dukkha-dukkhatā, sankhāradukkhatā, viparināma-dukkhatā). [217]

(28) ‘Three accumulations: evil with fixed result, (1035) good with fixed result, (1036) indeterminate (micchatta niyato rāsi, sammatta-niyato rāsi, aniyato-rāsi).

♦ “tayo tamā {tisso kaṅkhā (bahūsu) aṭṭhakathā oloketabbā} — atītaṃ vā addhānaṃ ārabbha kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, anāgataṃ vā addhānaṃ ārabbha kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, etarahi vā paccuppannaṃ addhānaṃ ārabbha kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. xxix) Ba nghi: Ðối với vấn đề thuộc quá khứ nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng; đối với các vấn đề thuộc tương lai, nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng; đối với các vấn đề hiện tại nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng. (29) ‘Three obscurations (tamā): (1037) One hesitates (kankhati), vacillates (vicikicchati), is undecided (nādhimuccati), is unsettled (na sampasīdati) about the past, the future, the present.
♦ “tīṇi tathāgatassa arakkheyyāni — parisuddhakāyasamācāro āvuso tathāgato, natthi tathāgatassa kāyaduccaritaṃ, yaṃ tathāgato rakkheyya — ‘mā me idaṃ paro aññāsī’ti. parisuddhavacīsamācāro āvuso, tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritaṃ, yaṃ tathāgato rakkheyya — ‘mā me idaṃ paro aññāsī’ti. parisuddhamanosamācāro, āvuso, tathāgato, natthi tathāgatassa manoduccaritaṃ yaṃ tathāgato rakkheyya — ‘mā me idaṃ paro aññāsī’ti.

xxx) Ba điều Như Lai không cần gìn giữ: Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về thân. Như Lai không có ác về thân mà Như Lai phải gìn giữ: "Chớ để người khác biết việc này về Ta".

Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về miệng. Như Lai không có ác hạnh về miệng mà Như Lai phải gìn giữ: "Chớ để người khác biết việc này về Ta".

Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về ý. Như Lai không có ác hạnh về ý mà Như Lai phải gìn giữ: "Chớ để người khác biết việc này về Ta".

(30) ‘Three things a Tathagata has no need to guard against:

A Tathagata is perfectly pure in bodily conduct, in speech and in thought (parisuddha-kāya-, -vacī-, -mano samācāro).

There is no misdeed of body, speech or thought which he must conceal lest anyone should get to hear about it.

♦ “tayo kiñcanā — rāgo kiñcanaṃ, doso kiñcanaṃ, moho kiñcanaṃ.

♦ “tayo aggī — rāgaggi, dosaggi, mohaggi.

♦ “aparepi tayo aggī — āhuneyyaggi, gahapataggi, dakkhiṇeyyaggi.

♦ “tividhena rūpasaṅgaho — sanidassanasappaṭighaṃ rūpaṃ {sanidassanasappaṭigharūpaṃ (syā. kaṃ.) evamitaradvayepi}, anidassanasappaṭighaṃ rūpaṃ, anidassanāppaṭighaṃ rūpaṃ.

♦ “tayo saṅkhārā — puññābhisaṅkhāro, apuññābhisaṅkhāro, āneñjābhisaṅkhāro.

♦ “tayo puggalā — sekkho puggalo, asekkho puggalo, nevasekkhonāsekkho puggalo.

♦ “tayo therā — jātithero, dhammathero, sammutithero {sammatithero (syā. kaṃ.)}.

♦ “tīṇi puññakiriyavatthūni — dānamayaṃ puññakiriyavatthu, sīlamayaṃ puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṃ puññakiriyavatthu.

♦ “tīṇi codanāvatthūni — diṭṭhena, sutena, parisaṅkāya.

xxxi) Ba chướng: Tham chướng, sân chướng, si chướng.

xxxii) Ba loại lửa: Lửa tham, lửa sân, lửa si.

xxxiii) Ba loại lửa khác: Lửa của người hiếu kính, lửa của người gia chủ, lửa của người cúng dường (cha mẹ, vợ con và các vị xuất gia).

xxxiv) Ba loại sắc tụ: Hữu kiến hữu đối sắc, vô kiến hữu đối sắc, vô kiến vô đối sắc.

xxxv) Ba hành: Phước hành, phi phước hành, bất động hành.

xxxvi) Ba loại người: Hữu học nhân, vô học nhân, phi hữu học phi vô học nhân.

xxxvii) Ba vị trưởng lão: Sanh trưởng lão, pháp trưởng lão, nhập định trưởng lão.

xxxviii) Ba phước nghiệp sự: Thí hành phước nghiệp sự, giới hành phước nghiệp sự, tu hành phước nghiệp sự.

xxxix) Ba cử tội sự: Thấy, nghe và nghi.

(31) ‘Three obstacles: (1038) lust, hatred, delusion (rāgo kiñcanaṁ, dosa kiñcanaṁ, moho kiñcanaṁ).

(32) ‘Three fires: lust, hatred, delusion (rāgaggi, dosaggi, mohaggi).

(33) ‘Three more fires: the fire of those to be revered, of the householder, of those worthy of offerings (1039) (āhuneyyaggi, gahapataggi, dakkhineyyaggi).

(34) ‘Threefold classification of matter: visible and resisting, invisible and resisting, invisible and unresisting (1040) (sanidassana-sappaṭighaṁ rūpaṁ, anidassanasappatighaṁ rūpaṁ, anidassana-appaṭighaṁ rūpaṁ).

(35) ‘Three kinds of karmic formation: (1041) meritorious, demeritorious, imperturbable (1042) (puññābhisankhāro, apuññābhisankhāro, āneñjābhisankhāro). [218]

(36) ‘Three persons: the learner, the non learner, the one who is neither (1043) (sekho puggalo, asekho puggalo, n’eva sekho nāsekho puggalo).

(37) ‘Three elders: an elder by birth, in Dhamma, by convention (1044) (jāti-thero, dhamma-thero, sammuti-thero).

(38) ‘Three grounds based on merit: that of giving, of morality, of meditation (dānamayaṁ puñña-kiriya-vatthu, sīlamayaṁ puñña-kiriya-vatthu, bhāvanāmaya puñña-kiriyavatthu).

(39) ‘Three grounds for reproof: based on what has been seen, heard, suspected (diṭṭhena, sutena, parisankāya).

♦ “tisso kāmūpapattiyo {kāmuppattiyo (sī.), kāmupapattiyo (syā. pī. ka.)} — santāvuso sattā paccupaṭṭhitakāmā, te paccupaṭṭhitesu kāmesu vasaṃ vattenti, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. ayaṃ paṭhamā kāmūpapatti. santāvuso, sattā nimmitakāmā, te nimminitvā nimminitvā kāmesu vasaṃ vattenti, seyyathāpi devā nimmānaratī. ayaṃ dutiyā kāmūpapatti. santāvuso sattā paranimmitakāmā, te paranimmitesu kāmesu vasaṃ vattenti, seyyathāpi devā paranimmitavasavattī. ayaṃ tatiyā kāmūpapatti.

xl) Ba dục sanh: Này các Hiền giả, có những loại hữu tình do dục an trú. Ðối với các dục, họ chịu sự an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài Người, một số chư Thiên, một số tái sanh trong đọa xứ. Ðó là loại dục sanh thứ nhất.

Này các Hiền giả, có những loại hữu tình có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra. Họ tạo hóa ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc hóa ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng ấy, như các loài chư Thiên Nimmàna-Rati (Hóa Lạc thiên).

Ðó là loại dục sanh thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình có lòng dục đối sự vật do các loài khác tạo ra. Họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng đối với sự vật do các loại khác tạo ra. Như các loài chư Thiên Para-nimmitava-savatti (Tha Hóa Tự tại thiên). Ðó là hạng dục sanh thứ ba.

(40) ‘Three kinds of rebirth in the Realm of Sense-Desire (kāmupapattiyo): (1045) There are beings who desire what presents itself to them (paccuppaṭṭhita-kāmā), and are in the grip of that desire, such as human beings, some devas, and some in states of woe.

There are beings who desire what they have created (nimmita-kāmā),... such as the devas Who Rejoice in Their Own Creation (Nimmānaratī).

There are beings who rejoice in the creations of others,... such as the devas Having Power over Others’ Creation (Paranimmita-vasavattī).

♦ “tisso sukhūpapattiyo {sukhupapattiyo (syā. pī. ka.)} — santāvuso sattā {sattā sukhaṃ (syā. kaṃ.)} uppādetvā uppādetvā sukhaṃ viharanti, seyyathāpi devā brahmakāyikā. ayaṃ paṭhamā sukhūpapatti. santāvuso, sattā sukhena abhisannā parisannā paripūrā paripphuṭā. te kadāci karahaci udānaṃ udānenti — ‘aho sukhaṃ, aho sukhan’ti, seyyathāpi devā ābhassarā. ayaṃ dutiyā sukhūpapatti. santāvuso, sattā sukhena abhisannā parisannā paripūrā paripphuṭā. te santaṃyeva tusitā {santusitā (syā. kaṃ.)} sukhaṃ {cittasukhaṃ (syā. ka.)} paṭisaṃvedenti, seyyathāpi devā subhakiṇhā. ayaṃ tatiyā sukhūpapatti .

xli) Ba loại lạc sanh: Này các Hiền giả, có những loài hữu tình (trong quá khứ) luôn luôn tạo ra (thiền định lạc) hay sống trong sự an lạc, như các vị Brahma - Kàyikà (Phạm Chúng thiên). Ðó là hạng lạc sanh thứ nhất.

Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng: "Ôi an lạc thay! Ôi an lạc thay!", như chư Thiên Abhassarà (Quang Âm thiên). Ðó là hạng lạc sanh thứ hai.

Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Thiên Subhakinnà (Biến Tịnh thiên). Ðó là loại lạc sanh thứ ba.

(41) ‘Three happy rebirths (sukhupapattiyo): (1046) There are beings who, having continually produced happiness now dwell in happiness, such as the devas of the Brahma group.

There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it immersed in it, so that they occasionally exclaim: “Oh what bliss!” such as the Radiant devas (Ābhassarā).

There are beings... immersed in happiness, who, supremely blissful, [219] experience only perfect happiness, such as the Lustrous devas (Subhakiṇṇā).

♦ “tisso paññā — sekkhā paññā, asekkhā paññā, nevasekkhānāsekkhā paññā.

♦ “aparāpi tisso paññā — cintāmayā paññā, sutamayā paññā, bhāvanāmayā paññā.

♦ “tīṇāvudhāni — sutāvudhaṃ, pavivekāvudhaṃ, paññāvudhaṃ.

♦ “tīṇindriyāni — anaññātaññassāmītindriyaṃ, aññindriyaṃ, aññātāvindriyaṃ.

♦ “tīṇi cakkhūni — maṃsacakkhu, dibbacakkhu, paññācakkhu.

♦ “tisso sikkhā — adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā.

♦ “tisso bhāvanā — kāyabhāvanā, cittabhāvanā, paññābhāvanā.

♦ “tīṇi anuttariyāni — dassanānuttariyaṃ, paṭipadānuttariyaṃ, vimuttānuttariyaṃ.

♦ “tayo samādhī — savitakkasavicāro samādhi, avitakkavicāramatto samādhi, avitakkāvicāro samādhi.

♦ “aparepi tayo samādhī — suññato samādhi, animitto samādhi, appaṇihito samādhi.

♦ “tīṇi soceyyāni — kāyasoceyyaṃ, vacīsoceyyaṃ, manosoceyyaṃ.

♦ “tīṇi moneyyāni — kāyamoneyyaṃ, vacīmoneyyaṃ, manomoneyyaṃ.

♦ “tīṇi kosallāni — āyakosallaṃ, apāyakosallaṃ, upāyakosallaṃ.

♦ “tayo madā — ārogyamado, yobbanamado, jīvitamado.

♦ “tīṇi ādhipateyyāni — attādhipateyyaṃ, lokādhipateyyaṃ, dhammādhipateyyaṃ.

xlii) Ba tuệ: Hữu học tuệ, vô học tuệ, phi hữu học phi vô học tuệ.

xliii) Lại ba tuệ khác: Tư sanh tuệ, văn sanh tuệ, tu sanh tuệ.

xliv) Ba loại binh khí: Nghe, xả ly và tuệ.

xlv) Ba căn: Vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn.

xlvi) Ba nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn.

xlvii) Ba học: Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.

xlviii) Ba sự tu tập: Thân tu, tâm tu, tuệ tu.

xlix) Ba vô thượng: Kiến vô thượng, hành vô thượng, giải thoát vô thượng.

l) Ba định: Hữu tầm hữu tứ định, vô tầm hữu tứ định, vô tầm vô tứ định.

li) Lại ba định khác: Không định, vô tướng định, vô nguyện định.

lii) Ba thanh tịnh: Thân thanh tịnh, ngữ thanh tịnh, ý thanh tịnh.

liii) Ba tịch mặc: Thân tịch mặc, ngữ tịch mặc, ý tịch mặc.

liv) Ba thiện xảo: Tăng ích thiện xảo, tổn ích thiện xảo, phương tiện thiện xảo.

lv) Ba kiêu: Vô bệnh kiêu, niên tráng kiêu, hoạt mạng kiêu.

lvi) Ba tăng thượng: Ngã tăng thượng, thế tăng thượng, pháp tăng thượng.

(42) ‘Three kinds of wisdom: of the learner, of the nonlearner, of the one who is neither (as (36)).

(43) ‘Three more kinds of wisdom: based on thought, on learning [hearing], on mental development [meditation (cintāmaya pañña, sutamayā paññd, bhāvanāmaya pañña).

(44) ‘Three armaments (1047) (āvudhāni): what one has learnt, detachment, wisdom (sutāvudhaṁ, pavivekāvudhaṁ, paññāvudhariv).

(45) ‘Three faculties: (1048) of knowing that one will know the unknown, of highest knowledge, of the one who knows (anaññātaṁ-ñassāmîtindriyaṁ, aññindriyaṁ, aññātā-vindriyaṁ).

(46) ‘Three eyes: the fleshly eye, the divine eye, (1049) the eye of wisdom (1050) (maṁsa cakkhu, dibba-cakkhu, paññācakkhu).

(47) ‘Three kinds of training: in higher morality, higher thought, higher wisdom (adhisīla-sikkhā, adhicitta-sikkhā, adhipannd-sikkhd).

(48) ‘Three kinds of development: of the emotions, (1051) of mind, of wisdom (kāya bhāvana, citta-bhāvanā, paññābhāvanā).

(49) ‘Three “unsurpassables”: of vision, of practice, of liberation (dassanānuttariyaṁ,paṭipadānuttariyaṁ, vimuttānuttariyaṁ).

(50) ‘Three kinds of concentration: with thinking and pondering, (1052) with pondering without thinking, with neither (savitakko savicāro samādhi, avitakko vicāra-matto samādhi, avitakko avicāro samādhi).

(51) ‘Three more kinds of concentration: on emptiness, the “signless”, desireless (suññato samādhi, animitto samādhi, appanihito samādhi).

(52) ‘Three purities: of body, speech, mind (kāyasocceyyaṁ, vacī-socceyyaṁ, mano socceyyaṁ). [220]

(53) ‘Three qualities of the sage: (1053) as to body, speech, mind (kāya-moneyyaṁ, vacī moneyyaṁ, mano-moneyyaṁ).

(54) ‘Three skills: in going forward, (1054) in going down, in means to progress (āya kosallaṁ, apāya-kosallaṁ, upāyakosallaṁ).

(55) ‘Three intoxications: with health, with youth, with life (ārogya-mado, yobbana mado, jīvita-mado).

(56) ‘Three predominant influences: oneself, the world, the Dhamma (attādhipateyyaṁ, lokādhipateyyaṁ, dhammādhipateyyaṁ).

♦ “tīṇi kathāvatthūni — atītaṃ vā addhānaṃ ārabbha kathaṃ katheyya — ‘evaṃ ahosi atītamaddhānan’ti; anāgataṃ vā addhānaṃ ārabbha kathaṃ katheyya — ‘evaṃ bhavissati anāgatamaddhānan’ti; etarahi vā paccuppannaṃ addhānaṃ ārabbha kathaṃ katheyya — ‘evaṃ hoti etarahi paccuppannaṃ addhānan’ti. lvii) Ba luận sự: Luận bàn về vấn đề quá khứ: "Sự việc này xảy ra trong quá khứ"; luận bàn về vấn đề tương lai: "Sự việc này xảy ra trong tương lai"; luận bàn về vấn đề hiện tại: "Sự việc này xảy ra trong hiện tại". (57) ‘Three topics of discussion: Talk may be of the past: “That’s how it used to be”; of the future: “That’s how it will be”; of the present: “That’s how it is now.”

♦ “tisso vijjā — pubbenivāsānussatiñāṇaṃ vijjā, sattānaṃ cutūpapāteñāṇaṃ vijjā, āsavānaṃ khayeñāṇaṃ vijjā.

♦ “tayo vihārā — dibbo vihāro, brahmā vihāro, ariyo vihāro.

♦ “tīṇi pāṭihāriyāni — iddhipāṭihāriyaṃ, ādesanāpāṭihāriyaṃ, anusāsanīpāṭihāriyaṃ.

♦ “ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tayo dhammā sammadakkhātā. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

lvii) Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh tử minh, Lậu tận trí minh.

lix) Ba trú: Thiên trú, Phạm trú, Thánh trú.

lx) Ba thần thông: Thần túc thần thông, tri tha tâm thần thông, giáo giới thần thông.

Này các Hiền giả, ba pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

(58) ‘Three knowledges: of one’s past lives, of the decease and rebirth of beings, of the destruction of the corruptions (pubbenivāsānussati-ñāṇaṁ vijjā, sattānaṁ cutupapāte ñāṇaṁ vijjā, āsavānaṁ khaye ñāṇaṁ vijjā).

(59) ‘Three abidings: deva-abiding, Brahmā-abiding, the Ariyan abiding (1055) (dibbo vihāro, Brahmā-vihāro, ariyo vihāro)

(60) ‘Three miracles: (1056) of psychic power, of telepathy, of instruction (iddhi-pāṭihāriyaṁ, ādesanā-pātihāriyaṁ, anusāsanipāṭihāriyaṁ).

‘These are the [sets of] three things...

So we should all recite together... for the benefit, welfare and happiness of devas and humans.’ [221]

catukkaṃ (DN 33) Bốn Pháp  
♦ 306. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammā sammadakkhātā. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ, na vivaditabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katame cattāro?

11. Này các Hiền giả, có bốn pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là bốn?

1.11. ‘There are [sets of] four things which were perfectly proclaimed by the Lord...
♦ “cattāro satipaṭṭhānā. idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. vedanāsu vedanānupassī ... pe ... citte cittānupassī ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

i) Bốn niệm xứ:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời;

quán các cảm thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời;

quán các tâm trên các tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời;

quán thân các pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời.

(1) ‘Four foundations of mindfulness:

Here a monk abides contemplating body as body, ardent, clearly aware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world;

he abides contemplating feelings as feelings...;

he abides contemplating mind-objects as mind-objects, ardent, clearly aware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world.

♦ “cattāro sammappadhānā. idhāvuso, bhikkhu anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati.

ii) Bốn chánh cần:

Ở đây, này các Hiền giả vị Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm.

Với mục đích khiến cho các ác bất thiện pháp đã sanh ra được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm.

Với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm.

Với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng cường, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm.

(2) ‘Four great efforts (sammappadhānā):

Here a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to prevent the arising of unarisen evil unwholesome mental states.

He rouses his will... and strives to overcome evil unwholesome mental states that have arisen.

He rouses his will... and strives to produce unarisen wholesome mental states.

He rouses his will...and strives to maintain wholesome mental states that have arisen, not to let them fade away, to bring them to greater growth, to the full perfection of development.

♦ “cattāro iddhipādā. idhāvuso, bhikkhu chandasamādhipadhāna-saṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. cittasamādhipadhāna-saṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. vīriyasamādhipadhāna-saṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. vīmaṃsāsamādhipadhāna-saṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti.

iii) Bốn thần túc:

Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập thần túc, câu hữu với tinh tấn thực hiện Dục thiền định.

Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tâm thiền định.

Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tinh tấn thiền định.

Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tư duy thiền định (Dục như ý thần túc, Tâm như ý thần túc, Tinh tấn như ý thần túc, Tư duy như ý thần túc).

(3) ‘Four roads to power (iddhipādā):

Here a monk develops concentration of intention accompanied by effort of will,

concentration of energy,... [222]

concentration of consciousness,

and concentration of investigation accompanied by effort of will.

♦ “cattāri jhānāni. idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ {paṭhamajjhānaṃ (syā. kaṃ.)} upasampajja viharati. vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ {dutiyajjhānaṃ (syā. kaṃ.)} upasampajja viharati. pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti — ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ {tatiyajjhānaṃ (syā. kaṃ.)} upasampajja viharati. sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ {catutthajjhānaṃ (syā. kaṃ.)} upasampajja viharati.

iv) Bốn thiền:

Ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ.

Diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú thiền thứ ba.

Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

(4) ‘Four jhānas:

Here a monk, detached from all sense desires, detached from unwholesome mental states, enters and remains in the first jhāna, which is with thinking and pondering, born of detachment, filled with delight and joy.

And with the subsiding of thinking and pondering, by gaining inner tranquillity and oneness of mind, he enters and remains in the second jhāna, which is without thinking and pondering, born of concentration, filled with delight and joy.

And with the fading away of delight, remaining imperturbable, mindful and clearly aware, he experiences in himself that joy of which the Noble Ones say: “Happy is he who dwells with equanimity and mindfulness”, he enters and remains in the third jhāna.

And, having given up pleasure and pain, and with the disappearance of former gladness and sadness, he enters and remains in the fourth jhāna which is beyond pleasure and pain, and purified by equanimity and mindfulness.

♦ 307. “catasso samādhibhāvanā. atthāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihārāya saṃvattati. atthāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā ñāṇadassanapaṭilābhāya saṃvattati. atthāvuso samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā satisampajaññāya saṃvattati. atthāvuso samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṃ khayāya saṃvattati.

v) Bốn tu tập thiền định:

Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại.

Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chứng đắc tri kiến.

Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chánh niệm tỉnh giác.

Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ sự tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.

(5) ‘Four concentrative meditations (samādhi-bhāvanā).

This meditation, when developed and expanded, leads to

(a) happiness here and now (ditthadhamma-sukha)

(b) gaining knowledge-and-vision (ñāṇa dassanapaṭilābha),

(c) mindfulness and clear awareness (sati-sampajañña),

and (d) the destruction of the corruptions (āsavānaṁ khaya).

♦ “katamā cāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihārāya saṃvattati? idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ ... pe ... catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. ayaṃ, āvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihārāya saṃvattati.

Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại?

Ở đây, này các Hiền giả, có vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, và trú thiền thứ nhất... thiền thứ hai... thiền thứ ba... chứng và trú thiền thứ tư.

Này các Hiền giả, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại.

(a) How does this practice lead to happiness here and now?

Here, a monk practises the four jhānas. [223]

♦ “katamā cāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā ñāṇadassanapaṭilābhāya saṃvattati? idhāvuso, bhikkhu ālokasaññaṃ manasi karoti, divāsaññaṃ adhiṭṭhāti yathā divā tathā rattiṃ, yathā rattiṃ tathā divā. iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveti. ayaṃ, āvuso samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā ñāṇadassanapaṭilābhāya saṃvattati.

Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến chứng đắc tri kiến?

Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo, tác ý quang minh tưởng, an trú tưởng ban ngày, ban ngày thế nào ban đêm như vậy, ban đêm thế nào ban ngày như vậy.

Và như vậy với tâm mở rộng không có đóng kín, tạo ra một tâm có hào quang. Này các Hiền giả, như vậy là tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chứng đắc tri kiến.

(b) How does it lead to the gaining of knowledge-andvision?

Here, a monk attends to the perception of light (ālokasaññaṁ manasikaroti), he fixes his mind to the perception of day, by night as by day, by day as by night.

In this way, with a mind clear and unclouded, he develops a state of mind that is full of brightness (sappabhāsam cittaṁ).

♦ “katamā cāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā satisampajaññāya saṃvattati? idhāvuso, bhikkhuno viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti. viditā saññā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti. viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti. ayaṃ, āvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā satisampajaññāya saṃvattati.

Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, hướng đến chánh niệm, tỉnh giác?

Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo biết được thọ khởi, biết được thọ trú, biết được thọ diệt, biết được tưởng khởi, biết được tưởng trú, biết được tưởng diệt, biết được tầm khởi, biết được tầm trú, biết được tầm diệt. Này các Hiền giả, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chánh niệm tỉnh giác.

(c) How does it lead to mindfulness and clear awareness?

Here, a monk knows feelings as they arise, remain and vanish; he knows perceptions as they arise, remain and vanish; he knows thoughts (vitakkā) (1057) as they arise, remain and vanish.

♦ “katamā cāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṃ khayāya saṃvattati? idhāvuso, bhikkhu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassī viharati. iti rūpaṃ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo. iti vedanā ... pe ... iti saññā... iti saṅkhārā... iti viññāṇaṃ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo. ayaṃ, āvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṃ khayāya saṃvattati.

Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc?

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo an trú, quán tánh sanh diệt trên Năm Thủ uẩn -

Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ... Ðây là tưởng... Ðây là hành... Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt.

Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.

(d) How does this practice lead to the destruction of the corruptions?

Here, a monk abides in the contemplation of the rise and fall of the five aggregates of grasping (pañc’upādānakkhandesu udayabbayānupassi):

“This is material form, this is its arising, this is its ceasing;

these are feelings...; this is perception...; these are the mental formations...; this is consciousness, this is its arising, this is its ceasing.”

♦ 308. “catasso appamaññā. idhāvuso, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharati. tathā dutiyaṃ. tathā tatiyaṃ. tathā catutthaṃ. iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena {abyāpajjhena (sī. syā. kaṃ. pī.)} pharitvā viharati. karuṇāsahagatena cetasā ... pe ... muditāsahagatena cetasā ... pe ... upekkhāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharati. tathā dutiyaṃ. tathā tatiyaṃ. tathā catutthaṃ. iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.

vi) Bốn vô lượng tâm:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư.

Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Lại nữa, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi ... với tâm câu hữu với hỷ ... với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư.

Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

(6) ‘Four boundless states.

Here, a monk, with a heart filled with loving-kindness, pervades first one quarter, then the second, the third and the fourth.

Thus he stays, [224] spreading the thought of lovingkindness above, below and across, everywhere, always with a heart filled with loving-kindness, abundant, magnified, unbounded, without hatred or ill-will.

And likewise with compassion, sympathetic joy, and equanimity.

♦ “cattāro āruppā. {arūpā (syā. kaṃ. pī.)} idhāvuso, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja viharati. sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma ‘anantaṃ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharati. sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharati. sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja viharati.

vii) Bốn vô sắc:

Này các Hiền giả, ở đây,

vị Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, vị Tỷ-kheo nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ.

Vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ.

Vượt lên mọi thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ.

Vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

(7) ‘Four formless jhānas.

Here, a monk,

by passing entirely beyond bodily sensations, by the disappearance of all sense of resistance and by nonattraction to the perception of diversity, seeing that space is infinite, reaches and remains in the Sphere of Infinite Space.

And by passing entirely beyond the Sphere of Infinite Space, seeing that consciousness is infinite, he reaches and remains in the Sphere of Infinite Consciousness.

And by passing entirely beyond the Sphere of Infinite Consciousness, seeing that there is no thing, he reaches and remains in the Sphere of No-Thingness.

And by passing entirely beyond the Sphere of NoThingness, he reaches and remains in the Sphere of Neither-Perception-Nor-Non-Perception.

♦ “cattāri apassenāni. idhāvuso, bhikkhu saṅkhāyekaṃ paṭisevati, saṅkhāyekaṃ adhivāseti, saṅkhāyekaṃ parivajjeti, saṅkhāyekaṃ vinodeti.

viii) Bốn y chỉ:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo sau khi suy nghĩ, thọ dụng; sau khi suy nghĩ, nhẫn thọ; sau khi suy nghĩ, viễn ly; sau khi suy nghĩ, khiển trừ.

(8) ‘Four supports (1058) (apassenāni):

Here a monk judges that one thing is to be pursued, one thing endured, one thing avoided, one thing suppressed. 

♦ 309. “cattāro ariyavaṃsā. idhāvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca cīvarahetu anesanaṃ appatirūpaṃ āpajjati; aladdhā ca cīvaraṃ na paritassati, laddhā ca cīvaraṃ agadhito {agathito (sī. pī.)} amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītaracīvarasantuṭṭhiyā nevattānukkaṃseti na paraṃ vambheti. yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato, ayaṃ vuccatāvuso — ‘bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhito’.

ix) Bốn Thánh chủng:

Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với bất cứ loại y nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ loại y nào, không cố gắng tìm cầu y một cách không xứng đáng,

không có áo não nếu không được y,

nhưng khi được y, vị này, không nhiễm trước, không say mê, không có phạm tội. Vị này dùng y, thấy các nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát.

Vì tự bằng lòng với bất cứ loại y nào, vị ấy không khen mình chê người.

Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.

(9) ‘Four Ariyan lineages (ariya-υaṁsā).

Here, a monk (a) is content with any old robe, praises such contentment, and does not try to obtain robes improperly or unsuitably.

He does not worry if he does not get a robe,

and if he does, he is not full of greedy, blind desire, but makes use of it, aware of [such] dangers and wisely aware of its true purpose.

Nor is he conceited about being thus content with any old robe, and he does not disparage others.

And one who is thus skilful, not lax, clearly aware and mindful, [225] is known as a monk who is true to the ancient, original (aggaññe) Ariyan lineage.

♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena piṇḍapātena, itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca piṇḍapātahetu anesanaṃ appatirūpaṃ āpajjati; aladdhā ca piṇḍapātaṃ na paritassati, laddhā ca piṇḍapātaṃ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā nevattānukkaṃseti na paraṃ vambheti. yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato, ayaṃ vuccatāvuso — ‘bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhito’.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với bất cứ món ăn khất thực nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ món ăn khất thực nào, không cố gắng tìm cầu món ăn khất thực một cách không xứng đáng,

không có áo não nếu không được món ăn khất thực.

Nhưng khi được món ăn khất thực, vị này không nhiễm trước, không say mê, không có phạm tội. Vị này dùng các món ăn khất thực, thấy các nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát.

Vì tự bằng lòng với bất cứ món ăn khất thực nào, vị này không khen mình chê người.

Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, chánh niệm.

Này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.

Again, (b) a monk is content with any alms food he may get...
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena senāsanena, itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca senāsanahetu anesanaṃ appatirūpaṃ āpajjati; aladdhā ca senāsanaṃ na paritassati, laddhā ca senāsanaṃ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā nevattānukkaṃseti na paraṃ vambheti. yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato, ayaṃ vuccatāvuso — ‘bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhito’.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với bất cứ phòng xá nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ phòng xá nào, không cố gắng tìm cầu phòng xá một cách không xứng đáng,

không có áo não nếu không được trú xứ.

Nhưng khi được phòng xá, vị này không nhiễm trước, không say mê, không có phạm tội. Vị này dùng các phòng xá, thấy các nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát.

Vì tự bằng lòng với bất cứ phòng xá nào, vị này không khen mình chê người.

Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm.

Này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.

Again, (c) a monk is content with any old lodging-place ...
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu pahānārāmo hoti pahānarato, bhāvanārāmo hoti bhāvanārato; tāya ca pana pahānārāmatāya pahānaratiyā bhāvanārāmatāya bhāvanāratiyā nevattānukkaṃseti na paraṃ vambheti. yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato ayaṃ vuccatāvuso — ‘bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhito’.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo ưa thích đoạn trừ, hoan hỷ đoạn trừ, ưa thích tu tập, hoan hỷ tu tập. Nhờ ưa thích đoạn trừ, hoan hỷ đoạn trừ, ưa thích tu tập, hoan hỷ tu tập nên không khen mình chê người.

Ở đây, vị Tỷ-kheo này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm.

Này các Hiền giả, vị ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.

And again, (d) a monk, being fond of abandoning (pahāna), rejoices in abandoning, and being fond of developing (bhāυanā), rejoices in developing, is not therefore conceited...

And one who is thus skilful, not lax, clearly aware and mindful, is known as a monk who is true to the ancient, original Ariyan lineage.

♦ 310. “cattāri padhānāni. saṃvarapadhānaṃ pahānapadhānaṃ bhāvanāpadhānaṃ {bhāvanāppadhānaṃ (syā.)} anurakkhaṇāpadhānaṃ {anurakkhanāppadhānaṃ (syā.)}. katamañcāvuso, saṃvarapadhānaṃ? idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati. sotena saddaṃ sutvā... ghānena gandhaṃ ghāyitvā... jivhāya rasaṃ sāyitvā... kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā... manasā dhammaṃ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṃ, manindriye saṃvaraṃ āpajjati. idaṃ vuccatāvuso, saṃvarapadhānaṃ.

x) Bốn tinh cần:

Chế ngự tinh cần, đoạn trừ tinh cần, tu tập tinh cần, hộ trì tinh cần.

Này các Hiền giả, thế nào là chế ngự tinh cần?

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo,

khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.

Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên,

vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự chế ngự nhãn căn.

Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc...

ý nhận thức các pháp, vị ấy nắm không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.

Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên,

vị Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự chế ngự ý căn.

Này các Hiền giả, như vậy gọi là chế ngự tinh cần.

(10) ‘Four efforts:

The effort of (a) restraint (saṁυara padhānaṁ), (b) abandoning (pahāna-p.), (c) development (bhāυanāp), (d) preservation (anurakkhana-p.).

What is (a) the effort of restraint?

Here, a monk, on seeing an object with the eye, does not grasp at the whole or its details, striving to restrain [226] what might cause evil, unwholesome states, such as hankering or sorrow, to flood in on him.

Thus he watches over the sense of sight and guards it (similarly with sounds, smells, tastes, tactile sensations, thoughts).

♦ “katamañcāvuso, pahānapadhānaṃ? idhāvuso, bhikkhu uppannaṃ kāmavitakkaṃ nādhivāseti pajahati vinodeti byantiṃ karoti {byantī karoti (syā. kaṃ.)} anabhāvaṃ gameti. uppannaṃ byāpādavitakkaṃ ... pe ... uppannaṃ vihiṃsāvitakkaṃ... uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti. idaṃ vuccatāvuso, pahānapadhānaṃ.

Này các Hiền giả, thế nào là đoạn trừ tinh cần?

Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo không chấp nhận dục tầm đã khởi lên, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, không cho hiện hữu; không chấp nhận sân tầm đã khởi lên... không chấp nhận hại tầm đã khởi lên, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, không cho hiện hữu.

Này các Hiền giả, như vậy gọi là đoạn trừ tinh cần.

What is (b) the effort of abandoning?

Here, a monk does not assent to a thought of lust, of hatred, of cruelty that has arisen, but abandons it, dispels it, destroys it, makes it disappear.

♦ “katamañcāvuso, bhāvanāpadhānaṃ? idhāvuso, bhikkhu satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. dhammavicayasambojjhaṅgaṃ bhāveti... vīriyasambojjhaṅgaṃ bhāveti... pītisambojjhaṅgaṃ bhāveti... passaddhisambojjhaṅgaṃ bhāveti... samādhisambojjhaṅgaṃ bhāveti... upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. idaṃ vuccatāvuso, bhāvanāpadhānaṃ.

Này các Hiền giả, thế nào là tu tập tinh cần?

Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập Niệm Giác chi, pháp này y xả ly, y ly dục, y đoạn diệt, thành thục trong đoạn trừ;

tu tập Trạch pháp Giác chi... tu tập Tinh tấn Giác chi... tu tập Hỷ Giác chi... tu tập Khinh an Giác chi... tu tập Ðịnh Giác chi... tu tập Xả Giác chi, pháp này y xả ly, y ly dục, y đoạn diệt, thành thục trong đoạn trừ.

Này các Hiền giả, như vậy gọi là tu tập tinh cần.

What is (c) the effort of development?

Here, a monk develops the enlightenment factor of mindfulness, based on solitude, detachment, extinction, leading to maturity of surrender (vossagga-parināmiṁ);

he develops the enlightenment-factor of investigation of states, ... of energy, ... of delight, ... of tranquillity, ... of concentration, ... of equanimity, based on solitude, detachment, extinction, leading to maturity of surrender.

♦ “katamañcāvuso, anurakkhaṇāpadhānaṃ? idhāvuso, bhikkhu uppannaṃ bhadrakaṃ {bhaddakaṃ (syā. kaṃ. pī.)} samādhinimittaṃ anurakkhati — aṭṭhikasaññaṃ, puḷuvakasaññaṃ {puḷavakasaññaṃ (sī. pī.)}, vinīlakasaññaṃ, vicchiddakasaññaṃ, uddhumātakasaññaṃ. idaṃ vuccatāvuso, anurakkhaṇāpadhānaṃ.

Này các Hiền giả, thế nào là hộ trì tinh cần?

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo hộ trì định tướng tốt đẹp đã khởi lên, cốt tưởng, trùng hám tưởng, thanh ứ tưởng, đoạn hoại tưởng, trương bành tưởng. Này các Hiền giả, như vậy gọi là hộ trì tinh cần.

What is (d) the effort of preservation?

Here, a monk keeps firmly in his mind a favourable object of concentration which has arisen, such as a skeleton, or a corpse that is full of worms, blue-black, full of holes, bloated.

♦ “cattāri ñāṇāni -- dhamme ñāṇaṃ, anvaye ñāṇaṃ, pariye {paricce (sī. ka.), paricchede (syā. pī. ka.) ṭīkā oloketabbā} ñāṇaṃ, sammutiyā ñāṇaṃ {sammatiñāṇaṃ (syā. kaṃ.)}.

xi) Bốn trí:

Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục trí.

(11) ‘Four knowledges:

knowledge of Dhamma, of what is consonant with it (anvaye ñānaṁ), knowledge of others’ minds (1059) (paricce ñānaṁ), conventional knowledge (1060) (sammuti-ñānaṁ).

♦ “aparānipi cattāri ñāṇāni — dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ.

xii) Lại bốn trí khác:

Khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí.

(12) [227] ‘Four more knowledges:

knowledge of suffering, its origin, its cessation, the path.

♦ 311. “cattāri sotāpattiyaṅgāni -- sappurisasaṃsevo, saddhammassavanaṃ, yonisomanasikāro, dhammānudhammappaṭipatti.

xiii) Bốn Dự lưu hướng chi:

Thiện nhân thân cận, diệu pháp thính thọ, như lý tác ý, pháp tùy pháp hành.

(13) ‘Four factors of Stream-Attainment (sotāpattiyangāni):

association with good people (sappurisasaṁseva), hearing the true Dhamma, thorough attention (yoniso manasikāra), practice of the Dhamma in its entirety (dhammānudhamma-patipatti).

♦ “cattāri sotāpannassa aṅgāni. idhāvuso, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — ‘itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho, bhagavā’ti. dhamme aveccappasādena samannāgato hoti — ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko {opanayiko (syā. kaṃ.)} paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti. saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti — ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā’ti. ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññuppasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṃvattanikehi.

xiv) Bốn Dự lưu quả chi:

Ở đây Thánh đệ tử thành tựu lòng tin tuyệt đối với Phật - "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn".

Vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp - "Pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, Pháp ấy là thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến mà thấy, có hiệu năng hướng thượng, chỉ người có trí mới tự mình giác hiểu".

Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối chúng Tăng: "Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ diệu hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ trực hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ như lý hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ chánh hạnh, tức là bốn đôi, tám vị.

Chúng tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời".

Vị ấy thành tựu giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị hư hoại, không bị tỳ vết, được thực hành liên tục, không bị khiếm khuyết khiến con người tự tại, được bậc Thánh tán thán, không bị nhiễm ô, hướng đến thiền định.

(14) ‘Four characteristics of a Stream Winner:

Here, the Ariyan disciple is possessed of unwavering confidence in the Buddha, thus: “This Blessed Lord is an Arahant, a fully-enlightened Buddha, endowed with wisdom and conduct, the Well-Farer, Knower of the worlds, incomparable Trainer of men to be tamed, Teachers of gods and humans, enlightened and blessed.”

(b) He is possessed of unwavering confidence in the Dhamma, thus: “Well-proclaimed by the Lord is the Dhamma, visible here and now, timeless, inviting inspection, leading onward, to be comprehended by the wise each one for himself.”

(c) He is possessed of unwavering confidence in the Sangha, thus: “Well-directed is the Sangha of the Lord’s disciples, of upright conduct, on the right path, on the perfect path; that is to say the four pairs of persons, the eight kinds of men.

The Sangha of the Lord’s disciples is worthy of offerings, worthy of hospitality, worthy of gifts, worthy of veneration, an unsurpassed field of merit in the world.” And

(d) he is possessed of morality dear to the Noble Ones, unbroken, without defect, unspotted, without inconsistency, liberating, praised by the wise, uncorrupted, and conducive to concentration.

♦ “cattāri sāmaññaphalāni -- sotāpattiphalaṃ, sakadāgāmiphalaṃ, anāgāmiphalaṃ, arahattaphalaṃ.

xv) Bốn Sa môn quả:

Dự lưu quả, Nhứt lai quả, Bất lai quả, A-la-hán quả.

(15) ‘Four fruits of the ascetic life:

the fruits of Stream-Entry, of the Once Returner, of the Non-Returner, of Arahantship. [228]

♦ “catasso dhātuyo -- pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu.

xvi) Bốn giới:

Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.

(16) ‘Four elements:

the elements of “earth”, “water”, “fire”, “air” (pathaυῑ-, āpo-, tejo-, vāyo-dhātu).

♦ “cattāro āhārā -- kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṃ catutthaṃ.

xvii) Bốn thực:

Ðoàn thực, thô hay tế; xúc thực là thứ hai; tư niệm thực là thứ ba; thức thực là thứ tư.

(17) ‘Four nutriments (āhārā):

“material” (1061) (kabalinkāra) food, gross or subtle; (1062) contact as second; mental volition (manosañcetanā) (1063) as third; consciousness as fourth.

♦ “catasso viññāṇaṭṭhitiyo. rūpūpāyaṃ vā, āvuso, viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭhati rūpārammaṇaṃ {rūpāramaṇaṃ (?)} rūpappatiṭṭhaṃ nandūpasecanaṃ vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjati; vedanūpāyaṃ vā āvuso ... pe ... saññūpāyaṃ vā, āvuso ... pe ... saṅkhārūpāyaṃ vā, āvuso, viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭhati saṅkhārārammaṇaṃ saṅkhārappatiṭṭhaṃ nandūpasecanaṃ vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjati.

xviii) Bốn thức trú:

Này các Hiền giả, khi duyên sắc, thức khởi lên và an trú, thức ấy lấy sắc làm cảnh, lấy sắc làm sở y, lấy sắc làm căn cứ thọ hưởng, được tăng trưởng, tăng thịnh, tăng quảng. Này các Hiền giả, hay duyên thọ, thức... hay duyên tưởng... Này các Hiền giả, hay duyên hành, thức khởi lên và an trú, thức ấy lấy hành làm cảnh, lấy hành làm sở y, lấy hành làm căn cứ thọ hưởng, được tăng trưởng, tăng thịnh, tăng quảng.

(18) ‘Four stations of consciousness (viññāna-tthitiyo):

Consciousness gains a footing either (a) in relation to materiality, with materiality as object and basis, as a place of enjoyment, or similarly in regard to (b) feelings, (c) perceptions or (d) mental formations, and there it grows, increases and flourishes.

♦ “cattāri agatigamanāni -- chandāgatiṃ gacchati, dosāgati gacchati, mohāgatiṃ gacchati, bhayāgatiṃ gacchati.

xix) Bốn bất hành xứ hạnh:

Tham dục bất hành xứ hạnh, sân bất hành xứ hạnh, si bất hành xứ hạnh, bố úy bất hành xứ hạnh.

(19) ‘Four ways of going wrong (agata-gamanāni):

One goes wrong through desire (chanda), (1064) hatred, delusion, fear.

♦ “cattāro taṇhuppādā -- cīvarahetu vā, āvuso, bhikkhuno taṇhā uppajjamānā uppajjati; piṇḍapātahetu vā, āvuso, bhikkhuno taṇhā uppajjamānā uppajjati; senāsanahetu vā, āvuso, bhikkhuno taṇhā uppajjamānā uppajjati; itibhavābhavahetu vā, āvuso, bhikkhuno taṇhā uppajjamānā uppajjati.

xx) Bốn ái sanh:

Này các Hiền giả, do nhơn y phục, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn đồ ăn khất thực, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn phòng xá, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn hữu và phi hữu, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái.

(20) ‘Four arousals of craving:

Craving arises in a monk because of robes, alms, lodging, being and non-being (1065) (iti-bhavābhava-hetu).

♦ “catasso paṭipadā -- dukkhā paṭipadā dandhābhiññā, dukkhā paṭipadā khippābhiññā, sukhā paṭipadā dandhābhiññā, sukhā paṭipadā khippābhiññā.

xxi) Bốn hành:

Khổ hành trì chứng, khổ hành tốc chứng, lạc hành trì chứng, lạc hành tốc chứng.

(21) ‘Four kinds of progress:

(a) painful progress with slow comprehension, (b) painful progress with quick comprehension, (c) pleasant progress with slow comprehension, (d) pleasant progress with quick comprehension. (1066) [229]

♦ “aparāpi catasso paṭipadā -- akkhamā paṭipadā, khamā paṭipadā, damā paṭipadā, samā paṭipadā.

xxvii) Bốn loại hành khác:

Bất kham nhẫn hành, kham nhẫn hành, điều phục hành, tịch tịnh hành.

(22) ‘Four more kinds of progress:

progress with impatience (akkhamā paṭipadā), (b) patient progress (khamā p.),(c) controlled progress (damā p.), (d) calm progress (samā paṭipadā). (1067)

♦ “cattāri dhammapadāni -- anabhijjhā dhammapadaṃ, abyāpādo dhammapadaṃ, sammāsati dhammapadaṃ, sammāsamādhi dhammapadaṃ.

xxiii) Bốn pháp túc:

Vô tham pháp túc, vô sân pháp túc, chánh niệm pháp túc, chánh định pháp túc.

(23) ‘Four ways of Dhamma: (1068)

(a) without hankering, (b) without enmity,(c) with right mindfulness, (d) with right concentration.

♦ “cattāri dhammasamādānāni -- atthāvuso, dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṃ. atthāvuso, dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ sukhavipākaṃ. atthāvuso, dhammasamādānaṃ paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākaṃ. atthāvuso, dhammasamādānaṃ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṃ.

xxiv) Bốn pháp thọ:

Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại khổ và tương lai quả báo khổ. Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại khổ và tương lai quả báo lạc. Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại lạc và tương lai quả báo khổ. Này các Hiền giả có pháp thọ, hiện tại lạc và tương lai quả báo lạc.

(24) ‘Four ways of undertaking Dhamma:

There is the way that is (a) painful in the present and brings painful future results (dukkha-vipākarṁ), (b) painful in the present and brings pleasant future results (sukhavipākaṁ), (c) pleasant in the present and brings painful future results, and (d) pleasant in the present and brings pleasant future results.

♦ “cattāro dhammakkhandhā -- sīlakkhandho, samādhikkhandho, paññākkhandho, vimuttikkhandho.

♦ “cattāri balāni -- vīriyabalaṃ, satibalaṃ, samādhibalaṃ, paññābalaṃ.

♦ “cattāri adhiṭṭhānāni -- paññādhiṭṭhānaṃ, saccādhiṭṭhānaṃ, cāgādhiṭṭhānaṃ, upasamādhiṭṭhānaṃ.

xxy) Bốn pháp uẩn: Giới uẩn, định uẩn, công đức uẩn, giải thoát uẩn.

xxvi) Bốn lực: Tinh tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.

xxvii) Bốn thắng xứ: Tuệ thắng xứ, đế thắng xứ, xả thắng xứ, chỉ tức thắng xứ (Bốn nguyện).

(25) ‘Four divisions of Dhamma:

morality, concentration, wisdom, liberation.

(26) ‘Four powers: (1069)

energy, mindfulness, concentration, wisdom.

(27) ‘Four kinds of resolve (adhiṭṭhānāni): [to gain]

(a) wisdom, (b) truth (sacca), (1070) (c) relinquishment (cāga), (d) tranquility (upasama). (1071)

♦ 312. “cattāri pañhabyākaraṇāni -- {cattāro pañhābyākaraṇā (sī. syā. kaṃ. pī.)} ekaṃsabyākaraṇīyo pañho, paṭipucchābyākaraṇīyo pañho, vibhajjabyākaraṇīyo pañho, ṭhapanīyo pañho.

xxviii) Bốn cách trả lời câu hỏi:

Trả lời câu hỏi một cách dứt khoát, trả lời câu hỏi bằng cách phân tích, trả lời câu hỏi bằng cách cật vấn, trả lời câu hỏi bằng cách giả lơ, bỏ qua.

(28) ‘Four ways of answering questions:

the question (a) to be answered directly (ekaṁsavyākaraṇiyo pañho), (b) requiring an explanation (vibhajja-v. p.), (c) requiring a counter-question (paṭipucchā-v. p.), (d) to be set aside (ṭhāpanīyo pañha). [230]

♦ “cattāri kammāni -- atthāvuso, kammaṃ kaṇhaṃ kaṇhavipākaṃ; atthāvuso, kammaṃ sukkaṃ sukkavipākaṃ; atthāvuso, kammaṃ kaṇhasukkaṃ kaṇhasukkavipākaṃ; atthāvuso, kammaṃ akaṇhāsukkaṃ akaṇhāsukkavipākaṃ kammakkhayāya saṃvattati.

xxix) Bốn nghiệp:

Này các Hiền giả, có hắc nghiệp hắc báo. Này các Hiền giả, có bạch nghiệp bạch báo. Này các Hiền giả, có hắc bạch nghiệp, hắc bạch báo. Này các Hiền giả, có phi hắc phi bạch nghiệp, phi hắc phi bạch báo, và đưa đến sự tận diệt các nghiệp.

(29) ‘Four kinds of kamma:

There is (a) black kamma with black result (kaṇhavipākaṁ), (b) bright kamma with bright result (sukka-v.), (c) black-and-bright kamma with black-and-bright result (kaṇhasukka v.), (d) kamma that is neither black nor bright (akaṇham-asukkaṁ), with neither black nor bright result, leading to the destruction of kamma. (1072)

♦ “cattāro sacchikaraṇīyā dhammā -- pubbenivāso satiyā sacchikaraṇīyo; sattānaṃ cutūpapāto cakkhunā sacchikaraṇīyo; aṭṭha vimokkhā kāyena sacchikaraṇīyā; āsavānaṃ khayo paññāya sacchikaraṇīyo.

xxx) Bốn pháp cần phải chứng ngộ:

Túc mạng cần phải chứng ngộ bởi niệm. Sanh tử cần phải chứng ngộ bởi nhãn. Tám giải thoát cần phải chứng ngộ bởi thân. Lậu tận cần phải chứng ngộ bởi Tuệ.

(30) ‘Four things to be realised by seeing (sacchikaraṇīyā dhammā): (1073)

(a) former lives, to be realised by recollection (satiyā), (1074) (b) passing-away and rearising to be realised by the [divine] eye, (1075) (c) the eight deliverances, to be realized with the mental body (kāyena), (1076) (d) the destruction of the corruptions, to be realised by wisdom.

♦ “cattāro oghā -- kāmogho, bhavogho, diṭṭhogho, avijjogho.

♦ “cattāro yogā -- kāmayogo, bhavayogo, diṭṭhiyogo, avijjāyogo.

♦ “cattāro visaññogā -- kāmayogavisaññogo, bhavayogavisaññogo, diṭṭhiyogavisaññogo, avijjāyogavisaññogo.

♦ “cattāro ganthā -- abhijjhā kāyagantho, byāpādo kāyagantho, sīlabbataparāmāso kāyagantho, idaṃsaccābhiniveso kāyagantho.

♦ “cattāri upādānāni -- kāmupādānaṃ {kāmūpādānaṃ (sī. pī.) evamitaresupi}, diṭṭhupādānaṃ, sīlabbatupādānaṃ, attavādupādānaṃ.

♦ “catasso yoniyo -- aṇḍajayoni, jalābujayoni, saṃsedajayoni, opapātikayoni.

xxxi) Bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu.

xxxii) Bốn ách: Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách.

xxxiii) Bốn ly ách: Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách.

xxxiv) Bốn hệ phược: Tham thân hệ, sân thân hệ, giới cấm thủ thân hệ, thử thực chấp thân hệ.

xxxv) Bốn thủ: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã thuyết thủ.

xxxvi) Bốn sanh: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.

(31) ‘Four floods (oghā):

sensuality, becoming, [wrong] views, ignorance.

(32) ‘Four yokes (yogā) (1077) (= (31)).

(33) ‘Four “unyokings” (visaṁyogā):

from sensuality, becoming, views, ignorance.

(34) ‘Four ties (ganthā): (1078)

the “body-tie” (1079) (kāya-gantha) of hankering (abhijjhā), illwill (vyāpāda), attachment to rite and ritual (sīlabbataparāmāsa), dogmatic fanaticism (idaṁ-saccābhinivesa).

(35) ‘Four clingings (upādānāni):

to sensuality, to views (ditthi), to rules and ritual (sīlabbata-pārāmāsa), to ego-belief (attavāda).

(36) ‘Four kinds of generation: (1080)

from an egg, from a womb, from moisture, (1081) spontaneous rebirth (opapātika-yoni). (1082) [231]

♦ “catasso gabbhāvakkantiyo. idhāvuso, ekacco asampajāno mātukucchiṃ okkamati, asampajāno mātukucchismiṃ ṭhāti, asampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṃ paṭhamā gabbhāvakkanti. puna caparaṃ, āvuso, idhekacco sampajāno mātukucchiṃ okkamati, asampajāno mātukucchismiṃ ṭhāti, asampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṃ dutiyā gabbhāvakkanti. puna caparaṃ, āvuso, idhekacco sampajāno mātukucchiṃ okkamati, sampajāno mātukucchismiṃ ṭhāti, asampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṃ tatiyā gabbhāvakkanti. puna caparaṃ, āvuso, idhekacco sampajāno mātukucchiṃ okkamati, sampajāno mātukucchismiṃ ṭhāti, sampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṃ catutthā gabbhāvakkanti.

xxxvii) Bốn nhập thai:

Này các Hiền giả, ở đây, có loài không tỉnh giác nhập mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ nhất.

Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ hai.

Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ ba.

Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh giác trú mẫu thai, tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ tư.

(37) ‘Four ways of descent into the womb:

(a) One descends into the mother’s womb unknowing, stays there unknowing, and leaves it unknowing;

(b) one enters the womb knowing, stays there unknowing, and leaves it unknowing;

(c) one enters the womb knowing, stays there knowing, and leaves it unknowing;

(d) one enters the womb knowing, stays there knowing, and leaves it knowing (as Sutta 28, verse 5)

♦ “cattāro attabhāvapaṭilābhā. atthāvuso, attabhāvapaṭilābho, yasmiṃ attabhāvapaṭilābhe attasañcetanāyeva kamati, no parasañcetanā. atthāvuso, attabhāvapaṭilābho, yasmiṃ attabhāvapaṭilābhe parasañcetanāyeva kamati, no attasañcetanā. atthāvuso, attabhāvapaṭilābho, yasmiṃ attabhāvapaṭilābhe attasañcetanā ceva kamati parasañcetanā ca. atthāvuso, attabhāvapaṭilābho, yasmiṃ attabhāvapaṭilābhe neva attasañcetanā kamati, no parasañcetanā.

xxxviii) Bốn phương cách được tự thể mới:

Này các Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của mình, không do ý chí của người khác. Này các Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của người khác, không do ý chí của mình. Này các Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của mình và ý chí của người khác. Này các Hiền giả, có tự thể mới được không do ý chí của mình, không do ý chí của người khác.

(38) ‘Four ways of getting a new personality (attabhāvapaṭilābhā): (1083)

There is an acquisition of personality that is brought about by (a) one’s own volition, not another’s, (b) another’s volition, not one’s own, (c) both, (d) neither. 

♦ 313. “catasso dakkhiṇāvisuddhiyo. atthāvuso, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. atthāvuso, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato. atthāvuso, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. atthāvuso, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca.

xxxix) Bốn sự cúng dường thanh tịnh:

Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người cúng dường thanh tịnh, người nhận cúng dường không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người nhận cúng dường thanh tịnh, người cúng dường không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, cả người cúng dường và người nhận cúng dường đều không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người cúng dường và người nhận sự cúng dường đều thanh tịnh.

(39) ‘Four purifications of offerings (dakkhiṇā-visuddhiyo):

there is the offering purified (a) by the giver but not by the recipient, (b) by the recipient but not by the giver, (c) by neither, [232] (d) by both.

♦ “cattāri saṅgahavatthūni -- dānaṃ, peyyavajjaṃ {piyavajjaṃ (syā. kaṃ. ka.)}, atthacariyā, samānattatā.

♦ “cattāro anariyavohārā -- musāvādo, pisuṇāvācā, pharusāvācā, samphappalāpo.

♦ “cattāro ariyavohārā -- musāvādā veramaṇī {veramaṇi (ka.)}, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī.

♦ “aparepi cattāro anariyavohārā -- adiṭṭhe diṭṭhavāditā, assute sutavāditā, amute mutavāditā, aviññāte viññātavāditā.

♦ “aparepi cattāro ariyavohārā -- adiṭṭhe adiṭṭhavāditā, assute assutavāditā, amute amutavāditā, aviññāte aviññātavāditā.

♦ “aparepi cattāro anariyavohārā -- diṭṭhe adiṭṭhavāditā, sute assutavāditā, mute amutavāditā, viññāte aviññātavāditā.

♦ “aparepi cattāro ariyavohārā -- diṭṭhe diṭṭhavāditā, sute sutavāditā, mute mutavāditā, viññāte viññātavāditā.

xl) Bốn nhiếp pháp:

Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.

xli) Bốn phi Thánh ngôn: Vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ.

xlii) Bốn Thánh ngôn: Ly vọng ngữ, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ.

xliii) Bốn phi Thánh ngôn khác: Không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không nghĩ nói nghĩ, không biết nói biết.

xliv) Bốn Thánh ngôn khác: Không thấy nói không thấy, không nghe nói không nghe, không nghĩ nói không nghĩ, không biết nói không biết.

xlv) Bốn phi Thánh ngôn khác: Thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, nghĩ nói không nghĩ, biết nói không biết.

xlvi) Bốn Thánh ngôn khác: Thấy nói thấy, nghe nói nghe, nghĩ nói nghĩ, biết nói biết.

(40) ‘Four bases of sympathy (saṁgaha-vatthūni);

generosity, pleasing speech, beneficial conduct and impartiality.

(41) ‘Four un-Ariyan modes of speech:

lying, slander, abuse, idle gossip.

(42) ‘Four Ariyan modes of speech:

refraining from lying, slander, abuse, idle gossip.

(43) ‘Four more un-Ariyan modes of speech:

claiming to have seen, heard, sensed (muta), (1084) known what one has not seen, heard, sensed, known.

(44) ‘Four more Ariyan modes of speech:

stating that one has not seen, heard, sensed, known what one has not seen, heard sensed, known.

(45) ‘Four more un-Ariyan modes of speech:

claiming not to have seen, heard, sensed, known whatone has seen, heard, sensed, known.

(46) ‘Four more Ariyan modes of speech:

stating that one has seen, heard, sensed, known what one has seen, heard, sensed, known.

♦ 314. “cattāro puggalā. idhāvuso, ekacco puggalo attantapo hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto. idhāvuso, ekacco puggalo parantapo hoti paraparitāpanānuyogamanuyutto. idhāvuso, ekacco puggalo attantapo ca hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto, parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto. idhāvuso, ekacco puggalo neva attantapo hoti na attaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto. so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto {sītibhūto (ka.)} sukhappaṭisaṃvedī brahmabhūtena attanā viharati.

xlvii) Bốn loại người:

Này các Hiền giả, ở đây, có người tự làm khổ mình và siêng năng làm khổ mình.

Này các Hiền giả, ở đây, có loại người làm khổ người khác, siêng năng làm khổ người khác.

Này các Hiền giả, ở đây, có loại người làm khổ mình, siêng năng làm khổ mình; làm khổ người, siêng năng làm khổ người.

Này các Hiền giả, ở đây, có loại người không làm khổ mình, không siêng năng làm khổ mình; không làm khổ người, không siêng năng làm khổ người. Vị này không làm khổ mình, không làm khổ người ngay trong hiện tại sống ly dục, tịch tịnh, thanh lương, an lạc, thánh thiện.

(47) ‘Four persons:

Here a certain man

(a) torments himself (attan-tapo hoti), is given to self-tormenting,

(b) torments others (paran-tapo hoti),...

(c) torments himself and others,...

(d) torments neither himself nor others ... Thereby [233] he dwells in this life without craving, released (nibbuto), cool, enjoying bliss, become as Brahma (brahmabhūtena). (1085)

♦ “aparepi cattāro puggalā. idhāvuso, ekacco puggalo attahitāya paṭipanno hoti no parahitāya. idhāvuso, ekacco puggalo parahitāya paṭipanno hoti no attahitāya. idhāvuso, ekacco puggalo neva attahitāya paṭipanno hoti no parahitāya. idhāvuso, ekacco puggalo attahitāya ceva paṭipanno hoti parahitāya ca.

xlviii) Lại bốn loại người khác:

Này các Hiền giả, ở đây, có loại người hành tự lợi, không hành lợi tha.

Này các Hiền giả, ở đây, có loại người hành lợi tha, không hành tự lợi.

Này các Hiền giả, ở đây, có loại người, không hành tự lợi và không hành lợi tha.

Này các Hiền giả, ở đây, có loại người hành tự lợi và hành lợi tha.

(48) ‘Four more persons:

Here a man’s life benefits

(a) himself but not others,

(b) others but not himself, (1086)

(c) neither,

(d) both.

♦ “aparepi cattāro puggalā -- tamo tamaparāyano, tamo jotiparāyano, joti tamaparāyano, joti jotiparāyano.

♦ “aparepi cattāro puggalā -- samaṇamacalo, samaṇapadumo, samaṇapuṇḍarīko, samaṇesu samaṇasukhumālo.

♦ “ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.

xlix) Lại bốn loại người khác:

Sống trong bóng tối và hướng đến bóng tối,

sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng,

sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối,

sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng.

l) Lại bốn loại người khác:

Bất động Sa môn, Xích liên hoa Sa môn, Bạch liên hoa Sa môn, Diệu thiện Sa môn.

Này các Hiền giả, bốn Pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la Hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

(49) ‘Four more persons:

(a) living in darkness and bound for darkness (tamo tamaparāyana),

(b) living in darkness and bound for the light (tamo jotiparāyana),

(c) living in the light and bound for darkness,

(d) living in the light and bound for the light.

(50) ‘Four more persons:

(a) the unshakeable ascetic  (samaṇamacalo),

(b) the “blue-lotus” ascetic,

(c) the “white lotus” ascetic,

(d) the subtly-perfect ascetic (samana sukhumālo). (1087)

‘These are the [sets of] four things which were perfectly proclaimed by the Lord ...

So we should all recite them together... for the benefit, welfare and happiness of devas and humans.

[End of first recitation-section]

pañcakaṃ (DN 33)

Tụng phẩm II

Năm pháp

 

♦ 315. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena pañca dhammā sammadakkhātā. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katame pañca?

“pañcakkhandhā. rūpakkhandho vedanākkhandho saññākkhandho saṅkhārakkhandho viññāṇakkhandho.

“pañcupādānakkhandhā. rūpupādānakkhandho {rūpūpādānakkhandho (sī. syā. kaṃ. pī.) evamitaresupi} vedanupādānakkhandho saññupādānakkhandho saṅkhārupādānakkhandho viññāṇupādānakkhandho.

♦ “pañca kāmaguṇā. cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasañhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā... ghānaviññeyyā gandhā... jivhāviññeyyā rasā... kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasañhitā rajanīyā.

♦ “pañca gatiyo -- nirayo, tiracchānayoni, pettivisayo, manussā, devā.

♦ “pañca macchariyāni -- āvāsamacchariyaṃ, kulamacchariyaṃ, lābhamacchariyaṃ, vaṇṇamacchariyaṃ, dhammamacchariyaṃ.

♦ “pañca nīvaraṇāni -- kāmacchandanīvaraṇaṃ, byāpādanīvaraṇaṃ, thinamiddhanīvaraṇaṃ, uddhaccakukkuccanīvaraṇaṃ, vicikicchānīvaraṇaṃ.

♦ “pañca orambhāgiyāni saññojanāni -- sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbataparāmāso, kāmacchando, byāpādo.

♦ “pañca uddhambhāgiyāni saññojanāni -- rūparāgo, arūparāgo, māno, uddhaccaṃ, avijjā.

♦ “pañca sikkhāpadāni -- pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī, musāvādā veramaṇī, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇī.

1. Này các Hiền giả, có năm Pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

i) Năm uẩn: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.

ii) Năm thủ uẩn: Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

iii) Năm dục công đức: Sắc do nhãn nhận thức. Sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Tiếng do tai nhận thức... Hương do mũi nhận thức... Vị do lưỡi nhận thức... Xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn.

iv) Năm thú: Ðịa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, Người, chư Thiên.

v) Năm xan tham: Xan tham đối với trú xứ, xan tham đối với gia đình, xan tham đối với các vật thâu hoạch, xan tham đối với sắc, xan tham đối với pháp.

vi) Năm triền cái: Tham dục triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi triền cái.

vii) Năm hạ phần kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham, sân.

viii) Năm thượng phần kiết sử: Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh.

ix) Năm học xứ: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngôn, không uống các loại rượu.

2.1. ‘There are [sets of] five things perfectly proclaimed...

(1) ‘Five aggregates: body, feelings, perceptions, mental formations, consciousness.

(2) ‘Five aggregates of grasping (pancūpādāna-kkhandhā) (as (1)). [234]

(3) ‘Five strands of sense-desire (pañca kāma-guṇā): a sight seen by the eye, a sound heard by the ear, a smell smelt by the nose, a flavour tasted by the tongue, a tangible object felt by the body as being desirable, attractive, nice, charming, associated with lust and arousing passion.

(4) ‘Five [post-mortem] destinies (gatiyo): hell (nirayo), (1088) animal-rebirth (tiracchāna-yoni), (1089) the realm of hungry ghosts (petā), humankind, the deva world.

(5) ‘Five kinds of begrudging (macchariyāni): (1090) as to dwelling place, families, (1091) gains, beauty (vaṇṇa), Dhamma.

(6) ‘Five hindrances: sensuality (kāmacchanda), ill-will (vyāpāda), sloth-and-torpor (thīna-middha), worry-and flurry (uddhacca-kukkucca), sceptical doubt (vicikicchā).

(7) ‘Five lower fetters: personality-belief (sakkāya-diṭṭhi), doubt, attachment to rite and ritual (sīlabbata-parāmāsa), sensuality, ill-will.

(8) ‘Five higher fetters: craving for the world of form (rūparāga), craving for the formless world (arūparāga), conceit (māna), restlessness (uddhacca), ignorance. [235]

(9) ‘Five rules of training (sikkhāpadāni): refraining from taking life, taking what is not given, sexual misconduct, lying speech, strong drink and sloth-producing drugs (surāmerayamajja-pamddaṭṭhānā).

♦ 316. “pañca abhabbaṭṭhānāni. abhabbo, āvuso, khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṃ jīvitā voropetuṃ. abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṃ theyyasaṅkhātaṃ ādiyituṃ {ādātuṃ (syā. kaṃ. pī.)}. abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṃ dhammaṃ paṭisevituṃ. abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṃ. abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṃ kāme paribhuñjituṃ, seyyathāpi pubbe āgārikabhūto.

x) Năm bất năng xứ:

Này các Hiền giả,

một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố sát hại đời sống loài hữu tình.

Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý lấy của không cho gọi là trộm cắp.

Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý hành dâm.

Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý tự mình biết mà nói láo.

Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể tiêu dùng các vật chứa cất vào các thú vui dục lạc như khi còn là cư sĩ.

(10) ‘Five impossible things:

An Arahant is incapable of

(a) deliberately taking the life of a living being;

(b) taking what is not given so as to constitute theft;

(c) sexual intercourse;

(d) telling a deliberate lie;

(e) storing up goods for sensual indulgence as he did formerly in the household life (as Sutta 29, verse 26).

♦ “pañca byasanāni -- ñātibyasanaṃ, bhogabyasanaṃ, rogabyasanaṃ, sīlabyasanaṃ, diṭṭhibyasanaṃ. nāvuso, sattā ñātibyasanahetu vā bhogabyasanahetu vā rogabyasanahetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjanti. sīlabyasanahetu vā, āvuso, sattā diṭṭhibyasanahetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjanti.

xi) Năm sự tổn thất:

Thân thuộc tổn thất, tài sản tổn thất, tật bệnh tổn thất, giới tổn thất, kiến tổn thất. Này các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc tổn thất, vì tài sản tổn thất, hay vì tật bệnh tổn thất, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, vì giới tổn thất hay vì kiến tổn thất, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

(11) ‘Five kinds of loss (vyasanāni):

Loss of relatives, wealth, health, morality,[right] view. No beings fall into an evil state, a hell-state ... after death because of loss or relatives, wealth or health; but beings do fall into such states by loss of morality and right view.

♦ “pañca sampadā -- ñātisampadā, bhogasampadā, ārogyasampadā, sīlasampadā, diṭṭhisampadā. nāvuso, sattā ñātisampadāhetu vā bhogasampadāhetu vā ārogyasampadāhetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjanti. sīlasampadāhetu vā, āvuso, sattā diṭṭhisampadāhetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjanti.

xii) Năm sự thành tựu:

Thân thuộc thành tựu, tài sản thành tựu, vô bệnh thành tựu, giới thành tựu, kiến thành tựu. Này các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc thành tựu, vì tài sản thành tựu hay vì vô bệnh thành tựu, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời này. Này các Hiền giả, có các loài hữu tình, vì giới thành tựu hay vì kiến thành tựu, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời này.

(12) ‘Five kinds of gain (sampadā):

Gain of relatives, wealth, health, morality, [right] view. No beings arise in a happy, heavenly state after death because of the gain of relatives, wealth or health; but beings are reborn in such states because of gains in morality and right view.

♦ “pañca ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā. idhāvuso, dussīlo sīlavipanno pamādādhikaraṇaṃ mahatiṃ bhogajāniṃ nigacchati, ayaṃ paṭhamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. puna caparaṃ, āvuso, dussīlassa sīlavipannassa pāpako kittisaddo abbhuggacchati, ayaṃ dutiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. puna caparaṃ, āvuso, dussīlo sīlavipanno yaññadeva parisaṃ upasaṅkamati yadi khattiyaparisaṃ yadi brāhmaṇaparisaṃ yadi gahapatiparisaṃ yadi samaṇaparisaṃ, avisārado upasaṅkamati maṅkubhūto, ayaṃ tatiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. puna caparaṃ, āvuso, dussīlo sīlavipanno sammūḷho kālaṃ karoti, ayaṃ catuttho ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. puna caparaṃ, āvuso, dussīlo sīlavipanno kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati, ayaṃ pañcamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.

xiii) Năm điều nguy hiểm của người ác giới, phạm giới:

Này các Hiền giả, người ác giới, vì phạm giới luật, do phóng dật thiệt hại nhiều tài sản. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất của người ác giới, phạm ác giới.

Lại nữa, này các Hiền giả, với người ác giới, phạm ác giới, tiếng xấu đồn khắp. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai của người ác giới, phạm ác giới.

Lại nữa, này các Hiền giả, với người ác giới, phạm ác giới, khi vào hội chúng nào, hội chúng Sát đế ly, hội chúng Bà la môn, hội chúng Cư sĩ hay hội chúng Sa môn, người ấy vào một cách sợ sệt và dao động. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba của người ác giới, phạm ác giới.

Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới, phạm ác giới, khi mệnh chung, chết một cách mê loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư của người ác giới, phạm ác giới.

Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới, phạm ác giới, khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm của người ác giới, phạm ác giới.

(13) ‘Five dangers to the immoral through lapsing from morality:

(as Sutta 16, verse 1.23). [236]

♦ “pañca ānisaṃsā sīlavato sīlasampadāya. idhāvuso, sīlavā sīlasampanno appamādādhikaraṇaṃ mahantaṃ bhogakkhandhaṃ adhigacchati, ayaṃ paṭhamo ānisaṃso sīlavato sīlasampadāya. puna caparaṃ, āvuso, sīlavato sīlasampannassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati, ayaṃ dutiyo ānisaṃso sīlavato sīlasampadāya. puna caparaṃ, āvuso, sīlavā sīlasampanno yaññadeva parisaṃ upasaṅkamati yadi khattiyaparisaṃ yadi brāhmaṇaparisaṃ yadi gahapatiparisaṃ yadi samaṇaparisaṃ, visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto, ayaṃ tatiyo ānisaṃso sīlavato sīlasampadāya. puna caparaṃ, āvuso, sīlavā sīlasampanno asammūḷho kālaṃ karoti, ayaṃ catuttho ānisaṃso sīlavato sīlasampadāya. puna caparaṃ, āvuso, sīlavā sīlasampanno kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati, ayaṃ pañcamo ānisaṃso sīlavato sīlasampadāya.

xiv) Năm điều lợi ích của người đủ giới, giữ giới:

Này các Hiền giả, ở đây người đủ giới, giữ giới, nhờ không phóng dật nên được tài sản sung túc. Ðó là điều lợi ích thứ nhất cho người đủ giới, giữ giới.

Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới được tiếng tốt đồn khắp. Ðó là điều lợi ích thứ hai cho người đủ giới, giữ giới.

Này các Hiền giả, với người đủ giới, giữ giới, khi vào hội chúng nào, hội chúng Sát đế ly, hội chúng Ba la môn, hội chúng Cư sĩ, hội chúng Sa môn, vị ấy vào một cách đàng hoàng, không dao động. Ðó là điều lợi ích thứ ba cho người đủ giới, giữ giới.

Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới khi mệnh chung chết một cách không mê loạn. Ðó là điều lợi ích thứ tư cho người đủ giới, giữ giới.

Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy là điều lợi ích thứ năm cho người đủ giới, giữ giới.

(14) ‘Five benefits to the moral through preserving morality: (as Sutta 16, verse 1.24).
♦ “codakena, āvuso, bhikkhunā paraṃ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṃ upaṭṭhapetvā paro codetabbo. kālena vakkhāmi no akālena, bhūtena vakkhāmi no abhūtena, saṇhena vakkhāmi no pharusena, atthasaṃhitena vakkhāmi no anatthasaṃhitena, mettacittena {mettācittena (katthaci)} vakkhāmi no dosantarenāti. codakena, āvuso, bhikkhunā paraṃ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṃ upaṭṭhapetvā paro codetabbo.

xv) Năm pháp nội tâm:

Này các Hiền giả, năm pháp nội tâm một vị Tỷ kheo cần phải có nếu muốn chỉ trích một vị khác:

"Tôi nói đúng thời, không phải phi thời.

Tôi nói đúng sự thật, không sai sự thật.

Tôi nói một cách từ tốn, không nói lời ác khẩu.

Tôi nói lời có lợi ích, không nói lời không có lợi ích.

Tôi nói lời có lòng từ, không phải lời sân hận".

Này các Hiền giả, như vậy là năm pháp nội tâm một vị Tỷ kheo cần phải có, nếu muốn chỉ trích một vị khác.

(15) ‘Five points to be borne in mind by a monk wishing to rebuke another:

(a) I will speak at the proper time, not the wrong time,

(b) I will state the truth, not what is false,

(c) I will speak gently, not roughly,

(d) I will speak for his good, [237] not for his harm,

(e) I will speak with love in my heart, not with enmity.

♦ 317. “pañca padhāniyaṅgāni. idhāvuso, bhikkhu saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṃ — ‘itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato, lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā’ti. appābādho hoti appātaṅko, samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya. asaṭho hoti amāyāvī, yathābhūtaṃ attānaṃ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu. āraddhavīriyo viharati akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya kusalānaṃ dhammānaṃ upasampadāya thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā.

xvi) Năm cần chi:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai - "Ðây là Thế tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".

Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn.

Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh.

Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp.

Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau.

(16) ‘Five factors of endeavour:

Here, a monk (a) has faith, trusting in the enlightenment of the Tathāgata: “Thus this Blessed Lord is an Arahant, a fully-enlightened Buddha...” (as Sutta 3, verse 1.2),

(b) is in good health, suffers little distress or sickness, having a good digestion that is neither too cool nor too hot but of a middling temperature suitable for exertion,

(c) is not fraudulent or deceitful, showing himself as he really is to his teacher or to the wise among his companions in the holy life,

(d) keeps his energy constantly stirred up for abandoning unwholesome states and arousing wholesome states, and is steadfast, firm in advancing and persisting in wholesome states,

(e) is a man of wisdom, endowed with wisdom concerning rising and cessation, with the Ariyan penetration that leads to the complete destruction of suffering.

♦ 318. “pañca suddhāvāsā -- avihā, atappā, sudassā, sudassī, akaniṭṭhā.

♦ “pañca anāgāmino -- antarāparinibbāyī, upahaccaparinibbāyī, asaṅkhāraparinibbāyī, sasaṅkhāraparinibbāyī, uddhaṃsotoakaniṭṭhagāmī.

xvii) Năm tịnh cư: Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Hiện thiên, Thiện Kiến thiên, Sắc Cứu Cánh thiên.

xviii) Năm bất hoàn: Trung gian Bát Niết bàn, Sanh Bát Niết bàn, Vô hành Bát Niết bàn, Hữu hành Bát Niết bàn, Thượng lưu thú A-ca-ni-sá.

(17) ‘Five Pure Abodes (suddhāvāsā): (1092) Aviha, (1093) Unworried (Atappā), Clearly Visible (Sudassā), ClearSighted (Sudassī), Peerless (Akaniṭṭhā).

(18) ‘Five kinds of Non-Returner (anāgāmī): (1094) the “lessthan-half-timer”, the “more-than-half-timer”, the “gainer without exertion”, the “gainer with exertion”, “he who goes upstream to the highest”.

♦ 319. “pañca cetokhilā. idhāvuso, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. yo so, āvuso, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, ayaṃ paṭhamo cetokhilo. puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu dhamme kaṅkhati vicikicchati ... pe ... saṅghe kaṅkhati vicikicchati... sikkhāya kaṅkhati vicikicchati... sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto. yo so, āvuso, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, ayaṃ pañcamo cetokhilo.

xix) Năm tâm hoang vu: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo nghi ngờ ... đối với Pháp... đối với Tăng... đối với học Pháp...

Lại nữa vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Hiền giả, khi một vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy gọi là tâm hoang vu thứ năm.

(19) ‘Five mental blockages (ceto-khīlā): Here, a monk has [238] doubts and hesitations

(a) about the Teacher, is dissatisfied and cannot settle in his mind. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort;

(b) about the Dhamma ...; (c) about the Sangha ...; (d) about the training ...;

(e) he is angry and displeased with his fellows in the holy life, he feels depressed and negative towards them. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort.

♦ 320. “pañca cetasovinibandhā. idhāvuso, bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. yo so, āvuso, bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho, tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. ayaṃ paṭhamo cetaso vinibandho. puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu kāye avītarāgo hoti ... pe ... rūpe avītarāgo hoti ... pe ... puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu yāvadatthaṃ udarāvadehakaṃ bhuñjitvā seyyasukhaṃ passasukhaṃ middhasukhaṃ anuyutto viharati ... pe ... puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu aññataraṃ devanikāyaṃ paṇidhāya brahmacariyaṃ carati — ‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. yo so, āvuso, bhikkhu aññataraṃ devanikāyaṃ paṇidhāya brahmacariyaṃ carati — ‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. ayaṃ pañcamo cetaso vinibandho.

xx) Năm tâm triền phược: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với các dục vọng.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với ác dục vọng, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy là tâm triền phược thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, tâm không ly tham đối với các thân... Như vậy là tâm triền phược thứ hai...

Ðối với các sắc, tâm không ly tham... Ðây là tâm triền phược thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo không ăn quá sức bao tử có thể chịu nổi, hưởng thọ sự sung sướng về nằm ngủ, sự sung sướng về xúc chạm, sự sung sướng về thụy miên... Ðây là tâm triền phược thứ tư.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống đời sống phạm hạnh với hy vọng mong được thành một loại chư Thiên: "Với nghi thức này, với giới luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại chư Thiên này hay loại chư Thiên khác".

Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo sống đời sống phạm hạnh với hy vọng được thành một loại chư Thiên: "Với nghi thức này, với giới luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại chư Thiên này hay chư Thiên khác".

Tâm của vị này không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy là tâm triền phược thứ năm.

(20) ‘Five mental bondages (cetaso vinibandhā): (1095) Here, a monk has not got rid of the passion, desire, love, thirst (pipāsa), (1096) fever, craving (taṇhā)

(a) for sense-desires (kāme): thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort;

(b) for the body (kāye),...

(c) for physical objects (rūpe), ... or

(d) having eaten as much as his belly will hold, he abandons himself to the pleasure of lying down, of contact, of sloth; or

(e) [239] he practises the holy life for the sake of becoming a member of some body of devas (deva-nikāya), thinking: “By means of these rites or this discipline, this austerity or this holy life I shall become one of the devas, great or small.”

Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort.

“pañcindriyāni -- cakkhundriyaṃ, sotindriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ.

♦ “aparānipi pañcindriyāni -- sukhindriyaṃ, dukkhindriyaṃ, somanassindriyaṃ, domanassindriyaṃ, upekkhindriyaṃ.

♦ “aparānipi pañcindriyāni -- saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ.

xxi) Năm căn: Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

xxii) Lại năm căn khác: Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

xxiii) Lại năm căn khác: Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

(21) ‘Five faculties (indriyāni): the faculty of eye, ear, nose, tongue, body.

(22) ‘Five more faculties: pleasant [bodily] feeling (sukha), pain (dukkha), gladness (somanassa), sadness (domanassa), indifferent feeling (upekhā).

(23) ‘Five more faculties: faith (saddhā), energy, mindfulness, concentration, wisdom.

♦ 321. “pañca nissaraṇiyā {nissāraṇīyā (sī. syā. kaṃ. pī.) ṭīkā oloketabbā} dhātuyo. idhāvuso, bhikkhuno kāme manasikaroto kāmesu cittaṃ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. nekkhammaṃ kho panassa manasikaroto nekkhamme cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. tassa taṃ cittaṃ sugataṃ subhāvitaṃ suvuṭṭhitaṃ suvimuttaṃ visaṃyuttaṃ kāmehi. ye ca kāmapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā {vighātapariḷāhā (syā. kaṃ.)}, mutto so tehi, na so taṃ vedanaṃ vedeti. idamakkhātaṃ kāmānaṃ nissaraṇaṃ.

xxiv) Năm xuất ly giới:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng.

Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục,

tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc.

Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còm cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng.

(24) ‘Five elements making for deliverance (nissaraṇīyā dhātuyo):

(a) Here, when a monk considers sense desires, his mind does not leap forward and take satisfaction in them, fix on them or make free with them, (1097)

but when he considers renunciation it does leap forward, take satisfaction in it, fix on it, and make free with it.

And he gets this thought [240] well-set, well-developed, well raised up, well freed and disconnected from sensedesires.

And thus he is freed from the corruptions (āsavā), the vexations and fevers that arise from sense-desires, and he does not feel that [sensual] feeling. This is called the deliverance from sense-desires. 

♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno byāpādaṃ manasikaroto byāpāde cittaṃ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. abyāpādaṃ kho panassa manasikaroto abyāpāde cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. tassa taṃ cittaṃ sugataṃ subhāvitaṃ suvuṭṭhitaṃ suvimuttaṃ visaṃyuttaṃ byāpādena. ye ca byāpādapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi, na so taṃ vedanaṃ vedeti. idamakkhātaṃ byāpādassa nissaraṇaṃ.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận.

Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân,

tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân.

Và các lậu hoặc, các tổn hoại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.

And the same applies to (b) ill-will,
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno vihesaṃ manasikaroto vihesāya cittaṃ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. avihesaṃ kho panassa manasikaroto avihesāya cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. tassa taṃ cittaṃ sugataṃ subhāvitaṃ suvuṭṭhitaṃ suvimuttaṃ visaṃyuttaṃ vihesāya. ye ca vihesāpaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi, na so taṃ vedanaṃ vedeti. idamakkhātaṃ vihesāya nissaraṇaṃ.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, có tác ý đối với hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm.

Khi vị này có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm, tín lại, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm.

Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại tâm.

Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với hại tâm.

(c) cruelty,
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno rūpe manasikaroto rūpesu cittaṃ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. arūpaṃ kho panassa manasikaroto arūpe cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. tassa taṃ cittaṃ sugataṃ subhāvitaṃ suvuṭṭhitaṃ suvimuttaṃ visaṃyuttaṃ rūpehi. ye ca rūpapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi, na so taṃ vedanaṃ vedeti. idamakkhātaṃ rūpānaṃ nissaraṇaṃ.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trí, không bị chi phối bởi sắc.

Khi vị này có tác ý đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi vô sắc.

Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc.

Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sắc.

(d) forms (rūpa), (1098)
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno sakkāyaṃ manasikaroto sakkāye cittaṃ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. sakkāyanirodhaṃ kho panassa manasikaroto sakkāyanirodhe cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. tassa taṃ cittaṃ sugataṃ subhāvitaṃ suvuṭṭhitaṃ suvimuttaṃ visaṃyuttaṃ sakkāyena. ye ca sakkāyapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi, na so taṃ vedanaṃ vedeti. idamakkhātaṃ sakkāyassa nissaraṇaṃ.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trí, không bị chi phối bởi tự thân.

Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt.

Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt.

Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với tự thân.

(e) personality (sakkāya). [241]
♦ 322. “pañca vimuttāyatanāni. idhāvuso, bhikkhuno satthā dhammaṃ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī. yathā yathā, āvuso, bhikkhuno satthā dhammaṃ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī . tathā tathā so tasmiṃ dhamme atthapaṭisaṃvedī ca hoti dhammapaṭisaṃvedī ca. tassa atthapaṭisaṃvedino dhammapaṭisaṃvedino pāmojjaṃ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati. idaṃ paṭhamaṃ vimuttāyatanaṃ.

xxv) Năm giải thoát xứ:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp.

Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú.

Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ nhất.

(25) ‘Five bases of deliverance (vimuttāyatanāni):

Here, (a) the Teacher or a respected fellow disciple teaches a monk Dhamma.

And as he receives the teaching, he gains a grasp of both the spirit and the letter of the teaching.

At this, joy arises in him, and from this joy, delight (pīti); and by this delight his senses are calmed, he feels happiness (sukhaṁ) as a result, and with this happiness his mind is established; (1099)

♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṃ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, api ca kho yathāsutaṃ yathāpariyattaṃ dhammaṃ vitthārena paresaṃ deseti ... pe ...

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Như vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác.

Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú.

Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ hai.

(b) he has not heard it thus, but in the course of teaching Dhamma to others he has learnt it by heart as he has heard it; or
api ca kho yathāsutaṃ yathāpariyattaṃ dhammaṃ vitthārena sajjhāyaṃ karoti ... pe ...

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, không được nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một các rõ ràng, do vậy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ ba.

(c) as he is chanting the Dhamma ...; or
api ca kho yathāsutaṃ yathāpariyattaṃ dhammaṃ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati ... pe ...

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú.

Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ tư.

(d) [24] ... when he applies his mind to the Dhamma, thinks and ponders over it and concentrates his attention on it (anupekkhati); or
api ca khvassa aññataraṃ samādhinimittaṃ suggahitaṃ hoti sumanasikataṃ sūpadhāritaṃ suppaṭividdhaṃ paññāya. yathā yathā, āvuso, bhikkhuno aññataraṃ samādhinimittaṃ suggahitaṃ hoti sumanasikataṃ sūpadhāritaṃ suppaṭividdhaṃ paññāya tathā tathā so tasmiṃ dhamme atthapaṭisaṃvedī ca hoti dhammapaṭisaṃvedī ca. tassa atthapaṭisaṃvedino dhammapaṭisaṃvedino pāmojjaṃ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati. idaṃ pañcamaṃ vimuttāyatanaṃ.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy, vị Tỷ kheo đã khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tùy theo khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú.

Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ năm.

(e) when he has properly grasped some concentrationsign (samādhi-nimittam), has well considered it, applied his mind to it (supadhāritaṁ), and has well penetrated it with wisdom (suppaṭividdhaṁ paññāya).

At this, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his senses are calmed, [243] he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established.

♦ “pañca vimuttiparipācanīyā saññā -- aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā.

♦ “ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena pañca dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ {saṅgitiyapañcakaṃ niṭṭhitaṃ (syā. kaṃ.)}.

xxvi) Năm giải thoát thành thục tưởng: Vô thường tưởng, khổ tưởng trong vô thường, vô ngã tưởng trong khổ, đoạn trừ tưởng, vô tham tưởng.

Này các Hiền giả, năm pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

(26) ‘Five perceptions making for maturity of liberation: the perception of impermanence (anicca-sañña), of suffering in impermanence (anicce dukkha-saññā), of impersonality in suffering (dukkhe anatta-saññā), of abandoning (pahānasaññā), of dispassion (virāga saññā).

‘These are the [sets of] five things which were perfectly proclaimed by the Lord...’

chakkaṃ (DN 33) Sáu Pháp  

♦ 323. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cha dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katame cha?

♦ “cha ajjhattikāni āyatanāni -- cakkhāyatanaṃ, sotāyatanaṃ, ghānāyatanaṃ, jivhāyatanaṃ, kāyāyatanaṃ, manāyatanaṃ.

♦ “cha bāhirāni āyatanāni -- rūpāyatanaṃ, saddāyatanaṃ, gandhāyatanaṃ, rasāyatanaṃ, phoṭṭhabbāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ.

♦ “cha viññāṇakāyā -- cakkhuviññāṇaṃ, sotaviññāṇaṃ, ghānaviññāṇaṃ, jivhāviññāṇaṃ, kāyaviññāṇaṃ, manoviññāṇaṃ.

♦ “cha phassakāyā -- cakkhusamphasso, sotasamphasso, ghānasamphasso, jivhāsamphasso, kāyasamphasso, manosamphasso.

♦ “cha vedanākāyā -- cakkhusamphassajā vedanā, sotasamphassajā vedanā, ghānasamphassajā vedanā, jivhāsamphassajā vedanā, kāyasamphassajā vedanā, manosamphassajā vedanā.

♦ “cha saññākāyā -- rūpasaññā, saddasaññā, gandhasaññā, rasasaññā, phoṭṭhabbasaññā, dhammasaññā.

♦ “cha sañcetanākāyā -- rūpasañcetanā, saddasañcetanā, gandhasañcetanā, rasasañcetanā, phoṭṭhabbasañcetanā, dhammasañcetanā.

♦ “cha taṇhākāyā -- rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā.

2. Này các Hiền giả, có sáu pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là sáu?

i) Sáu nội xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ.

ii) Sáu ngoại xứ: Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ.

iii) Sáu thức thân: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.

iv) Sáu xúc thân: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.

v) Sáu thọ thân: Nhãn xúc sở sanh thọ, nhĩ xúc sở sanh thọ, tỷ xúc sở sanh thọ, thiệt xúc sở sanh thọ, thân xúc sở sanh thọ, ý xúc sở sanh thọ.

vi) Sáu tưởng thân: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.

vii) Sáu tư thân: Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.

viii) Sáu ái thân: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái.

2.2. ‘There are [sets of] six things which were perfectly proclaimed by the Lord...

(1) ‘Six internal sense-spheres (ajjhattikāni āyatanāni): eye-, ear-, nose-, tongue-, body (kāyāyatanaṁ), mindsense-sphere (manāyatanaṁ).

(2) ‘Six external sense-spheres (bahirāni āyatanāni): sight-object (rūpāyatanaṁ), sound-, smell-, taste-, tangible object (phoṭṭabbāyatanaṁ), mind-object (dhammāyatanaṁ).

(3) ‘Six groups of consciousness (viññaṇa-kāyā): eye-consciousness, ear-, nose-, tongue-, body-, mindconsciousness.

(4) ‘Six groups of contact (phassa-kāyā): eye-, ear-, nose-, tongue-, body-, mind contact (mano-samphasso).

(5) ‘Six groups of feeling (vedanā-kāyā): feeling based on eye-contact (cakkhu samphassajā vedanā), [244] on ear-, nose-, tongue-, body-, mind-contact.

(6) ‘Six groups of perception (saññā-kāyā): perception of sights (rūpa-saññā), of sounds, of smells, of tastes, of touches, of mind-objects (dhamma-saññā).

(7) ‘Six groups of volition (sañcetanā-kāyā): volition based on sights, sounds, smells, tastes, touches, mind-objects.

(8) ‘Six groups of craving (taṇhā-kāyā): craving for sights, sounds, smells, tastes, touches, mind-objects.

♦ 324. “cha agāravā. idhāvuso, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso; dhamme agāravo viharati appatisso; saṅghe agāravo viharati appatisso; sikkhāya agāravo viharati appatisso; appamāde agāravo viharati appatisso; paṭisanthāre {paṭisandhāre (ka.)} agāravo viharati appatisso.

ix) Sáu không cung kính pháp:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống không cung kính, không tùy thuận Pháp; sống không cung kính, không tùy thuận Tăng; sống không cung kính, không tùy thuận học Pháp; sống không cung kính bất phóng dật, không tùy thuận bất phóng dật; sống không cung kính, không tùy thuận sự lễ phép xã giao.

(9) ‘Six kinds of disrespect (agāravā):

Here, a monks behaves disrespectfully and discourteously towards the Teacher, the Dhamma, the Sangha, the training, in respect of earnestness (appamāde), of hospitality (paṭisanthāre).

♦ “cha gāravā. idhāvuso, bhikkhu satthari sagāravo viharati sappatisso; dhamme sagāravo viharati sappatisso; saṅghe sagāravo viharati sappatisso; sikkhāya sagāravo viharati sappatisso; appamāde sagāravo viharati sappatisso; paṭisanthāre sagāravo viharati sappatisso.

x) Sáu cung kính pháp:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo sống cung kính, tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống cung kính, tùy thuận Pháp; sống cung kính, tùy thuận Tăng; sống cung kính tùy thuận học Pháp; sống cung kính, tùy thuận bất phóng dật; sống cung kính, tùy thuận lễ phép xã giao.

(10) ‘Six kinds of respect (gāravā):

Here, a monk behaves respectfully... (as (9)).

♦ “cha somanassūpavicārā . cakkhunā rūpaṃ disvā somanassaṭṭhāniyaṃ rūpaṃ upavicarati; sotena saddaṃ sutvā... ghānena gandhaṃ ghāyitvā... jivhāya rasaṃ sāyitvā... kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā. manasā dhammaṃ viññāya somanassaṭṭhāniyaṃ dhammaṃ upavicarati.

xi) Sáu suy tư đến hỷ:

Khi mắt thấy sắc, hoan hỷ khởi lên, sắc ấy được suy tư. Khi tai nghe tiếng... Khi mũi ngửi hương... Khi lưỡi nếm vị... Khi thân chạm xúc... Khi ý nhận pháp, hoan hỷ khởi lên, pháp ấy được suy tư.

(11) ‘Six pleasurable investigations (somanassūpavicārā): (1100)

When, on seeing a sight-object with the eye, on hearing..., smelling ... , tasting ... , touching .. , knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of pleasure. [245]

♦ “cha domanassūpavicārā. cakkhunā rūpaṃ disvā domanassaṭṭhāniyaṃ rūpaṃ upavicarati ... pe ... manasā dhammaṃ viññāya domanassaṭṭhāniyaṃ dhammaṃ upavicarati.

xii) Sáu suy tư đến ưu:

Khi mắt thấy sắc, ưu khởi lên, sắc ấy được suy tư. Khi tai nghe tiếng... Khi mũi ngửi hương... Khi lưỡi nếm vị... Khi thân chạm xúc... Khi ý nhận pháp, ưu khởi lên, pháp ấy được suy tư.

(12) ‘Six unpleasurable investigations: (as (11) but: productive of displeasure).
♦ “cha upekkhūpavicārā. cakkhunā rūpaṃ disvā upekkhāṭṭhāniyaṃ {upekkhāṭhāniyaṃ (ka.)} rūpaṃ upavicarati ... pe ... manasā dhammaṃ viññāya upekkhāṭṭhāniyaṃ dhammaṃ upavicarati.

xiii) Sáu suy tư đến xả:

Khi mắt thấy sắc, xả khởi lên, sắc ấy được suy tư... Khi tai nghe tiếng... Khi mũi ngửi hương... Khi lưỡi nếm vị... Khi thân chạm xúc... Khi ý nhận pháp, xả khởi lên, pháp ấy được suy tư.

(13) ‘Six indifferent investigations: (as (11) but: productive of indifference (upekhā).
♦ “cha sāraṇīyā dhammā. idhāvuso, bhikkhuno mettaṃ kāyakammaṃ paccupaṭṭhitaṃ hoti sabrahmacārīsu āvi {āvī (ka. sī. pī. ka.)} ceva raho ca. ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṃvattati.

xiv) Sáu hòa kính pháp:

Này các Hiền giả, ở đây khi vị Tỷ kheo thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh,

như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

(14) ‘Six things conducive to communal living (sārāṇīyā dhammā): (1101) As long as monks both in public and in private show loving-kindness to their fellows in acts of body,
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno mettaṃ vacīkammaṃ paccupaṭṭhitaṃ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. ayampi dhammo sāraṇīyo ... pe ... ekībhāvāya saṃvattati.

Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ khẩu nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh,

như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

speech and
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno mettaṃ manokammaṃ paccupaṭṭhitaṃ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. ayampi dhammo sāraṇīyo ... pe ... ekībhāvāya saṃvattati.

Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ ý nghiệp trước mặt hay sau lưng, đối với các vị đồng phạm hạnh,

như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

thought,...
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi, tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī. ayampi dhammo sāraṇīyo ... pe ... ekībhāvāya saṃvattati.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, đối với các đồ vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các vị Tỷ kheo có giới hạnh,

như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

share with their virtuous fellows whatever they receive as a rightful gift, including the contents of their alms-bowls, which they do not keep to themselves, ...
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṃvattanikāni, tathārūpesu sīlesu sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca. ayampi dhammo sāraṇīyo ... pe ... ekībhāvāya saṃvattati.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, khi những giới luật của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến thiền định, vị Tỷ kheo ấy giữ giới hạnh Sa môn như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng phạm hạnh

như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

keep consistently, unbroken and unaltered those rules of conduct that are spotless, leading to liberation, praised by the wise, unstained and conducive to concentration, and persist therein with their fellows both in public and in private,...
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu yāyaṃ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya, tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca. ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṃvattati.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống đời sống được Chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh, đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng,

như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, trong tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

continue in that noble view that leads to liberation, to the utter destruction of suffering, remaining in such awareness with their fellows both in public and in private (as Sutta 16, verse 1.11). [246]
♦ 325. cha vivādamūlāni. idhāvuso, bhikkhu kodhano hoti upanāhī. yo so, āvuso, bhikkhu kodhano hoti upanāhī, so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī {paripūrīkārī (syā. kaṃ.)} hoti. yo so, āvuso, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme agāravo viharati appatisso, saṅghe agāravo viharati appatisso, sikkhāya na paripūrakārī, so saṅghe vivādaṃ janeti. yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṃ. evarūpaṃ ce tumhe, āvuso, vivādamūlaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha. tatra tumhe, āvuso, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. evarūpaṃ ce tumhe, āvuso, vivādamūlaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha. tatra tumhe, āvuso, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṃ anavassavāya paṭipajjeyyātha. evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṃ hoti. evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṃ anavassavo hoti.

xv) Sáu tránh căn:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo phẫn nộ, uất hận. Này các Hiền giả, vị này phẫn nộ, uất hận, sống không cung kính, không tùy thuận vị Ðạo Sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học pháp.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo sống không cung kính không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học Pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến chúng sanh không hạnh phúc, khiến chúng sanh không an lạc, khiến chúng sanh không lợi ích, và khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc, mà đau khổ.

Này các Hiền giả, nếu Hiền giả thấy được tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, Hiền giả phải cố gắng đoạn trừ ác tránh căn ấy. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả không thấy tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, các vị hãy gìn giữ đừng cho ác tránh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là ngăn chặn nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai.

(15) ‘Six roots of contention (vivāda-mūlāni):

Here, (a) a monk is angry and bears ill-will, he is disrespectful and discourteous to the Teacher, the Dhamma and the Sangha, and does not finish his training.

He stirs up contention within the Sangha, which brings woe and sorrow to many, with evil consequences, misfortune and sorrow for devas and humans.

If, friends, you should discover such a root of contention among yourselves or among others, you should strive to get rid of just that root of contention. If you find no such root of contention..., then you should work to prevent its overcoming you in future. Or 

♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu makkhī hoti paḷāsī ... pe ... issukī hoti maccharī ... pe ... saṭho hoti māyāvī... pāpiccho hoti micchādiṭṭhī... sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī ... pe ...

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo

che dấu và giả dối...

tật đố và xan tham...

lừa đảo và lường gạt...

ác dục và tà kiến...

(b) a monk is deceitful and malicious (makkhī hoti paḷāsī) ... ,

(c) a monk is envious and mean ... ,

(d) a monk is cunning and deceitful...,

(e) a monk is full of evil desires and wrong views...,

(f) a monk is opinionated (sandiṭṭhi-parāmāsī), obstinate and tenacious. [247]

yo so, āvuso, bhikkhu sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī, so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. yo so, āvuso, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme agāravo viharati appatisso, saṅghe agāravo viharati appatisso, sikkhāya na paripūrakārī, so saṅghe vivādaṃ janeti. yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṃ. evarūpaṃ ce tumhe, āvuso, vivādamūlaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha. tatra tumhe, āvuso, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. evarūpaṃ ce tumhe, āvuso, vivādamūlaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha. tatra tumhe, āvuso, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṃ anavassavāya paṭipajjeyyātha. evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṃ hoti. evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṃ anavassavo hoti.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ rất khó rời bỏ.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ, rất khó rời bỏ, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học pháp.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học Pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng.

Tranh luận như vậy khiến chúng sanh không hạnh phúc, khiến chúng sanh không an lạc, khiến chúng sanh không lợi ích, khiến chư Thiên vào loài Người không hạnh phúc, mà đau khổ.

Này các Hiền giả, nếu Hiền giả thấy được tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, Hiền giả phải cố gắng đoạn trừ ác tránh căn ấy.

Này các Hiền giả, nếu Hiền giả không thấy tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, các vị hãy gìn giữ đừng cho ác tránh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ ác tránh căn ấy, như vậy là ngăn chận nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai.

If, friends, you should discover such a root of contention among yourselves or among others, you should strive to get rid of just that root of contention.

If you find no such root of contention..., then you should work to prevent its overcoming you in future.

♦ “cha dhātuyo — pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu.

xvi) Sáu giới:

Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.

(16) ‘Six elements: the earth-, water-, fire-, air-, spaceelement (ākāsa-dhātu), the consciousness-element (viṇṇāṇa-dhātu). (1102)
♦ 326. “cha nissaraṇiyā dhātuyo. idhāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘mettā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, atha ca pana me byāpādo cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. so ‘mā hevaṃ’, tissa vacanīyo, ‘māyasmā evaṃ avaca, mā bhagavantaṃ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṃ, na hi bhagavā evaṃ vadeyya. aṭṭhānametaṃ, āvuso, anavakāso, yaṃ mettāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya. atha ca panassa byāpādo cittaṃ pariyādāya ṭhassati, netaṃ ṭhānaṃ vijjati. nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, byāpādassa, yadidaṃ mettā cetovimuttī’ti.

xvii) Sáu xuất ly giới:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau:

"Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta".

Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy.

Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trí, sự kiện không thể xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, từ tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.

(17) ‘Six elements making for deliverance (nissaraṇīyādhātuyo): Here, a monk might say:

(a) “I have developed the emancipation of the heart (cetovimutti) by loving-kindness (mettā), [248] expanded it, made it a vehicle and a base, established, worked well on it, set it well in train. And yet ill-will still grips my heart.”

He should be told: “No! do not say that! Do not misrepresent the Blessed Lord, it is not right to slander him thus, for he would not have said such a thing! Your words are unfounded and impossible.

If you develop the emancipation of the heart through loving-kindness, ill-will has no chance to envelop your heart. This emancipation through loving-kindness is the cure for illwill.” Or

♦ “idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘karuṇā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. atha ca pana me vihesā cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti, so ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṃ avaca, mā bhagavantaṃ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṃ, na hi bhagavā evaṃ vadeyya. aṭṭhānametaṃ āvuso, anavakāso, yaṃ karuṇāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya, atha ca panassa vihesā cittaṃ pariyādāya ṭhassati, netaṃ ṭhānaṃ vijjati. nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, vihesāya, yadidaṃ karuṇā cetovimuttī’ti.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta".

Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy.

Nếu tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà hại tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, bi tâm giải thoát có khả năng giải thoát hại tâm.

(b) he might say: “I have developed the emancipation of the heart through compassion (karuṇā), and yet cruelty still grips my heart...” Or
♦ “idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘muditā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. atha ca pana me arati cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti, so ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo “māyasmā evaṃ avaca, mā bhagavantaṃ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṃ, na hi bhagavā evaṃ vadeyya. aṭṭhānametaṃ, āvuso, anavakāso, yaṃ muditāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya, atha ca panassa arati cittaṃ pariyādāya ṭhassati, netaṃ ṭhānaṃ vijjati. nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, aratiyā, yadidaṃ muditā cetovimuttī’ti.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta".

Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy.

Nếu tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, bất lạc tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất lạc tâm.

c) he might say: “I have developed the emancipation of the heart through sympathetic joy (muditā), and yet aversion (arati) still grips my heart...” [249] Or
♦ “idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘upekkhā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. atha ca pana me rāgo cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. so ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṃ avaca, mā bhagavantaṃ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṃ, na hi bhagavā evaṃ vadeyya. aṭṭhānametaṃ, āvuso, anavakāso, yaṃ upekkhāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya, atha ca panassa rāgo cittaṃ pariyādāya ṭhassati netaṃ ṭhānaṃ vijjati. nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, rāgassa, yadidaṃ upekkhā cetovimuttī’ti.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta".

Vị ấy cần được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy.

Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần mà tham tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, xả tâm giải thoát, có khả năng giải thoát tham tâm.

(d) he might say: “I have developed the emancipation of the heart through equanimity (upekhā), and yet lust (rāgo) grips my heart.” Or
♦ “idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘animittā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. atha ca pana me nimittānusāri viññāṇaṃ hotī’ti. so ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṃ avaca, mā bhagavantaṃ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṃ, na hi bhagavā evaṃ vadeyya. aṭṭhānametaṃ, āvuso, anavakāso, yaṃ animittāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya, atha ca panassa nimittānusāri viññāṇaṃ bhavissati, netaṃ ṭhānaṃ vijjati. nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, sabbanimittānaṃ, yadidaṃ animittā cetovimuttī’ti.

Này các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng".

Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy.

Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.

(e) he might say: “I have developed the signless emancipation of the heart (animittā ceto-vimutti), (1103) and yet my heart still hankers after signs (nimittānusāri hoti) ... ” Or
♦ “idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘asmīti kho me vigataṃ {vighātaṃ (sī. pī.), vigate (syā. ka.)}, ayamahamasmīti na samanupassāmi, atha ca pana me vicikicchākathaṅkathāsallaṃ cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. so ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṃ avaca, mā bhagavantaṃ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṃ, na hi bhagavā evaṃ vadeyya. aṭṭhānametaṃ, āvuso, anavakāso, yaṃ asmīti vigate {vighāte (sī. pī.)} ayamahamasmīti asamanupassato, atha ca panassa vicikicchākathaṅkathāsallaṃ cittaṃ pariyādāya ṭhassati, netaṃ ṭhānaṃ vijjati. nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, vicikicchākathaṅkathāsallassa, yadidaṃ asmimānasamugghāto’ti.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Quan điểm "tôi có mặt" bị tôi từ khước. Quan điểm "tôi là cái này" không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú tôi".

Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy".

Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. "Quan điểm "tôi có mặt" bị tôi từ khước. Quan điểm "tôi là cái này" không được tôi chấp thuận. Tuy vậy nghi ngờ, do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi". Sự kiện không xảy ra như vậy.

Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo mạn "tôi có mặt", mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.

(f) he might say: “The idea ‘I am’ is repellent to me, I pay no heed to the idea: ‘I am this.’ Yet doubts, uncertainties and problems still grip my heart...” [250] (Reply to each in similar terms to (a)).

♦ 327. “cha anuttariyāni -- dassanānuttariyaṃ, savanānuttariyaṃ, lābhānuttariyaṃ, sikkhānuttariyaṃ, pāricariyānuttariyaṃ, anussatānuttariyaṃ.

♦ “cha anussatiṭṭhānāni — buddhānussati, dhammānussati, saṅghānussati, sīlānussati, cāgānussati, devatānussati.

xviii) Sáu vô thượng: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, học giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng.

xix) Sáu niệm xứ: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên.

(18) ‘Six unsurpassed things (anuttariyāni): (1104) [certain] sights, things heard, gains, trainings, forms of service (paricāriyānuttariyaṁ), objects of recollection.

(19) ‘Six subjects of recollection (anussati-ṭṭhānāni): the Buddha, the Dhamma, the Sangha, morality, renunciation, the devas.

♦ 328. “cha satatavihārā. idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako {upekkhako ca (syā. ka.)} viharati sato sampajāno. sotena saddaṃ sutvā ... pe ... manasā dhammaṃ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.

xx) Sáu hằng trú:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, giác tỉnh; tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức pháp, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.

(20) ‘Six stable states (satata-vihārā): (1105)

On seeing an object with the eye, hearing a sound..., smelling a smell ... , tasting a flavour..., touching a tangible object... or cognising a mental object with the mind one is neither pleased (sumano) nor displeased (dummano), but remains equable (upekhako), mindful and clearly aware.

♦ 329. “chaḷābhijātiyo. idhāvuso, ekacco kaṇhābhijātiko samāno kaṇhaṃ dhammaṃ abhijāyati. idha panāvuso, ekacco kaṇhābhijātiko samāno sukkaṃ dhammaṃ abhijāyati. idha panāvuso, ekacco kaṇhābhijātiko samāno akaṇhaṃ asukkaṃ nibbānaṃ abhijāyati. idha panāvuso, ekacco sukkābhijātiko samāno sukkaṃ dhammaṃ abhijāyati. idha panāvuso, ekacco sukkābhijātiko samāno kaṇhaṃ dhammaṃ abhijāyati. idha panāvuso, ekacco sukkābhijātiko samāno akaṇhaṃ asukkaṃ nibbānaṃ abhijāyati.

xxi) Sáu sanh loại:

Này các Hiền giả, ở đây có người hắc sanh và sống tạo hắc pháp.

Này các Hiền giả, ở đây, có người hắc sanh và sống tạo bạch pháp.

Này các Hiền giả, ở đây, có người hắc sanh và sống tạo Niết bàn, phi hắc phi bạch pháp.

Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo bạch pháp.

Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo hắc pháp.

Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo Niết bàn, phi hắc phi bạch pháp.

(21) ‘Six “species” (ābhijātiyo):

Here, (a) one born in dark conditions [251] lives a dark life,

(b) one born in dark conditions lives a bright life,

(c) one born in dark conditions attains Nibbāna, which is neither dark nor bright,

(d) one born in bright conditions lives a dark life,

(e) one born in bright conditions leads a bright life,

(f) one born in bright conditions attains Nibbana which is neither dark nor bright. 

♦ “cha nibbedhabhāgiyā saññā {nibbedhabhāgiyasaññā (syā. kaṃ.)} — aniccasaññā anicce, dukkhasaññā dukkhe, anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā, nirodhasaññā.

xxii) Sáu quyết trạch phần tưởng:

Vô thường tưởng, khổ tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên khổ, đoạn tưởng, vô tham tưởng, diệt tưởng.

(22) ‘Six perceptions conducive to penetration (nibbedhabhāgiya-saññā):

the perception of impermanence, of suffering in impermanence, of impersonality in suffering, of abandoning, of dispassion (as Sutta 33, verse 2.1 (26)) and the perception of cessation (nirodha saññā).

♦ “ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cha dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

Này các Hiền giả, sáu pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

‘These are the [sets of] six things which were perfectly proclaimed by the Lord...’
sattakaṃ (DN 33) Bảy Pháp  

♦ 330. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena satta dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katame satta?

♦ “satta ariyadhanāni -- saddhādhanaṃ, sīladhanaṃ, hiridhanaṃ, ottappadhanaṃ, sutadhanaṃ, cāgadhanaṃ, paññādhanaṃ.

♦ “satta bojjhaṅgā -- satisambojjhaṅgo, dhammavicayasambojjhaṅgo, vīriyasambojjhaṅgo, pītisambojjhaṅgo, passaddhisambojjhaṅgo, samādhisambojjhaṅgo, upekkhāsambojjhaṅgo.

♦ “satta samādhiparikkhārā -- sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati.

♦ “satta asaddhammā -- idhāvuso, bhikkhu assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, appassuto hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, duppañño hoti.

♦ “satta saddhammā -- idhāvuso, bhikkhu saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, paññavā hoti.

♦ “satta sappurisadhammā -- idhāvuso, bhikkhu dhammaññū ca hoti atthaññū ca attaññū ca mattaññū ca kālaññū ca parisaññū ca puggalaññū ca.

8. Này các Hiền giả, có bảy pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là bảy?

i) Bảy tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.

ii) Bảy giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi.

iii) Bảy định cụ: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm.

iv) Bảy phi diệu pháp: Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo bất tín, vô tàm, vô quý, thiểu văn, giải đãi, thất niệm, liệt tuệ.

v) Bảy diệu pháp: Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo có lòng tín, có tàm, có quý, đa văn, tinh tấn, niệm được an trú, có trí tuệ.

vi) Bảy thượng nhân pháp: Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo tri pháp, tri nghĩa, tự tri, tri lượng, tri thời, tri chúng và tri nhân.

2.3. ‘There are [sets of] seven things which have been perfectly proclaimed by the Lord...

(1) ‘Seven Ariyan treasures (ariya-dhanāni): faith, morality, moral shame (hiri), moral dread (ottappa), learning (suta), renunciation (cāga), wisdom.

(2) ‘Seven factors of enlightenment (sambojjhangā): mindfulness, [252] investigation of phenomena, energy, delight (pīti), tranquillity, concentration, equanimity.

(3) ‘Seven requisites of concentration: (1106) right view, thought, speech, action, livelihood, effort, mindfulness.

(4) ‘Seven wrong practices (asaddhammā): Here, a monk lacks faith, lacks moral shame, lacks moral dread, has little learning, is slack (kusḇīto), is unmindful (mutthassati), lacks wisdom.

(5) ‘Seven right practices (saddhammā): Here, a monk has faith, moral shame and moral dread, has much learning, has aroused vigour (āraddha-viriyo), has established mindfulness (upaṭṭhita-sati hoti), possesses wisdom.

(6) ‘Seven qualities of the true man (sappurisadhammā): (1107) Here, a monk is a knower of the Dhamma, of meanings (atthaññū), of self (attaññū), (1108) of moderation (mattaññū), of the right time, of groups (parisaññū), of persons.

♦ 331. “satta niddasavatthūni. idhāvuso, bhikkhu sikkhāsamādāne tibbacchando hoti, āyatiñca sikkhāsamādāne avigatapemo. dhammanisantiyā tibbacchando hoti, āyatiñca dhammanisantiyā avigatapemo. icchāvinaye tibbacchando hoti, āyatiñca icchāvinaye avigatapemo. paṭisallāne tibbacchando hoti, āyatiñca paṭisallāne avigatapemo. vīriyārambhe tibbacchando hoti, āyatiñca vīriyārambhe avigatapemo. satinepakke tibbacchando hoti, āyatiñca satinepakke avigatapemo . diṭṭhipaṭivedhe tibbacchando hoti, āyatiñca diṭṭhipaṭivedhe avigatapemo.

vii) Bảy thù diệu sự:

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai;

tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp trong tương lai;

tha thiết điều phục các dục vọng và khát vọng điều phục các dục vọng trong tương lai;

tha thiết sống an tịnh và khát vọng sống an tịnh trong tương lai;

tha thiết sống tinh tấn và khát vọng sống tinh tấn trong tương lai;

tha thiết quán sát tư niệm và khát vọng quán sát tư niệm trong tương lai;

tha thiết với kiến giải và khát vọng hiểu biết sở kiến trong tương lai.

(7) ‘Seven grounds for commendation (niddasavatthūni), (1109)

Here, a monk is keenly anxious

(a) to undertake the training, and wants to persist in this,

(b) to make a close study of the Dhamma,

(c) to get rid of desires,

(d) to find solitude,

(e) to arouse energy,

(f) to develop mindfulness and discrimination (satinepakke), [253]

(g) to develop penetrative insight. (1110)

“satta saññā -- aniccasaññā, anattasaññā, asubhasaññā, ādīnavasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā, nirodhasaññā.

“satta balāni -- saddhābalaṃ, vīriyabalaṃ, hiribalaṃ, ottappabalaṃ, satibalaṃ, samādhibalaṃ, paññābalaṃ.

viii) Bảy tưởng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưởng, hoạn nạn tưởng, đoạn tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng.

ix) Bảy lực: Tín lực, tinh tấn lực, tàm lực, quý lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.

(8) ‘Seven perceptions: perception of impermanence, of not-self, of foulness (asubhasaññā), of danger, of abandonment, of dispassion, of cessation.

(9) ‘Seven powers (balāni): of faith, energy, moral shame, moral dread, mindfulness, concentration, wisdom.

♦ 332. “satta viññāṇaṭṭhitiyo. santāvuso, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. ayaṃ paṭhamā viññāṇaṭṭhiti.

x) Bảy thức trú:

Này các Hiền giả, có các loại hữu tình, thân sai biệt và tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên và một số thuộc đọa xứ. Ðó là loại thức trú thứ nhất.

(10) ‘Seven stations of consciousness:

Beings (a) different in body and different in perception;

♦ “santāvuso, sattā nānattakāyā ekattasaññino seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā. ayaṃ dutiyā viññāṇaṭṭhiti. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình thân sai biệt nhưng tưởng đồng loại, như các vị Phạm Chúng thiên vừa mới sanh lần đầu tiên (hay do tu sơ thiền). Ðó là loại thức trú thứ hai. (b) different in body and alike in perception;
♦ “santāvuso, sattā ekattakāyā nānattasaññino seyyathāpi devā ābhassarā. ayaṃ tatiyā viññāṇaṭṭhiti. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, thân đồng loại, nhưng tưởng sai biệt, như chư Quang Âm thiên. Ðó là loại thức trú thứ ba. (c) alike in body and different in perception;
♦ “santāvuso, sattā ekattakāyā ekattasaññino seyyathāpi devā subhakiṇhā. ayaṃ catutthī viññāṇaṭṭhiti. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thân đồng loại và tưởng đồng loại, như chư Thiên Biến Tịnh thiên. Ðó là loại thức trú thứ tư. (d) alike in body and alike in perception;
♦ “santāvuso, sattā sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā. ayaṃ pañcamī viññāṇaṭṭhiti. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi mọi tưởng về sắc, điều phục mọi tưởng về sân, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng Không vô biên xứ: "Hư không là vô biên". Ðó là loại thức trú thứ năm. (e) who have attained to the Sphere of Infinite Space;
♦ “santāvuso, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma ‘anantaṃ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā. ayaṃ chaṭṭhī viññāṇaṭṭhiti. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi hoàn toàn hư không vô biên xứ, chứng thức vô biên xứ: "Thức là vô biên". Ðó là loại thức trú thứ sáu. (f) ... of Infinite Consciousness;
♦ “santāvuso, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā. ayaṃ sattamī viññāṇaṭṭhiti. Này các Hiền giả có những loại hữu tình vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng Vô sở hữu xứ: "Không có vật gì cả". Ðó là loại thức trú thứ bảy. (g) ... of No-Thingness (as Sutta 15, verse 33)
♦ “satta puggalā dakkhiṇeyyā -- ubhatobhāgavimutto, paññāvimutto, kāyasakkhi, diṭṭhippatto, saddhāvimutto, dhammānusārī, saddhānusārī.

xi) Bảy loại người đáng kính trọng:

Câu phần giải thoát, Tuệ giải thoát, Thân chứng, Kiến chí, Tín giải thoát, Tùy pháp hành, Tùy tín hành.

(11) ‘Seven persons worthy of offerings: The Both-WaysLiberated [254], the Wisdom Liberated, the Body-Witness, the Vision-Attainer, the Faith-Liberated, the Dhamma-Devotee, the Faith-Devotee (as Sutta 28, verse 8).
♦ “satta anusayā -- kāmarāgānusayo, paṭighānusayo, diṭṭhānusayo, vicikicchānusayo, mānānusayo, bhavarāgānusayo, avijjānusayo.

xii) Bảy tùy miên:

Dục ái tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên.

(12) ‘Seven latent proclivities (anusayā):

sensuous greed (kāma-rāga), resentment (paṭigha), views, doubt, conceit, craving for becoming (bhava-rāga), ignorance.

♦ “satta saññojanāni -- anunayasaññojanaṃ {kāmasaññojanaṃ (syā. kaṃ.)}, paṭighasaññojanaṃ, diṭṭhisaññojanaṃ, vicikicchāsaññojanaṃ, mānasaññojanaṃ, bhavarāgasaññojanaṃ, avijjāsaññojanaṃ.

xiii) Bảy kiết sử:

Ái kiết sử, sân kiết sử, kiến kiết sử, nghi kiết sử, mạn kiết sử, hữu tham kiết sử, vô minh kiết sử.

(13) ‘Seven fetters (saṁyojanāni):

complaisance (anunaya), (1111) resentment (then as (12)).

♦ “satta adhikaraṇasamathā -- uppannuppannānaṃ adhikaraṇānaṃ samathāya vūpasamāya sammukhāvinayo dātabbo, sativinayo dātabbo, amūḷhavinayo dātabbo, paṭiññāya kāretabbaṃ, yebhuyyasikā, tassapāpiyasikā, tiṇavatthārako.

xiv) Bảy diệt tránh pháp:

Có khả năng đình chỉ, trừ diệt các tránh pháp đang khởi lên: Ưng dữ hiện tiền tỳ ni, ưng dữ ức niệm tỳ ni, ưng dữ bất si tỳ ni, ưng dữ tự ngôn trị, đa mích tội tướng, đa nhơn mích tội, như thảo phú địa.

(14) ‘Seven rules for the pacification and settlement of disputed questions that have been raised: (1112)

(a) proceedings face-to-face, (b) recollection (sati), (c) mental derangement, (d) confession, (e) majority verdict, (f) habitual bad character, (g) “covering over with grass”.

♦ “ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena satta dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

dutiyabhāṇavāro niṭṭhito.

Này các Hiền giả, bảy pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

‘These are the [sets of] seven things which were perfectly proclaimed by the Lord ...

So we should all recite them together... for the benefit, welfare and happiness of devas and humans.’

[End of second recitation-section]

aṭṭhakaṃ (DN 33)

Tụng Phẩm III

Tám Pháp

 
♦ 333. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena aṭṭha dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katame aṭṭha?

1. "Này các Hiền giả, có tám pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là tám?

3.1. ‘There are [sets of] eight things perfectly proclaimed by the Lord...
♦ “aṭṭha micchattā -- micchādiṭṭhi, micchāsaṅkappo, micchāvācā, micchākammanto, micchāājīvo, micchāvāyāmo micchāsati, micchāsamādhi.

i) Tám tà:

Tà tri kiến, ta tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.

(1) ‘Eight wrong factors (micchattā): wrong view... (the reverse of (2) below). [255]
♦ “aṭṭha sammattā -- sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.

ii) Tám chánh:

Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

(2) ‘Eight right factors (sammattā):

right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration.

♦ “aṭṭha puggalā dakkhiṇeyyā -- sotāpanno, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno; sakadāgāmī, sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno; anāgāmī, anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno; arahā, arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanno.

iii) Tám người đáng cung kính:

Hạng Dự lưu, hạng đã thành tựu và chứng Dự lưu quả; hạng Nhất lai, hạng đã thành tựu và chứng Nhất lai quả; hạng Bất lai, hạng đã thành tựu và chứng Bất lai quả; hạng A la hán và hạng đã thành tựu A la hán quả.

(3) ‘Eight persons worthy of offerings: (1113)

the StreamWinner and one who has practised to gain the fruit of Stream-Entry, the Once-Retumer..., the Non-Returner..., the Arahant and one who has worked to gain the fruit of Arahantship.

♦ 334. “aṭṭha kusītavatthūni. idhāvuso, bhikkhunā kammaṃ kātabbaṃ hoti. tassa evaṃ hoti — ‘kammaṃ kho me kātabbaṃ bhavissati, kammaṃ kho pana me karontassa kāyo kilamissati, handāhaṃ nipajjāmī’ti! so nipajjati na vīriyaṃ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. idaṃ paṭhamaṃ kusītavatthu.

iv) Tám giải đãi sự:

Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm. Vị này nghĩ: "Có công việc ta sẽ phải làm. Nếu ta làm việc, thời thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống".

Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được, như vậy là giải đãi sự thứ nhất.

(4) ‘Eight occasions of indolence (kusīta-vatthūni):

Here, a monk (a) has a job to do. He thinks: “I’ve got this job to do, but it will make me tired. I’ll have a rest.”

So he lies down and does not stir up enough energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, to realise the unrealised. Or 

♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhunā kammaṃ kataṃ hoti. tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho kammaṃ akāsiṃ, kammaṃ kho pana me karontassa kāyo kilanto, handāhaṃ nipajjāmī’ti! so nipajjati na vīriyaṃ ārabhati ... pe ... idaṃ dutiyaṃ kusītavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, một việc đã được vị Tỷ kheo làm. Vị này nghĩ: "Ta đã làm một công việc. Do ta làm một công việc nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn...

như vậy là giải đãi sự thứ hai.

(b) he has done some work, and thinks: “I’ve done this work, now I’m tired. I’ll have a rest.” So he lies down ... Or
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhunā maggo gantabbo hoti. tassa evaṃ hoti — ‘maggo kho me gantabbo bhavissati, maggaṃ kho pana me gacchantassa kāyo kilamissati, handāhaṃ nipajjāmī’ti! so nipajjati na vīriyaṃ ārabhati... idaṃ tatiyaṃ kusītavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: "Khi ta đi con đường ấy, thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn...

Như vậy là giải đãi sự thứ ba.

(c) he has to go on a journey, and thinks: “I have to go on this journey. It will make me tired ... ” Or
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhunā maggo gato hoti. tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho maggaṃ agamāsiṃ, maggaṃ kho pana me gacchantassa kāyo kilanto, handāhaṃ nipajjāmī’ti! so nipajjati na vīriyaṃ ārabhati... idaṃ catutthaṃ kusītavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, con đường vị Tỷ kheo đã đi. Vị này nghĩ: "Ta đã đi con đường, do ta đã đi con đường nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn...

Như vậy là giải đãi sự thứ tư.

(d) he has been on a journey... Or
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya caranto na labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṃ pāripūriṃ. tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya caranto nālatthaṃ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṃ pāripūriṃ, tassa me kāyo kilanto akammañño, handāhaṃ nipajjāmī’ti! so nipajjati na vīriyaṃ ārabhati... idaṃ pañcamaṃ kusītavatthu.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo đi khất thực ở làng hay tại đô thị không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn.

Vị ấy nghĩ: "Ta đi khất thực ở làng hay đô thị, không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn.

Thân này của ta bị mệt mỏi không lợi ích gì. Vậy ta nên nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn.

Như vậy là giải đãi sự thứ năm.

does not get his fill of food, whether coarse or fine, and he thinks: “I’ve gone for alms... [256] ... my body is tired and useless ... Or
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya caranto labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṃ pāripūriṃ. tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya caranto alatthaṃ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṃ pāripūriṃ, tassa me kāyo garuko akammañño, māsācitaṃ maññe, handāhaṃ nipajjāmī’ti! so nipajjati na vīriyaṃ ārabhati... idaṃ chaṭṭhaṃ kusītavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, trong khi đi khất thực tại làng hay thị xã nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn.

Vị ấy nghĩ: "Ta đi khất thức tại làng hay tại thị xã, nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn.

Thân này của ta nặng nề, không làm được gì, như một nhóm đậu. Vậy ta nên nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn...

Như vậy là giải đãi sự thứ sáu.

hinks: ”I’ve gone for alms ... and my body is heavy and useless as if I were pregnant ... ” (1114) ... Or
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno uppanno hoti appamattako ābādho. tassa evaṃ hoti — ‘uppanno kho me ayaṃ appamattako ābādho; atthi kappo nipajjituṃ, handāhaṃ nipajjāmī’ti! so nipajjati na vīriyaṃ ārabhati... idaṃ sattamaṃ kusītavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị này nghĩ: "Nay ta bị đau bệnh nhẹ, cần phải nằm nghỉ. Vậy ta nên nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn...

Như vậy là giải đãi sự thứ bảy.

(g) he has developed some slight indisposition, and he thinks: “I’d better have a rest...” Or
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu gilānā vuṭṭhito {gilānavuṭṭhito (saddanīti) a. ni. 6.16 nakulapitusuttaṭīkā passitabbā} hoti aciravuṭṭhito gelaññā. tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho gilānā vuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā, tassa me kāyo dubbalo akammañño, handāhaṃ nipajjāmī’ti! so nipajjati na vīriyaṃ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. idaṃ aṭṭhamaṃ kusītavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: "Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Thân này của ta yếu đuối, không làm được việc gì, vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.

Như vậy là giải đãi sự thứ tám.

(h) he is recuperating, having not long recovered from an illness, and he thinks: “My body is weak and useless. I’ll have a rest.” So he lies down and does not stir up enough energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, to realise the unrealised.
♦ 335. “aṭṭha ārambhavatthūni. idhāvuso, bhikkhunā kammaṃ kātabbaṃ hoti. tassa evaṃ hoti — ‘kammaṃ kho me kātabbaṃ bhavissati, kammaṃ kho pana me karontena na sukaraṃ buddhānaṃ sāsanaṃ manasi kātuṃ, handāhaṃ vīriyaṃ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya, asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti! so vīriyaṃ ārabhati appattassa pattiyā, anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. idaṃ paṭhamaṃ ārambhavatthu.

v) Tám tinh tấn sự:

Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm, vị ấy nghĩ: "Có công việc, ta sẽ phải làm, nếu ta làm việc, thì không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp chư Phật.

Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được".

Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được.

Như vậy là tinh tấn sự thứ nhất.

(5) ‘Eight occasions for making an effort (ārabbhavatthūni):

Here, a monk (a) has a job to do. He thinks: “I’ve got this job to do, but in doing it I won’t find it easy to pay attention to the teaching of the Buddhas.

So I will stir up sufficient energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, to realise the unrealised.” Or

♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhunā kammaṃ kataṃ hoti. tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho kammaṃ akāsiṃ, kammaṃ kho panāhaṃ karonto nāsakkhiṃ buddhānaṃ sāsanaṃ manasi kātuṃ, handāhaṃ vīriyaṃ ārabhāmi ... pe ... so vīriyaṃ ārabhati... idaṃ dutiyaṃ ārambhavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã làm xong công việc, vị ấy nghĩ: "Ta đã làm xong công việc. Khi ta làm công việc, ta không thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật.

Vậy ta phải cố gắng tinh tấn..." Vị ấy tinh tấn...

Như vậy là tinh tấn sự thứ hai.

(b) he has [257] done some work, and thinks: “Well, I did the job, but because of it I wasn’t able to pay sufficient attention to the teaching of the Buddhas.

So I will stir up sufficient energy...” Or

♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhunā maggo gantabbo hoti. tassa evaṃ hoti — ‘maggo kho me gantabbo bhavissati, maggaṃ kho pana me gacchantena na sukaraṃ buddhānaṃ sāsanaṃ manasi kātuṃ. handāhaṃ vīriyaṃ ārabhāmi ... pe ... so vīriyaṃ ārabhati... idaṃ tatiyaṃ ārambhavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: "Ðây là con đường mà ta có thể sẽ phải đi. Khi ta đi con đường ấy, không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật.

Vậy ta hãy cố gắng tinh..." Vị ấy tinh tấn...

Như vậy là tinh tấn sự thứ ba.

(c) he has to go on a journey...Or
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhunā maggo gato hoti. tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho maggaṃ agamāsiṃ, maggaṃ kho panāhaṃ gacchanto nāsakkhiṃ buddhānaṃ sāsanaṃ manasi kātuṃ, handāhaṃ vīriyaṃ ārabhāmi ... pe ... so vīriyaṃ ārabhati... idaṃ catutthaṃ ārambhavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã đi con đường. Vị này nghĩ: "Ta đã đi con đường ấy. Khi ta đi con đường, ta không có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật.

Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn..." Vị ấy tinh tấn...

Như vậy là tinh tấn sự thứ tư.

(d) he has been on a journey. He thinks: “I’ve been on this journey, but because of it I wasn’t able to pay sufficient attention ...” Or
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya caranto na labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṃ pāripūriṃ . tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya caranto nālatthaṃ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṃ pāripūriṃ, tassa me kāyo lahuko kammañño, handāhaṃ vīriyaṃ ārabhāmi ... pe ... so vīriyaṃ ārabhati... idaṃ pañcamaṃ ārambhavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: "Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân ta như vậy nhẹ nhàng có thể làm việc.

Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn..." Và vị ấy tinh tấn...

Như vậy là tinh tấn sự thứ năm.

(e) he goes for alms ... without getting his fill ... And he thinks: “So my body is light and fit. I’ll stir up energy...”
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya caranto labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṃ pāripūriṃ. tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya caranto alatthaṃ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṃ pāripūriṃ, tassa me kāyo balavā kammañño, handāhaṃ vīriyaṃ ārabhāmi ... pe ... so vīriyaṃ ārabhati... idaṃ chaṭṭhaṃ ārambhavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay loại đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: "Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Như vậy thân ta mạnh, có thể làm việc,

vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn..." Và vị ấy tinh tấn...

Như vậy là tinh tấn sự thứ sáu.

Or (f) he goes for alms... and gets his fill ... And he thinks: “So my body is strong and fit. I’ll stir up energy...” Or
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno uppanno hoti appamattako ābādho. tassa evaṃ hoti — ‘uppanno kho me ayaṃ appamattako ābādho, ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati yaṃ me ābādho pavaḍḍheyya, handāhaṃ vīriyaṃ ārabhāmi ... pe ... so vīriyaṃ ārabhati... idaṃ sattamaṃ ārambhavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị ấy nghĩ: "Ta nay bị đau bệnh nhẹ, sự kiện này có thể xảy ra, bệnh này có thể trầm trọng hơn.

Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn..." Và vị ấy tinh tấn...

Như vậy là tinh tấn sự thứ bảy.

(g) he has some slight indisposition... and he thinks: “This indisposition might get worse, so I’ll stir up energy...
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu gilānā vuṭṭhito hoti aciravuṭṭhito gelaññā. tassa evaṃ hoti — ‘ahaṃ kho gilānā vuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā, ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati yaṃ me ābādho paccudāvatteyya, handāhaṃ vīriyaṃ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā”ti! so vīriyaṃ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. idaṃ aṭṭhamaṃ ārambhavatthu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: "Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Sự kiện này có thể xảy ra, bệnh của ta có thể trở lại.

Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được".

Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, và chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được.

Ðó là tinh tấn sự thứ tám.

Or [258] (h) he is recuperating... and he thinks: ”... it might be that the illness will recur.

So I’ll stir up energy...” Thus he stirs up sufficient energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, to realise the unrealised.

♦ 336. “aṭṭha dānavatthūni. āsajja dānaṃ deti, bhayā dānaṃ deti, ‘adāsi me’ti dānaṃ deti, ‘dassati me’ti dānaṃ deti, ‘sāhu dānan’ti dānaṃ deti, ‘ahaṃ pacāmi, ime na pacanti, nārahāmi pacanto apacantānaṃ dānaṃ na dātun’ti dānaṃ deti, ‘idaṃ me dānaṃ dadato kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchatī’ti dānaṃ deti. cittālaṅkāra-cittaparikkhāratthaṃ dānaṃ deti.

vi) Tám bố thí sự:

Có người đến, nên bố thí.

Vì sợ, nên bố thí.

Vì "người ấy cho tôi", nên bố thí.

Vì "người ấy sẽ cho tôi", nên bố thí.

Vì suy nghĩ: "Bố thí là tốt lành", nên bố thí.

Vì suy nghĩ: "Ta nấu, họ không nấu. Thật không phải, nếu ta nấu mà không cho gì những người không nấu", nên bố thí.

Vì suy nghĩ: "Nay ta bố thí, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được truyền đi", nên bố thí.

Vì muốn trang nghiêm tâm và tư trợ tâm, nên bố thí.

(6) ‘Eight bases for giving:

One gives (a) as occasion offers (āsajja),

(b) from fear,

(c) thinking: “He gave me something”,

(d) thinking: “He will give me something”,

(e) thinking: “It is good to give”,

(f) thinking: “I am cooking something, they are not. It would not be right not to give something to those who are not cooking”,

(g) thinking: “If I make this gift I shall acquire a good reputation”,

(h) in order to adorn and prepare one’s heart. (1115)

♦ 337. “aṭṭha dānūpapattiyo. idhāvuso, ekacco dānaṃ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṃ pānaṃ vatthaṃ yānaṃ mālāgandhavilepanaṃ seyyāvasathapadīpeyyaṃ. so yaṃ deti taṃ paccāsīsati {paccāsiṃsati (sī. syā. kaṃ. pī.)}. so passati khattiyamahāsālaṃ vā brāhmaṇamahāsālaṃ vā gahapatimahāsālaṃ vā pañcahi kāmaguṇehi samappitaṃ samaṅgībhūtaṃ paricārayamānaṃ. tassa evaṃ hoti — ‘aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā khattiyamahāsālānaṃ vā brāhmaṇamahāsālānaṃ vā gahapatimahāsālānaṃ vā sahabyataṃ upapajjeyyan’ti! so taṃ cittaṃ dahati, taṃ cittaṃ adhiṭṭhāti, taṃ cittaṃ bhāveti, tassa taṃ cittaṃ hīne vimuttaṃ uttari abhāvitaṃ tatrūpapattiyā saṃvattati . tañca kho sīlavato vadāmi no dussīlassa. ijjhatāvuso, sīlavato cetopaṇidhi visuddhattā.

vii) Tám thí sanh:

Này các Hiền giả, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được bố thí trở lại.

Người này thấy người Sát đế lỵ có nhiều tài sản, người Ba la môn có nhiều tài sản, hay người gia chủ có nhiều tài sản, được sung mãn, cụ túc, thụ hưởng năm món dục lạc.

Vị này nghĩ: "Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh là một trong những người Sát đế lỵ có nhiều tài sản, người Bà la môn có nhiều tài sản hay người gia chủ có nhiều tài sản".

Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy.

Và tôi xác nhận, đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.

(7) ‘Eight kinds of rebirth due to generosity:

Here, someone gives an ascetic or Brahmin food, drink, clothes, transport (yānaṁ), garlands, perfumes and ointments, sleeping accommodation, a dwelling, or lights, and he hopes to receive a return for his gifts.

He sees a rich Khattiya or Brahmin or householder living in full enjoyment of the pleasures of the five senses,

and he thinks: “If only when I die I may be reborn as one of these rich people!”

He sets his heart on this thought, fixes it and develops it (bhāveti). (1116) And this thought, being launched (vimuttaṁ) at such a low level (hīne),and not developed to a higher level (uttarin abhāvitaṁ), leads to rebirth right there. [259]

But I say this of a moral person, not of an immoral one. The mental aspiration of a moral person is effective through its purity. (1117) Or

♦ “puna caparaṃ, āvuso, idhekacco dānaṃ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṃ pānaṃ ... pe ... seyyāvasathapadīpeyyaṃ. so yaṃ deti taṃ paccāsīsati. tassa sutaṃ hoti — ‘cātumahārājikā {cātummahārājikā (sī. syā. pī.)} devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā”ti. tassa evaṃ hoti — ‘aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā cātumahārājikānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyyan”ti! so taṃ cittaṃ dahati, taṃ cittaṃ adhiṭṭhāti, taṃ cittaṃ bhāveti, tassa taṃ cittaṃ hīne vimuttaṃ uttari abhāvitaṃ tatrūpapattiyā saṃvattati. tañca kho sīlavato vadāmi no dussīlassa. ijjhatāvuso, sīlavato cetopaṇidhi visuddhattā.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng.

Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: "Tứ Ðại Thiên vương thọ mạng lâu dài, đẹp trai và nhiều an lạc". Vị này nghĩ: "Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng Tứ Ðại Thiên vương".

Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy.

Và tôi xác nhận đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.

(b) he gives such gifts and, having heard that the devas in the realm of the Four Great Kings live long, are goodlooking and lead a happy life, he thinks: “If only I could be reborn there!”

Or he similarly aspires to rebirth in the heavens of

♦ “puna caparaṃ, āvuso, idhekacco dānaṃ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṃ pānaṃ ... pe ... seyyāvasathapadīpeyyaṃ. so yaṃ deti taṃ paccāsīsati. tassa sutaṃ hoti — ‘tāvatiṃsā devā ... pe ... yāmā devā ... pe ... tusitā devā ... pe ... nimmānaratī devā ... pe ... paranimmitavasavattī devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. tassa evaṃ hoti — ‘aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā paranimmitavasavattīnaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyyan”ti! so taṃ cittaṃ dahati, taṃ cittaṃ adhiṭṭhāti, taṃ cittaṃ bhāveti, tassa taṃ cittaṃ hīne vimuttaṃ uttari abhāvitaṃ tatrūpapattiyā saṃvattati. tañca kho sīlavato vadāmi no dussīlassa. ijjhatāvuso, sīlavato cetopaṇidhi visuddhattā.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại.

Vị này nghe: "Chư Thiên Tam thập tam thiên... chư Thiên Dạ ma... chư Thiên Ðâu suất... chư Thiên Hóa Lạc... chư Thiên Tha Hóa Tự tại được sống lâu, đẹp trai, được nhiều an lạc". Vị này nghĩ: "Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng chư Thiên Tha Hóa Tự tại".

Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy.

Và tôi xác nhận, đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.

(c) the Thirty-Three Gods, (d) the Yama devas, (e) the Tusita devas, (f) the Nimmanarati devas, (g) the Paranimmita-vasavatti devas. And this thought leads to rebirth right there ... The mental aspiration of a moral person is effective through its purity.
♦ “puna caparaṃ, āvuso, idhekacco dānaṃ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṃ pānaṃ vatthaṃ yānaṃ mālāgandhavilepanaṃ seyyāvasathapadīpeyyaṃ. so yaṃ deti taṃ paccāsīsati. tassa sutaṃ hoti — ‘brahmakāyikā devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. tassa evaṃ hoti — ‘aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā brahmakāyikānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyyan’ti! so taṃ cittaṃ dahati, taṃ cittaṃ adhiṭṭhāti, taṃ cittaṃ bhāveti, tassa taṃ cittaṃ hīne vimuttaṃ uttari abhāvitaṃ tatrūpapattiyā saṃvattati. tañca kho sīlavato vadāmi no dussīlassa; vītarāgassa no sarāgassa. ijjhatāvuso, sīlavato cetopaṇidhi vītarāgattā.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thì cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng.Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại.

Vị này nghe: "Chư Thiên Phạm Chúng thọ mạng lâu dài, đẹp trai và nhiều an lạc". Vị này nghĩ: "Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng Phạm Chúng thiên".

Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy.

Và tôi xác nhận đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.

Or (h) he similarly aspires to rebirth in the world of Brahmā ... But [260]

I say this of a moral person, not an immoral one, one freed from passion (vītarāgassa), not one still swayed by passion. (1118) The mental aspiration of [such] a moral person is effective through liberation from passion.

♦ “aṭṭha parisā -- khattiyaparisā, brāhmaṇaparisā, gahapatiparisā, samaṇaparisā, cātumahārājikaparisā, tāvatiṃsaparisā, māraparisā, brahmaparisā .

♦ “aṭṭha lokadhammā -- lābho ca, alābho ca, yaso ca, ayaso ca, nindā ca, pasaṃsā ca, sukhañca, dukkhañca.

viii) Tám chúng: Chúng Sát đế lỵ, chúng Bà la môn, chúng Gia chủ, chúng Sa môn, chúng Tứ Ðại Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng (Thiên) Ma, chúng Phạm thiên.

ix) Tám thế gian pháp: Ðắc, bất đắc, danh văn, ác văn, phỉ báng, tán thán, lạc, khổ.

(8) ‘Eight assemblies: the assembly of Khattiyas, Brahmins, householders, ascetics, devas of the Realm of the Four Great Kings, of the Thirty-Three Gods, of maras, of Brahmas (as Sutta 16, verse 3.21).

(9) ‘Eight worldly conditions (loka dhammā): gain and loss, fame and shame (yaso ca ayaso ca), blame and praise, happiness and misery.

♦ 338. “aṭṭha abhibhāyatanāni. ajjhattaṃ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṃsaññī hoti. idaṃ paṭhamaṃ abhibhāyatanaṃ.

x) Tám thắng xứ:

Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ nhất.

(10) ‘Eight stages of mastery:

(a) perceiving forms internally, one sees external forms, limited and beautiful or ugly;

♦ “ajjhattaṃ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti — evaṃsaññī hoti. idaṃ dutiyaṃ abhibhāyatanaṃ. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ hai. (b) (as (a) but) unlimited;
♦ “ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṃsaññī hoti. idaṃ tatiyaṃ abhibhāyatanaṃ. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ ba. (c) not perceiving forms internally, one sees external forms, limited...;
♦ “ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṃsaññī hoti. idaṃ catutthaṃ abhibhāyatanaṃ. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ tư. (d) (as (c) but) unlimited;
♦ “ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni. seyyathāpi nāma umāpupphaṃ nīlaṃ nīlavaṇṇaṃ nīlanidassanaṃ nīlanibhāsaṃ, seyyathā vā pana taṃ vatthaṃ bārāṇaseyyakaṃ ubhatobhāgavimaṭṭhaṃ nīlaṃ nīlavaṇṇaṃ nīlanidassanaṃ nīlanibhāsaṃ. evameva {evamevaṃ (ka.)} ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṃsaññī hoti. idaṃ pañcamaṃ abhibhāyatanaṃ.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh.

Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ năm.

not perceiving forms internally, one perceives forms that are (e) blue, [261]
♦ “ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni. seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṃ {kaṇṇikārapupphaṃ (syā. kaṃ.)} pītaṃ pītavaṇṇaṃ pītanidassanaṃ pītanibhāsaṃ, seyyathā vā pana taṃ vatthaṃ bārāṇaseyyakaṃ ubhatobhāgavimaṭṭhaṃ pītaṃ pītavaṇṇaṃ pītanidassanaṃ pītanibhāsaṃ. evameva ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṃsaññī hoti. idaṃ chaṭṭhaṃ abhibhāyatanaṃ.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như bông kanikàra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng.

Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ sáu.

(f) yellow,
♦ “ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni. seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṃ lohitakaṃ lohitakavaṇṇaṃ lohitakanidassanaṃ lohitakanibhāsaṃ, seyyathā vā pana taṃ vatthaṃ bārāṇaseyyakaṃ ubhatobhāgavimaṭṭhaṃ lohitakaṃ lohitakavaṇṇaṃ lohitakanidassanaṃ lohitakanibhāsaṃ. evameva ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṃsaññī hoti. idaṃ sattamaṃ abhibhāyatanaṃ.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như bông bandhujĩvaka màu đỏ - như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ.

Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ bảy.

(g) red,
♦ “ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni. seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā, seyyathā vā pana taṃ vatthaṃ bārāṇaseyyakaṃ ubhatobhāgavimaṭṭhaṃ odātaṃ odātavaṇṇaṃ odātanidassanaṃ odātanibhāsaṃ. evameva ajjhattaṃ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṃsaññī hoti. idaṃ aṭṭhamaṃ abhibhāyatanaṃ.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng - như sao mai osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng.

Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thứ rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ tám.

(h) white (as Sutta 16, verse 3.25-32).

♦ 339. “aṭṭha vimokkhā. rūpī rūpāni passati. ayaṃ paṭhamo vimokkho.

♦ “ajjhattaṃ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passati. ayaṃ dutiyo vimokkho.

♦ “subhanteva adhimutto hoti. ayaṃ tatiyo vimokkho.

xi) Tám giải thoát:

Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là giải thoát thứ nhất.

Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là giải thoát thứ hai.

Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là giải thoát thứ ba.

(11) ‘Eight liberations:

(a) possessing form, one sees forms;

(b) not perceiving material forms in oneself, one sees them outside;

(c) thinking: “It is beautiful”, one becomes intent on it; one enters

♦ “sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja viharati. ayaṃ catuttho vimokkho. Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư "Hư không là vô biên" chứng và trú Không vô biên xứ; đó là giải thoát thứ tư. (d) the Sphere of Infinite Space;
♦ “sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma ‘anantaṃ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharati. ayaṃ pañcamo vimokkho. Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư "Thức là vô biên" chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm. (e) ... the Sphere of Infinite Consciousness;
♦ “sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharati. ayaṃ chaṭṭho vimokkho. Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư "không có vật gì" chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là giải thoát thứ sáu. (f)... the Sphere of No-Thingness;
♦ “sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja viharati. ayaṃ sattamo vimokkho. Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy. (g) ... the Sphere of Neither-Perception-Nor-NonPerception;
♦ “sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṃ samatikkamma saññāvedayita nirodhaṃ upasampajja viharati. ayaṃ aṭṭhamo vimokkho. Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám. (h)... the Cessation of Perception and Feeling (as Sutta 15, verse 35). [262]
♦ “ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena aṭṭha dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

Này các Hiền giả, tám pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

“These are the [sets of] eight things...’
navakaṃ (DN 33) Chín Pháp  
♦ 340. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena nava dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katame nava?

2. Này các Hiền giả, có chín pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là chín?

3.2. ‘There are [sets of] nine things...
♦ “nava āghātavatthūni. ‘anatthaṃ me acarī’ti āghātaṃ bandhati; ‘anatthaṃ me caratī’ti āghātaṃ bandhati; ‘anatthaṃ me carissatī’ti āghātaṃ bandhati; ‘piyassa me manāpassa anatthaṃ acarī’ti āghātaṃ bandhati ... pe ... anatthaṃ caratīti āghātaṃ bandhati ... pe ... anatthaṃ carissatīti āghātaṃ bandhati; ‘appiyassa me amanāpassa atthaṃ acarī’ti āghātaṃ bandhati ... pe ... atthaṃ caratīti āghātaṃ bandhati ... pe ... atthaṃ carissatīti āghātaṃ bandhati.

i) Chín xung đột sự:

"Người ấy đã làm hại tôi", xung đột khởi lên. "Người ấy đang làm hại tôi", xung đột khởi lên. "Người ấy sẽ làm hại tôi", xung đột khởi lên.

"Người ấy đã làm hại người tôi thương, người tôi mến"... "người ấy đang làm hại... " ... "người ấy sẽ làm hại...", xung đột khởi lên.

"Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến"... "người ấy đang làm lợi..." ..." người ấy sẽ làm lợi...", xung đột khởi lên.

(1) ‘Nine causes of malice (āghāta-vatthūni):

Malice is stirred up by the thought: (a) “He has done me an injury”, (b) “He is doing me an injury”, (c) “He will do me an injury”,

(d)-(f) “He has done, is doing, will do an injury to someone who is dear and pleasant to me”,

(g)-(i) “he has done, is doing, will do a favour to someone who is hateful and unpleasant to me.”

♦ “nava āghātapaṭivinayā. ‘anatthaṃ me acari {acarīti (syā. ka.) evaṃ “carati carissati” padesupi}, taṃ kutettha labbhā’ti āghātaṃ paṭivineti; ‘anatthaṃ me carati, taṃ kutettha labbhā’ti āghātaṃ paṭivineti; ‘anatthaṃ me carissati, taṃ kutettha labbhā’ti āghātaṃ paṭivineti; ‘piyassa me manāpassa anatthaṃ acari ... pe ... anatthaṃ carati ... pe ... anatthaṃ carissati, taṃ kutettha labbhā’ti āghātaṃ paṭivineti; ‘appiyassa me amanāpassa atthaṃ acari ... pe ... atthaṃ carati ... pe ... atthaṃ carissati, taṃ kutettha labbhā’ti āghātaṃ paṭivineti.

ii) Chín sự điều phục xung đột:

"Người ấy đã làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?" Nhờ vậy xung đột được điều phục. "Người ấy đang làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?". Nhờ vậy xung đột được điều phục. "Người ấy sẽ làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?" Nhờ vậy, xung đột được điều phục.

"Người ấy đã làm hại người tôi thương...", ..." người ấy đang làm hại...", ..." người ấy sẽ làm hại người tôi thương, người tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?" Nhờ vậy xung đột được điều phục.

"Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến...", ..." người ấy đang làm lợi...", ..." người ấy sẽ làm lợi... Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?" Nhờ vậy xung đột được điều phục.

(2) ‘Nine ways of overcoming malice (āghāta-paṭivinayā):

Malice is overcome by the thought: (a)-(i) “He has done me an injury...” (as (1)). [263] “What good would it do [to harbour malice]?” 

♦ 341. “nava sattāvāsā. santāvuso, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. ayaṃ paṭhamo sattāvāso.

iii) Chín chỗ an trú của loài hữu tình:

Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở tại các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất.

(3) ‘Nine abodes of beings

(a) Beings different in body and different in perception,

♦ “santāvuso, sattā nānattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā. ayaṃ dutiyo sattāvāso. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, như Phạm Chúng thiên khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai. (b) beings different in body and alike in perception,
♦ “santāvuso, sattā ekattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi devā ābhassarā. ayaṃ tatiyo sattāvāso. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như chư Quang Âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba. (c) beings alike in body and different in perception,
♦ “santāvuso, sattā ekattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā subhakiṇhā. ayaṃ catuttho sattāvāso. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất như chư Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư. (d) beings alike in body and alike in perception,
♦ “santāvuso, sattā asaññino appaṭisaṃvedino, seyyathāpi devā asaññasattā {asaññisattā (syā. kaṃ.)}. ayaṃ pañcamo sattāvāso. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình không có tưởng, không có thọ, như chư Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm. (e) the Realm of Unconscious Beings,
♦ “santāvuso, sattā sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā. ayaṃ chaṭṭho sattāvāso. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các sân tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, chứng được Hư không vô biên xứ: "Hư không là vô biên". Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu. (f) the Realm of Neither-Perception-Nor-Non-Perception,
♦ “santāvuso, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma ‘anantaṃ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā. ayaṃ sattamo sattāvāso. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Thức vô biên xứ: "Thức là vô biên". Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy. (g) beings who have attained to the Sphere of Infinite Space,
♦ “santāvuso, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcāññāyatanūpagā. ayaṃ aṭṭhamo sattāvāso. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Vô sở hữu xứ: "Không có vật gì". Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám. (h) beings who have attained to the Sphere of Infinite Consciousness, 
♦ “santāvuso, sattā sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma {samatikkamma santametaṃ paṇītametanti (syā. kaṃ.)} nevasaññānāsaññāyatanūpagā. ayaṃ navamo sattāvāso. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín. (i) beings who have attained to the Sphere of NoThingness (as Sutta 15, verse 33).
♦ 342. “nava akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya. idhāvuso, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṃ sammāsambuddho, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. ayañca puggalo nirayaṃ upapanno hoti. ayaṃ paṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.

iv) Phạm hạnh trú, chín bất thời bất tiết:

Này các Hiền giả, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào địa ngục. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ nhất.

(4) ‘Nine unfortunate, inopportune times for leading the holy life (akkhaṇā asamayā brahmacariya-vāsāya): [264]

(a) A Tathāgata has been born in the world, Arahant, fullyenlightened Buddha, and the Dhamma is taught which leads to calm and perfect Nibbāna, which leads to enlightenment as taught by the Well-Farer, and this person is born in a hell-state (nirayam), (1119) ... 

♦ “puna caparaṃ, āvuso, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṃ sammāsambuddho, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. ayañca puggalo tiracchānayoniṃ upapanno hoti. ayaṃ dutiyo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya. Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào bàng sanh. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ hai. (b)... among the animals,
♦ “puna caparaṃ ... pe ... pettivisayaṃ upapanno hoti. ayaṃ tatiyo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya. ... sanh vào ngạ quỷ... bất thời bất tiết thứ ba. (c) ... among the petas,
♦ “puna caparaṃ ... pe ... asurakāyaṃ upapanno hoti. ayaṃ catuttho akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya. ...sanh vào hàng A tu la... bất thời bất tiết thứ tư. (d) ... among the asuras,
♦ “puna caparaṃ ... pe ... aññataraṃ dīghāyukaṃ devanikāyaṃ upapanno hoti. ayaṃ pañcamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya. ...sanh vào hàng chư Thiên được thọ mạng lâu dài... bất thời bất tiết thứ năm. (e) ... in a long-lived group of devas, (1120) or
♦ “puna caparaṃ ... pe ... paccantimesu janapadesu paccājāto hoti milakkhesu {milakkhakesu (syā. kaṃ.) milakkhūsu (ka.)} aviññātāresu, yattha natthi gati bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ. ayaṃ chaṭṭho akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya. ...sanh vào các biên địa, giữa các loài mọi rợ vô trí, những chỗ mà các hàng Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ không có đất đứng. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ sáu. (f) he is born in the border regions among foolish barbarians where there is no access for monks and nuns, or male and female lay-followers, or
♦ “puna caparaṃ ... pe ... majjhimesu janapadesu paccājāto hoti. so ca hoti micchādiṭṭhiko viparītadassano — ‘natthi dinnaṃ, natthi yiṭṭhaṃ, natthi hutaṃ, natthi sukatadukkaṭānaṃ {sukaṭa dukkaṭānaṃ (sī. pī.)} kammānaṃ phalaṃ vipāko, natthi ayaṃ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. ayaṃ sattamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.

Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị.

Và người ấy được sanh vào các trung quốc, nhưng lại theo tà kiến điên đảo: "Không có bố thí, không có cúng dường, không có cúng tế, không có quả báo các hành vi thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có các loài hóa sanh, không có các vị Sa môn, Bà la môn đã chứng đạt chơn chánh, đã thực thành chơn chánh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ thế giới này với thế giới sau và tuyên thuyết. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ bảy.

(g) he is born in the Middle Country, (1121) but he has wrong views and distorted vision, thinking: “There is no giving, offering or sacrificing, there is no fruit or result of good or bad deeds; there is not this world and the next world; [265] there are no parents and there is no spontaneous rebirth; there are no ascetics and Brahmins in the world who, having attained to the highest and realised for themselves the highest knowledge about this world and the next, proclaim it”; (1122) or
♦ “puna caparaṃ ... pe ... majjhimesu janapadesu paccājāto hoti. so ca hoti duppañño jaḷo eḷamūgo, nappaṭibalo subhāsitadubbhāsitānamatthamaññātuṃ. ayaṃ aṭṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.

Này các Hiền giả, lại nữa, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị.

Và người ấy sinh vào tại các nước trung quốc, nhưng ác tuệ, ngu si, điếc, ngọng, không biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ tám.

(h) ... he is born in the Middle Country but lacks wisdom and is stupid, or is deaf and dumb and cannot tell whether something has been well said or ill said; or else ...
♦ “puna caparaṃ, āvuso, tathāgato ca loke na {katthaci nakāro na dissati} uppanno hoti arahaṃ sammāsambuddho, dhammo ca na desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti paññavā ajaḷo aneḷamūgo, paṭibalo subhāsita-dubbhāsitānamatthamaññātuṃ. ayaṃ navamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya. Này các Hiền giả, lại nữa, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, nhưng Pháp không được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị, và người ấy sanh vào tại các nước trung quốc nhưng có trí tuệ, không ngu si, không điếc ngọng, biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ chín. (i) no Tathāgata has arisen ... and this person is born in the Middle Country and is intelligent, not stupid, and not deaf or dumb, and well able to tell whether something has been well said or ill said.
♦ 343. “nava anupubbavihārā. idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. vitakkavicārānaṃ vūpasamā ... pe ... dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. pītiyā ca virāgā ... pe ... tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. sukhassa ca pahānā ... pe ... catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā ... pe ... ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja viharati. sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma ‘anantaṃ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharati. sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharati. sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja viharati. sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṃ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṃ upasampajja viharati.

v) Chín thứ đệ trú:

Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Thiền thứ nhất, có tầm có tứ có hỷ lạc do ly dục sanh. Diệt tầm diệt tứ... Thiền thứ hai... Thiền thứ ba... chứng và trú vào Thiền thứ tư.

Sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi trừ diệt các hữu đối tưởng, không có tác ý với các sai biệt tưởng, chứng và trú Hư không vô biên xứ: "Hư không là vô biên".

Sau khi vượt qua Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Thức vô biên xứ: "Thức là vô biên".

Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Vô sở hữu xứ: "Không có sự vật gì tất cả".

Sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.

(5) ‘Nine successive abidings:

[the jhānas and

Spheres of Infinite Space,

Infinite Consciousness,

No-Thingness,

Neither-Perception-Nor-Non-Perception, and

Cessation of Perception and Feeling]. [266]

♦ 344. “nava anupubbanirodhā. paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa kāmasaññā niruddhā hoti. dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārā niruddhā honti. tatiyaṃ jhānaṃ samāpannassa pīti niruddhā hoti. catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa assāsapassāssā niruddhā honti. ākāsānañcāyatanaṃ samāpannassa rūpasaññā niruddhā hoti. viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā niruddhā hoti. ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā niruddhā hoti. nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā niruddhā hoti. saññāvedayitanirodhaṃ samāpannassa saññā ca vedanā ca niruddhā honti.

vi) Chín thứ đệ diệt:

Thành tựu Sơ thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt;

thành tựu đệ Nhị thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt;

thành tựu đệ Tam thiền, hỷ bị đoạn diệt;

thành tựu đệ Tứ thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt;

thành tựu Hư không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt;

thành tựu Thức vô biên xứ, Hư không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt;

thành tựu Vô hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt;

thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt;

thành tựu Diệt thọ tưởng (định), các tưởng và các thọ bị đoạn diệt.

(6) ‘Nine successive cessations (anupubba-nirodhā):

By the attainment of the first jhāna, perceptions of sensuality (kāmasaññā) cease;

by the attainment of the second jhāna, thinking and pondering cease;

by the attainment of the third jhāna, delight (pīti) ceases;

by the attainment of the fourth jhāna, in and out-breathing ceases; (1123)

by the attainment of the Sphere of Infinite Space, the perception of materiality ceases, by the attainment of the Sphere of Infinite Consciousness, the perception of the Sphere of Infinite Space ceases;

by the attainment of the Sphere of No Thingness, the perception of the Sphere of Infinite Consciousness ceases;

by the attainment of the Sphere of Neither PerceptionNor-Non-Perception, the perception of the Sphere of NoThingness ceases;

by the attainment of the Cessation-of Perception-andFeeling, perception and feeling cease.

♦ “ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena nava dhammā sammadakkhātā. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

Này các Hiền giả, chín pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

‘These are the [sets of] nine things...’
dasakaṃ (DN 33) Mười Pháp  
♦ 345. “atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dasa dhammā sammadakkhātā. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ ... pe ... atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. katame dasa?

3. Này Hiền giả, có mười pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là mười?

3.3. ‘There are [sets of] ten things perfectly proclaimed by the Lord...
♦ “dasa nāthakaraṇā dhammā. idhāvuso, bhikkhu sīlavā hoti. pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu. yaṃpāvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati, ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu. ayampi dhammo nāthakaraṇo.

i) Mười hộ trì nhân pháp:

Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

(1) ‘Ten things that give protection (nātha-karanadhammā): (1124)

Here a monk (a) is moral, he lives restrained according to the restraint of the discipline, persisting in right behaviour, seeing danger in the slightest fault, he keeps to the rules of training; [267] 

♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthā sabyañjanā {sātthaṃ sabyañjanaṃ (sī. syā. pī.)} kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti {dhatā (ka. sī. syā. kaṃ.)} dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, yaṃpāvuso, bhikkhu bahussuto hoti ... pe ... diṭṭhiyā suppaṭividdhā. ayampi dhammo nāthakaraṇo.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào, đa văn... khéo thành tựu nhờ chánh kiến, pháp như vậy là hộ trì nhân.

(b) he has learnt much, and bears in mind and retains what he has learnt. In these teachings, beautiful in the beginning, the middle and the ending, which in spirit and in letter proclaim the absolutely perfected and purified holy life, he is deeply learned, he remembers them, recites them, recites them, reflects on them and penetrates them with vision;
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. yaṃpāvuso, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. ayampi dhammo nāthakaraṇo. Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng, là hộ trì nhân. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào là thiện hữu, là thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng. Pháp như vậy là hộ trì nhân. (c) he is a friend, associate and intimate of good people;
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṃ. yaṃpāvuso, bhikkhu suvaco hoti ... pe ... padakkhiṇaggāhī anusāsaniṃ. ayampi dhammo nāthakaraṇo. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào thiện ngôn... nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Pháp như vậy là hộ trì nhân. (d) he is affable, endowed with gentleness and patience, quick to grasp instruction;
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṃ uccāvacāni kiṃkaraṇīyāni, tattha dakkho hoti analaso tatrupāyāya vīmaṃsāya samannāgato, alaṃ kātuṃ alaṃ saṃvidhātuṃ. yaṃpāvuso, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṃ ... pe ... alaṃ saṃvidhātuṃ. ayampi dhammo nāthakaraṇo. Này các Hiền giả, khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không có biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào, đối với các vị đồng phạm hạnh... vừa đủ để tổ chức. Pháp như vậy là hộ trì nhân. (e) whatever various jobs there are to be done for his fellow-monks, he is skilful, not lax, using foresight in carrying them out, and is good at doing and planning;
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu dhammakāmo hoti piyasamudāhāro, abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo {uḷārapāmujjo (sī. pī.), oḷārapāmojjo (syā. kaṃ.)}. yaṃpāvuso, bhikkhu dhammakāmo hoti ... pe ... uḷārapāmojjo {uḷārapāmujjo (sī. pī.), oḷārapāmojjo (syā. kaṃ.)}. ayampi dhammo nāthakaraṇo. Này các Hiền giả, lại nữa có vị Tỷ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào ưa Pháp... vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Pháp như vậy là hộ trì nhân. (f) he loves the Dhamma and delights in hearing it, he is especially fond of the advanced doctrine and discipline (abhidhamme abhivinaye); (1125) [268]
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarehi cīvarapiṇḍapātasenāsana-gilānappaccayabhesajjaparikkhārehi . yaṃpāvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti ... pe ... parikkhārehi. ayampi dhammo nāthakaraṇo. Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào tự bằng lòng... Pháp như vậy là hộ trì nhân. (g) he is content with any kind of requisites: robes, almsfood, lodging, medicines in case of illness;
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya kusalānaṃ dhammānaṃ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. yaṃpāvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati ... pe ... anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. ayampi dhammo nāthakaraṇo. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào sống tinh tấn siêng năng... nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân. (h) he ever strives to arouse energy, to get rid of unwholesome states, to establish wholesome states, untiringly and energetically striving to keep such good states and never shaking off the burden;
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā. yaṃpāvuso, bhikkhu satimā hoti ... pe ... saritā anussaritā. ayampi dhammo nāthakaraṇo. Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có chánh niệm, ghi nhớ những điều đã nói và làm từ lâu. Pháp như vậy là hộ trì nhân. (i) he is mindful, with a great capacity for clearly recalling things done and said long ago; (1126)
♦ “puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā. yaṃpāvuso, bhikkhu paññavā hoti ... pe ... sammādukkhakkhayagāminiyā. ayampi dhammo nāthakaraṇo. Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có huệ trí... chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Pháp như vậy là hộ trì nhân. (j) he is wise, with wise perception of arising and passing away, that Ariyan perception that leads to the complete destruction of suffering.
♦ 346. dasa kasiṇāyatanāni. pathavīkasiṇameko sañjānāti, uddhaṃ adho tiriyaṃ advayaṃ appamāṇaṃ. āpokasiṇameko sañjānāti ... pe ... tejokasiṇameko sañjānāti... vāyokasiṇameko sañjānāti... nīlakasiṇameko sañjānāti... pītakasiṇameko sañjānāti... lohitakasiṇameko sañjānāti... odātakasiṇameko sañjānāti... ākāsakasiṇameko sañjānāti... viññāṇakasiṇameko sañjānāti, uddhaṃ adho tiriyaṃ advayaṃ appamāṇaṃ.

ii) Mười biến xứ:

Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được thủy biến... Một vị biết được hỏa biến... Một vị biết được phong biến... Một vị biết được thanh biến... Một vị biết được hoàng biến... Một vị biết được xích biến... Một vị biết được bạch biến... Một vị biết được hư không biến... Một vị biết được thức biến, trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.

(2) ‘Ten objects for the attainment of absorption (kasiṇāyatanāni): (1127)

He perceives the Earth-Kasina, the Water-Kasina, the Fire-Kasina, the Wind-Kasina, the Blue Kasina, the Yellow Kasina, the Red Kasina, the White Kasina, the Space-Kasina, the Consciousness Kasina, (1128) above, below, on all sides, undivided, unbounded.

♦ 347. “dasa akusalakammapathā -- pāṇātipāto, adinnādānaṃ, kāmesumicchācāro, musāvādo, pisuṇā vācā, pharusā vācā, samphappalāpo, abhijjhā, byāpādo, micchādiṭṭhi.

♦ “dasa kusalakammapathā -- pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī, musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī, anabhijjhā, abyāpādo, sammādiṭṭhi.

iii) Mười bất thiện nghiệp đạo: Sát sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến.

iv) Mười thiện nghiệp đạo: Ly sát sanh, ly thâu đạo, lỳ tà dâm, ly vọng ngôn, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ, ly tham, ly sân, ly si.

[269] (3) ‘Ten unwholesome courses of action (akusalakammapathā): taking life, taking what is not given, sexual misconduct, lying speech, slander, rude speech, idle chatter, greed, malevolence, wrong view.

(4) ‘Ten wholesome courses of action: avoidance of taking life... (and so on, as (3) above).

♦ 348. “dasa ariyavāsā. idhāvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti, chaḷaṅgasamannāgato, ekārakkho, caturāpasseno, paṇunnapaccekasacco, samavayasaṭṭhesano, anāvilasaṅkappo, passaddhakāyasaṅkhāro, suvimuttacitto, suvimuttapañño.

v) Mười Thánh cư:

Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi, đầy đủ sáu chi, một hộ trì, thực hiện bốn y, loại bỏ các giáo điều, đoạn tận các mong cầu, tâm tư không trệ phược, thân thể khinh an, tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát.

(5) ‘Ten Ariyan dispositions (ariya-vāsā):

Here a monk (a) has got rid of five factors, (b) possesses six factors, (c) has established one guard, (d) observes the four supports, (e) has got rid of individual beliefs, (1129) (f) has quite abandoned quest, (g) is pure of motive, (h) has tranquillised his emotions, (1130) is well liberated (i) in heart, and (j) by wisdom.

♦ “kathañcāvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti? idhāvuso, bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṃ pahīnaṃ hoti, uddhaccakukuccaṃ pahīnaṃ hoti, vicikicchā pahīnā hoti. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti. Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ tham dục, đoạn trừ sân, đoạn trừ hôn trầm thụy miên, đoạn trừ trạo hối, đoạn trừ nghi. Này các hiền giả, như vậy là đoạn trừ năm chi. How has he got rid of five factors? Here, he has got rid of sensuality, ill-will, sloth-and-torpor, worry-and-flurry, and doubt;
♦ “kathañcāvuso, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti? idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. sotena saddaṃ sutvā ... pe ... manasā dhammaṃ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti. Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có thích ý, không có phật ý, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức pháp, không có thích ý, không có phật ý, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi. (b) what six factors does he possess? On seeing an object with the eye, hearing a sound..., smelling a smell..., tasting a flavour... , touching a tangible object..., or cognising a mental object with the mind, he is neither pleased nor displeased, but remains equable, mindful and clearly aware;
♦ “kathañcāvuso, bhikkhu ekārakkho hoti? idhāvuso, bhikkhu satārakkhena cetasā samannāgato hoti. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu ekārakkho hoti. Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo một hộ trì? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo thành tựu sự hộ trì về niệm. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo một hộ trì. (c) how has he established the one guard? By guarding his mind with mindfulness;
♦ “kathañcāvuso, bhikkhu caturāpasseno hoti? idhāvuso, bhikkhu saṅkhāyekaṃ paṭisevati, saṅkhāyekaṃ adhivāseti, saṅkhāyekaṃ parivajjeti, saṅkhāyekaṃ vinodeti. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu caturāpasseno hoti. Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo có thực hiện bốn y? Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo sau khi suy tư, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư, đoạn trừ một pháp; sau khi suy tư tránh xa một pháp. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo thực hiện bốn y. (d) what are the four supports? He judges that one thing is to be pursued, one thing endured, one thing avoided, one thing suppressed (as verse 1.11 (8));
♦ “kathañcāvuso, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti? idhāvuso, bhikkhuno yāni tāni puthusamaṇabrāhmaṇānaṃ puthupaccekasaccāni, sabbāni tāni nunnāni honti paṇunnāni cattāni vantāni muttāni pahīnāni paṭinissaṭṭhāni. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti. Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều? Này các Hiền giả, ở đây, tất cả những giáo điều thông thường mà các vị Sa môn thông thường chủ trương, vị Tỷ kheo đều loại bỏ, phóng xả. Này các Hiền giả, như vậy gọi là Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều. (e) how has he got rid of individual beliefs (panunnapacceka-sacco)? Whatever individual beliefs are held by the majority of ascetics and Brahmins he has dismissed, abandoned, rejected, let go;
♦ “kathañcāvuso, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti? idhāvuso, bhikkhuno kāmesanā pahīnā hoti, bhavesanā pahīnā hoti, brahmacariyesanā paṭippassaddhā. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti. Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các mong cầu về dục vọng, đoạn trừ các mong cầu về hiện hữu, làm cho an tịnh các mong cầu về phạm hạnh. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu. (f) how is he one who has quite abandoned quests? He has abandoned the quest for sense-desires, for rebirth, for the holy life; (1131)
♦ “kathañcāvuso, bhikkhu anāvilasaṅkappo hoti? idhāvuso, bhikkhuno kāmasaṅkappo pahīno hoti, byāpādasaṅkappo pahīno hoti, vihiṃsāsaṅkappo pahīno hoti. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu anāvilasaṅkappo hoti. Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các tâm tư dục vọng, đoạn trừ các tâm tư sân hận, đoạn trừ các tâm tư não hại. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược. (g) how is he pure of motive? He has abandoned thoughts of sensuality, ill-will, cruelty;
♦ “kathañcāvuso, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti ? idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti. Này các Hiền giả, thể nào là vị Tỷ kheo, thân hành được khinh an? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, diệt các hỷ ưu từ trước, chứng và an trú thiền thứ tư, không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ- kheo thân hành được khinh an. (h) how is he one who has tranquillised his emotions (passaddha-kaya-sankhāro hoti)? Because, having given up pleasure and pain with the disappearance of former gladness and sadness, he enters into a state beyond pleasure and pain which is purified by equanimity, and this is the fourth jhāna;
♦ “kathañcāvuso, bhikkhu suvimuttacitto hoti? idhāvuso, bhikkhuno rāgā cittaṃ vimuttaṃ hoti, dosā cittaṃ vimuttaṃ hoti, mohā cittaṃ vimuttaṃ hoti. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu suvimuttacitto hoti. Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ- kheo, tâm thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ- kheo tâm giải thoát khỏi tham, tâm giải thoát khỏi sân, tâm giải thoát khỏi si. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ kheo tâm thiện giải thoát. (i) how is he well emancipated in heart? He is liberated from the thought of greed, hatred and delusion;
♦ “kathañcāvuso, bhikkhu suvimuttapañño hoti? idhāvuso, bhikkhu ‘rāgo me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato āyatiṃ anuppādadhammo’ti pajānāti. ‘doso me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato āyatiṃ anuppādadhammo’ti pajānāti. ‘moho me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato āyatiṃ anuppādadhammo’ti pajānāti. evaṃ kho, āvuso, bhikkhu suvimuttapañño hoti.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát?

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ- kheo biết rằng: "Tham tâm của ta đã được trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai".

Vị ấy biết rằng: "Sân tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai".

Vị ấy biết rằng: "Si tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát.

(j) how is he well liberated by wisdom?

He understands: “For me greed, hatred and delusion are abandoned, cut off at the root, like a palm-tree stump, destroyed and incapable of growing again.” [271]

♦ “dasa asekkhā dhammā -- asekkhā sammādiṭṭhi, asekkho sammāsaṅkappo, asekkhā sammāvācā, asekkho sammākammanto, asekkho sammāājīvo, asekkho sammāvāyāmo, asekkhā sammāsati, asekkho sammāsamādhi, asekkhaṃ sammāñāṇaṃ, asekkhā sammāvimutti.

vi) Mười pháp vô học:

Vô học Chánh tri kiến, vô học Chánh tư duy, vô học Chánh ngữ, vô học Chánh nghiệp, vô học Chánh mạng, vô học Chánh tinh tấn, vô học Chánh niệm, vô học Chánh định, vô học Chánh trí, vô học Chánh giải thoát.

(6) ‘Ten qualities of the non-learner (asekha): (1132) The nonlearner’s right view, right thought; right speech, right action, right livelihood; right effort, right mindfulness, right concentration; right knowledge (sammā-n͂ āṇam), right liberation (sammā-vimutti).
♦ “ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dasa dhammā sammadakkhātā. tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṃ na vivaditabbaṃ, yathayidaṃ brahmacariyaṃ addhaniyaṃ assa ciraṭṭhitikaṃ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.

Này các Hiền giả, mười pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Ở đây, mọi người phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu dài, vì hạnh phúc cho mọi loài, vì an lạc cho mọi loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

‘These are the [sets of] ten things which have been perfectly set forth by the Lord who knows and sees, the fully-enlightened Buddha.

So we should all recite them together without disagreement, so that this holy life may be long-lasting and established for a long time to come, thus to be for the welfare and happiness of the multitude, out of compassion for the world, for the benefit, welfare and happiness of devas and humans.’

♦ 349. atha kho bhagavā uṭṭhahitvā āyasmantaṃ sāriputtaṃ āmantesi — ‘sādhu sādhu, sāriputta, sādhu kho tvaṃ, sāriputta, bhikkhūnaṃ saṅgītipariyāyaṃ abhāsī’ti. idamavocāyasmā sāriputto, samanuñño satthā ahosi. attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ abhinandunti.

♦ saṅgītisuttaṃ niṭṭhitaṃ dasamaṃ.

4. Rồi Thế Tôn ngồi dậy và bảo tôn giả Sàriputta:

- Lành thay, lành thay Sàriputta! Này Sàriputta, Ngươi đã khéo giảng, khéo tụng kinh này cho chúng Tỷ kheo.

Tôn giả Sàriputta thuyết giảng như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp thuận. Các vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của tôn giả Sàriputta.

3.4. And when the Lord had stood up, he said to the Venerable Sāriputta:

‘Good, good, Sāriputta! Well indeed have you proclaimed the way of chanting together for the monks!’

These things were said by the Venerable Sāriputta, and the Teacher confirmed them. The monks were delighted and rejoiced at the Venerable Sāriputta’s words.

 

Notes: The numbers in square brackets [ ] in the actual text refer to the page number of the Dīgha Nikāya of the Pali Text Society's edition in Pali.

 

(1012). This is undoubtedly a late Sutta. RD with characteristic caution says of this and DN 34: ‘They contain here and there matter which suggests that they took their present shape at a later date than the bulk of the rest of the Digha’. It is associated, like DN 29, with the time immediately following the death of the Nigaṇṭha Nātaputta, the Jain leader, and it is located ‘in the mango-grove of Cunda the smith’, known to us from DN 16.4.14ff. If we compare DN 29, we find that that discourse is addressed to ‘the novice Cunda’, who is quite a different character — but we may wonder whether the two have not become confused. Part of the inspiration of DN 34 may have come from the Buddha’s words at DN 29.17. Could the whole Sutta have been expanded from that nucleus? In any case the method of listing items in expanding numerical groups was used (whether earlier or later) on a large scale in the Anguttara Nikaya, and in fact quite a number of entries in the lists in this Sutta appear there too.

Such numerical listing has also been compared by different writers from RD onwards to the so-called ‘matrices’ (mātikā) of the Abhidhamma — partly with the implication that this type of presentation always represents a stratum considerably later than the Buddha’s time. In fact we do not know to what extent the Buddha himself resorted to the obvious pedagogic device of teaching ‘by numbers’. In any case, when such numerical lists were in existence, they readily lent themselves to expansion, and it is likely that the material of this Sutta dates from a variety of periods, and because some of it is obviously late, this does not mean that other parts are not early. There are in existence Tibetan and other versions. It should perhaps be stressed that, arid as this type of Sutta may appear to many today, it is from the monastic point of view valuable for use in chanting (its ostensible - and probably real — original object), incorporating as it does not only the major doctrinal categories in brief, but many points on behaviour and discipline which monks should constantly bear in mind. N.B. Since the lists in this and DN 34 consist largely of technical terms, the Pali words have been given wherever confusion or doubt seemed possible.

(1013). The lofty (‘Thrown-aloft-er’, RD).

(1014). Cf. n.441. The Mallas of Pāvā were, of course, closely related to those of Kusinārā.

(1015). Not ‘lovely is the night’ (an odd mistranslation of a stock phrase by RD).

(1016). The third of the five hindrances (below, 2.1 (6)).

(1017). As at DN 16.4.40.

(1018). As proposed at DN 29.17 (see n.1012).

(1019). Or really, like the parallel following groups, ‘(set of) one thing’.

(1020). This second ‘one thing’ is not found in all texts, or in the AN parallel passage, perhaps owing to a misunderstanding of ‘one thing’.

(1021). The link here with (8) seems to be simply a play on words: āpatti ‘offence’, and samāpatti ‘attainment’. Despite the divergence in meaning, the two verbs are from the same root.

(1022). These are the six senses (mind as the sixth), their objects and corresponding consciousnesses, e.g. ‘eye, sight-object, eye-consciousness’, as in MN 115. See BDic under Dhātu.

(1023). Note again the play on words: a useful mnemonic device.

(1024). ‘Purity of fraternal love’ is RD’s rather loose paraphrase of DA.

(1025). RD’s ‘absence of mind’ may just do for this, but ‘want of intelligence’ is quite wrong for asampajañña, which is quite simply failure to comply with the injunction at DN 22.4 (see n.646 there).

(1026). Bala: ‘power’ used here in an unusual sense.

(1027). These are the two basic forms from which stems all Buddhist meditation.

(1028). Ñāṇamoli′s rendering of this difficult word.

(1029). Or ‘thought’, as in the second step of the Noble Eightfold Path.

(1030). Here, the World of Sense-Desire (kāma-loka).

(1031). Note the overlap with the previous three, which represented the ‘Three Worlds’. Here we have the two ‘higher worlds’ and the supramundane (lokuttara), referred to here as ‘cessation’ (as in the Third Noble Truth).

(1032). Craving for continued existence.

(1033). Craving, not for ‘cessation’ (n.1031) but for (materialistic) extinction. Only those in whom the Dhammaeye (n.140) has opened can dearly see the vital distinction between these, though it can be more or less dimly intuited by reason and/or faith. See n.703.

(1034). Lit. 'own body', this is the erroneous self-idea. The destruction of this fetter (with two other associated ones) constitutes the opening of the Dhamma-eye (n.1033) or 'Stream-Entry'.

(1035). Certain crimes (as parricide, cf. ON 2.100) have a fixed result which cannot be avoided.

(1036). When the first path-moment (or Stream-Entry, n.1034) has been gained, progress is inevitable, and retrogression to 'states of woe' impossible.

(1037). RD reads kankhā 'doubts'.

(1038). Lit. 'somethings', glossed by DA as 'obstacles'.

(1039). I.e. religious teachers (cf. DN 31.29).

(1040). This refers to 'very subtle matter'.

(1041). 'They compound co-existent states and (their) future

fruition-states' (DA).

(1042). This refers to rebirth in the Formless World.

(1043). Cf. n-542.

(1044). The last receives the courtesy title of 'elder' from juniors without being strictly entitled to it.

(1045). These are all the realms from the hells up to the heaven of the Paranimmita-vasavatti devas. (See Introduction, p. 40).

(1046). These are all in the World of Form.

(1047). Ways in which one is 'guarded'.

(1048). The higher faculties of the Stream-Winner, etc.

(1049). Cf. n.140.

(1050). That of the Stream-Winner.

(1051). Kāya here means not (as RD) 'the psychophysiological mechanism of sense', but 'mental (i.e. broadly 'emotional') body'.

(1052). Different stages of jhāna. The distinction made between the first two seems to reflect the (later) Abhidhammic subdivision of the first jhāna into two.

(1053). Moneyya is derived from muni 'sage' (or 'anchorite', RD).

(1054) Note the play on words here: three derivatives of the root i 'to go'. Āya can also, in more mundane contexts, mean 'money-making' (as absurdly suggested for this passage in PED!). Apāya generally refers to 'states of woe' (evil rebirths), while upāya comes to mean 'skilful device', and as such is much used of the Bodhisattva in the Mahāyāna tradition.

(1055). The second refers to the Brahmavihāras (DN 13), the third to Arahantship.

(1056). Cf. DN 11.3 and nn.231-3.

(1057). This is just the uprising of any thought that occurs.

(1058). 'Bases of Conduct' (RD).

(1059). Telepathy.

(1060). Knowledge in terms of conventional truth. Cf. n.224.

(1061). Usually this means ordinary human food, but see n.1062.

(1062). This refers to the food of the devas, sometimes also called kabalinkāra (c£. n.74). See BOic under Āhāra.

(1063). This volition = kamma.

(1064). Chanda is the most general word for 'desire, intention': see BOic.

(1065). Cf. ON 1.1.17. OA's gloss here: 'oil, honey, ghee', etc., seems mysterious, and is not supported by the SubCommentary.

(1066). See ON 28.10.

(1067). By developing samādhi.

(1068). Dhamma-padāni. Formally this is the plural of Dhammapada, the title of perhaps the most famous Buddhist scripture, but it is glossed as 'divisions of the Ohamma'.

(1069). Omitting 'faith,. as the first of this group, normally of five.

(1070). Truth, i.e. realisation of 'things as they really are'.

(1071). Not 'to master self' (RO).

(1072). Kamma that leads to enlightenment, when no more kamma will be created.

(1073). 'Making present to the eye'.

(1074). Here sati is perhaps being used in its older, occasional sense of 'memory' rather than mindfulness: see n.629.

(1075). See n.140.

(1076). Factors present in the 'mental group' at any given moment.

(1077). See n.913.

(1078). Which tie mind (nāma) and body (rūpa) together. Gantha also means 'book' in the later language (see n.846).

(1079). Kāya here means nāma-kāya 'mental body'.

(1080). Yoniyo: 'wombs'. Further details are given in MN 12.

(1081). 'As from rotting fish, etc.' (MN 12).

(1082). Rebirth in the deva world (also as a Non-Returner).

(1083). A new 'self' in another existence. Cf. n.220.

(1084). See n.933.

(1085). Cf. n.823.

(1086). Like Upananda, whose conduct was not good, though he was still able to help others (OA).

(1087). These curious designations are supposed to refer to the Stream-Winner, Once-Returner, Non-Returner, and Arahant respectively.

(1088). Cf. n.244.

(1089). Cf. n.244-

(1090). Faults of begrudging in a monk.

(1091). Begrudging others the support of a particular family.

(1092). Realms inhabited by the Non-Returners, who attain to Nibbana directly from there.

(1093). The meaning of this name is perhaps 'not falling from prosperity' (see EB).

(1094). For these scholastic distinctions see BDic or EB.

(1095). See also MN 12.

(1096). This, though here used metaphorically, is the word for 'thirst' in the literal sense. Here it means something less strong than taṇhā.

(1097). Vimuccati, apparently meaning 'is liberated', but glossed by DA as adhimuccati, rendered by RD as 'choose'. The same verb is used in the next sentence with regard to renunciation. I have used 'make free' as a makeshift, free rendering, and suspect a textual corruption.

(1098). Rūpa here perhaps means 'thing seen'.

(1099). 'By the samādhi of the fruit of Arahantship' (DA). In this context, it is perhaps worth noting that in Buddhism, as opposed to some non-Buddhist usage, samādhi by itself never means 'liberation' or 'enlightenment' (see n.225).

(1100). 'Investigations linked with pleasure' (DA).

(1101). The meaning of sārāṇīyā dhamma is not quite certain. At DN 16.1.11, RN has 'conditions of welfare', which is a slip for the preceding aparihāniyā dhammā.

(1102). The four primary elements (n.7o) with the two additional ones sometimes found with them (as MN 140). For the first five in later Buddhism, cf. Lama Anagarika Govinda, Foundations of Tibetan Mysticism (London 1959), 183££.

(1103). Cf. VM 21.66.

(1104). A miscellaneous collection of 'unsurpassed' things, the last, for example, being the recollection (not 'memory', RD!) of Buddha, Dhamma and Sangha.

(1105). RD quaintly renders this 'chronic states'.

(1106). As if the entire Eightfold Path simply led up to Right Concentration! (cf. n.1099). See ON 18.27.

(1107). The ideal man (Buddha or Arahant).

(1108). Naturally in the relative sense: there would be no justification for reading any notion of a 'Great Self' into this (basically pronominal) usage! Note the characteristic play on words: attha, attā, mattā.

(1109). Reading niddasa. RD's 'bases of Arahantship' is pretty free.

(1110). Diṭṭhi-paṭivedhe. RD's 'intuition of the truth' does not quite hit this off.

(1111). Lit. 'going along with'.

(1112). These form the final part (rules 221-227) of the Patimokkha or code of discipline.

(1113). As n.1039.

(1114). RD has 'like a load of soaked beans', following DA, but the sense of 'pregnant' seems well established. Perhaps a case of prudishness on Buddhaghosa's part, echoed by Mrs Rhys Davids.

(1115). In practising (not 'studying': RD) for calm and insight. Giving (RD has 'forgiving' - a misprint for 'for giving'!) softens the heart in both donor and recipient. DA quotes the verse also found at VM 9·39:

A gift for taming the untamed,

A gift for every kind of good;

Through giving gifts they do unbend

And condescend to kindly speech. (Ñāṇamoli's
translation).

(1116). 'Expands' (RD). But this is the usual verb for 'developing' in meditation.

(1117). 'I.e. its being unmixed, single-minded' (RD). DA has no comment, but the idea of the power of such a 'pureminded' aspiration is very similar to that regarding the efficacy of a 'declaration of truth'.

(1118). Brahma to the Buddha is not immortal and is not a creator-god. His wisdom, though considerable, is limited, and he can be boastful (see ON 11!), but he is free from sensual passions, and so must those be who are reborn in his realm (though the passions may have only been suppressed by jhāna - which is cetovimutti 'liberation of the heart' - and not necessarily by insight, which is paññāvimutti 'liberation by wisdom': cf. nn.355, 868). But those who are reborn there have not, says the Sub-Commentary, got rid of the desire for continued existence (bhavataṇhā: n.1032).

(1119). As n.244.

(1120). I.e. rebirth among those devas whose lives are so long that they miss the chance of human rebirth at a propitious time. Cf. n.888.

(1121). The central, 'civilised' area of India (including the Gangetic basin) as opposed to other less favoured regions: cf. n.722.

(1122). The words of Ajita Kesakambali (ON 2.23).

(1123). I.e. becomes so subtle as to be imperceptible.

(1124). Dhammā here dearly means 'things, factors', not 'doctrines' (RD).

(1125). DA is doubtful whether abhidhamma here means 'the seven Pakaraṇas', i.e. the Abhidhamma Pitaka as we know it, or not. The short answer is that if this text goes back to the Buddha's time (which is possible but far from certain), the word abhidhamma can only have the more general sense of 'higher teaching' or the like. Similar considerations apply to abhivinaya.

(1126). Cf. n.1074.

(1127). Not 'objects for self-hypnosis' (RD). The jhānas differ from hypnotic trance in that one has full control and is not suggestible. I am indebted to Dr Nick Ribush for this valuable clarification (cf. n.211).

(1128). There is some confusion about the last two members of this list. Elsewhere we find āloka 'light' instead of consciousness (the latter is difficult to envisage as a kasiṇa).

See VM 5.26 and n.5 there.

(1129). Or 'sectarian opinions' (RD). Private aberrations of view.

(1130). Passaddha-kāya-sankhāro, where kāya means the mental body.

(1131). Cf. 1.10 (22). Getting involved in problems about 'self', etc.

(1132). Cf. n.542.

---oOo---

 

Nguồn (Source):
Vietnamese:
khemarama.net
Pāḷi - English:
 digitalpalireader.online

Những tập kinh khác:

DN 1: Brahmajāla – Kinh Phạm Võng – The All-embracing Net of Views

DN 2: Sāmannaphala sutta – Kinh Sa Môn Quả – The Fruits of the Contemplative Life

DN 3: Ambaṭṭhasuttaṃ – Kinh Ambaṭṭha (A-Ma-Trú) – A Young Brahman’s Rudeness And An Old One’s Faith

DN 4: Soṇadaṇḍasuttaṃ – Kinh Chủng Đức – The Qualities Of The True Brahman

DN 5: Kūṭadantasuttaṃ – Kinh Cứu La Đàn Đầu – About Kūṭadanta – A Bloodless Sacrifice

DN 6: Mahālisuttaṃ – Kinh Mahāli – About Mahāli

DN 7: Jāliyasuttaṃ – Kinh Jāliya – About Jāliya

DN 8: Mahāsīhanādasuttaṃ – Kinh Ca-diếp Sư tử hống – The Great Lion’s Roar (The Lion’s Roar to Kassapa)

DN 9: Poṭṭhapādasuttaṃ – Kinh Bố-Sá-Bà-Lâu – About Poṭṭhapāda (States of Consciousness)

DN 10: Subhasuttaṃ – Kinh Tu Ba – About Subha (Morality, Concentration, Wisdom)

DN 11: Kevaṭṭasuttaṃ – Kinh Kiên Cố – About Kevaddha (What Brahma Didn’t Know)

DN 12: Lohiccasuttaṃ – Kinh Lô Hi Gia – About Lohicca (Good and Bad Teachers)

DN 13: Tevijjasuttaṃ – Kinh Tam Minh – The Threefold Knowledge (The Way to Brahmā)

DN 14: Mahāpadānasuttaṃ – Kinh Đại Bổn – The Great Discourse on the Lineage

DN 15: Mahānidānasuttaṃ – Kinh Đại Duyên – The Great Discourse on Origination

DN 16: Mahāparinibbānasuttaṃ – Kinh Đại Bát-Niết-Bàn – The Great Passing (The Buddha’s Last Days)

DN 17: Mahāsudassanasuttaṃ – Kinh Ðại Thiện Kiến Vương – The Great Splendour (A King’s Renunciation)

DN 18: Janavasabhasuttaṃ – Kinh Xà-ni-sa – About Janavasabha (Brahmā Addresses the Gods)

DN 19: Mahāgovindasuttaṃ – Kinh Ðại Ðiển Tôn – The Great Steward (A Past Life of Gotama)

DN 20: Mahāsamayasuttaṃ – Kinh Đại Hội – The Mighty Gathering (Devas Come to See the Buddha)

DN 21: Sakkapañhasuttaṃ – Kinh Đế-Thích Sở Vấn – Sakka’s Questions (A God Consults the Buddha)

DN 22: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ – Kinh Đại Niệm Xứ – The Greater Discourse on the Foundations of Mindfulness

DN 23: Pāyāsisuttaṃ – Kinh Kệ-Túc – About Pāyāsi (Debate with a Sceptic)

DN 24: Pāthikasuttaṃ – Kinh Ba-lê – About Pāṭikaputta (The Charlatan)

DN 25: Udumbarikasuttaṃ – Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử Hống – The Great Lion’s Roar to the Udumbarikans

DN 26: Cakkavattisuttaṃ – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư tử Hống – The Lion’s Roar on the Turning of the Wheel

DN 27: Aggaññasuttaṃ – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn – On Knowledge of Beginnings

DN 28: Sampasādanīyasuttaṃ – Kinh Tự Hoan Hỷ – Serene Faith

DN 29: Pāsādikasuttaṃ – Kinh Thanh Tịnh – The Delightful Discourse

DN 30: Lakkhaṇasuttaṃ – Kinh Tướng – The Marks of a Great Man

DN 31: Siṅgālasuttaṃ – Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt – To Sigālaka (Advice to Lay People)

DN 32: Āṭānāṭiyasuttaṃ – Kinh A-sá-nang-chi – The Āṭānātā Protective Verses

DN 33: Saṅgītisuttaṃ – Kinh Phúng Tụng – The Chanting Together

DN 34: Dasuttarasuttaṃ – Kinh Thập Thượng – Expanding Decades

Những bộ Kinh khác :