DN 32: Āṭānāṭiyasuttaṃ – Kinh A-sá-nang-chi – The Āṭānātā Protective Verses

Saturday April 20, 2024

 

 

ĀṬĀNĀṬIYASUTTAṂ

KINH A-SÁ-NANG-CHI

(Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu)

THE ĀṬĀNĀTĀ PROTECTIVE VERSES

(English Translation from Pāli: Maurice Walshe)

paṭhamabhāṇavāro (DN 32)    
♦ 275. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. atha kho cattāro mahārājā {mahārājāno (ka.)} mahatiyā ca yakkhasenāya mahatiyā ca gandhabbasenāya mahatiyā ca kumbhaṇḍasenāya mahatiyā ca nāgasenāya catuddisaṃ rakkhaṃ ṭhapetvā catuddisaṃ gumbaṃ ṭhapetvā catuddisaṃ ovaraṇaṃ ṭhapetvā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ gijjhakūṭaṃ pabbataṃ obhāsetvā {gijjhakūṭaṃ obhāsetvā (sī. syā. pī.)} yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. tepi kho yakkhā appekacce bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce bhagavatā saddhiṃ sammodiṃsu, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce nāmagottaṃ sāvetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṃ nisīdiṃsu.

Như vậy tôi nghe.

1. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

Bốn Thiên vương sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương với đại quân Yakkha (Dạ-xoa), đại quân Gandhabba (Càn-thát-bà), đại quân Kumbhanda (Cưu-bàn-trà) và đại quân Nàga (Na-già), án ngữ bốn phương, bảo trì bốn phương, trong đêm tối thâm sâu, với hào quang tuyệt diệu chói sáng toàn thể núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

Các vị Dạ-xoa, có vị đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm, rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên tên họ rồi ngồi xuống một bên; có vị im lặng, rồi ngồi xuống một bên.

[194] 1. THUS HAVE I HEARD. (986) Once the Lord was staying at Rājagaha on Vultures’ Peak.

And the Four Great Kings, (987) with a great array of yakkhas, of gandhabbas, of Kumbhaṇḍas and of nagas, (988) having set up a guard, a defensive force, a watch over the four quarters, (989) as night was drawing to a close, went to see the Lord, lighting up the entire Vultures’ Peak with their radiance, saluted him and sat down to one side.

And some of the yakkhas saluted him and sat down to one side, some exchanged courtesies with him before sitting down, same saluted him with joined palms, some announced their name and clan, and some sat down in silence. (990)

♦ 276. ekamantaṃ nisinno kho vessavaṇo mahārājā bhagavantaṃ etadavoca — “santi hi, bhante, uḷārā yakkhā bhagavato appasannā. santi hi, bhante, uḷārā yakkhā bhagavato pasannā. santi hi, bhante, majjhimā yakkhā bhagavato appasannā. santi hi, bhante, majjhimā yakkhā bhagavato pasannā. santi hi, bhante, nīcā yakkhā bhagavato appasannā. santi hi, bhante, nīcā yakkhā bhagavato pasannā. yebhuyyena kho pana, bhante, yakkhā appasannāyeva bhagavato. taṃ kissa hetu? bhagavā hi, bhante, pāṇātipātā veramaṇiyā dhammaṃ deseti, adinnādānā veramaṇiyā dhammaṃ deseti, kāmesumicchācārā veramaṇiyā dhammaṃ deseti, musāvādā veramaṇiyā dhammaṃ deseti, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇiyā dhammaṃ deseti. yebhuyyena kho pana, bhante, yakkhā appaṭiviratāyeva pāṇātipātā, appaṭiviratā adinnādānā, appaṭiviratā kāmesumicchācārā, appaṭiviratā musāvādā, appaṭiviratā surāmerayamajjappamādaṭṭhānā . tesaṃ taṃ hoti appiyaṃ amanāpaṃ. santi hi, bhante, bhagavato sāvakā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni {manussarāhaseyyakāni (sī. syā. pī.)} paṭisallānasāruppāni. tattha santi uḷārā yakkhā nivāsino, ye imasmiṃ bhagavato pāvacane appasannā. tesaṃ pasādāya uggaṇhātu, bhante, bhagavā āṭānāṭiyaṃ rakkhaṃ bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ guttiyā rakkhāya avihiṃsāya phāsuvihārāyā”ti. adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.

2. Sau khi ngồi xuống một bên, đại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn có những thượng phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn,

Bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nhưng phần lớn các Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn.

Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp để từ bỏ sát sanh, thuyết pháp để từ bỏ trộm cắp, thuyết pháp để từ bỏ tà dâm, thuyết pháp để từ bỏ nói láo, thuyết pháp để từ bỏ không uống các loại rượu.

Bạch Thế Tôn, tuy vậy phần lớn các Dạ-xoa đều không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ trộm cắp, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ uống các loại rượu. Ðối với họ, Pháp ấy không được ưa thích, không được đón mừng.

Bạch Thế Tôn, có những đệ tử của Thế Tôn, sống trong chốn thâm sâu cùng cốc, ít tiếng, ít động, có gió mát từ ngoài đồng thổi, che dấu không cho người thấy, thích hợp tịnh tu.

Tại chỗ ấy, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng lời dạy Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, hãy học chú Atànàtiyarakkha (A-sá-nang-chi Hộ Kinh) để học được lòng tin, để các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ có thể sống an lạc, được che chở, được hộ trì không bị tại họa.

Thế Tôn im lặng chấp thuận.

2. Then sitting to one side, King Vessavana (991) said to the Lord:

‘Lord, there are some prominent yakkhas who have no faith in the Blessed Lord, and others who have faith;

and likewise [195] there are yakkhas of middle and lower rank who have no faith in the Blessed Lord, and others who have faith.

But, Lord, the majority of yakkhas have no faith in the Blessed Lord.

Why is this? The Blessed Lord teaches a code of refraining from taking life, from taking what is not given, from sexual misconduct, from lying speech, and from strong drink and sloth-producing drugs.

But the majority of the yakkhas do not refrain from these things, and to do so is distasteful and unpleasant to them.

Now, Lord, there are disciples of the Blessed Lord who dwell in remote forest glades, where there is little noise or shouting, far from the madding crowd, hidden from people, suitable for retreat.

And there are prominent yakkhas living there who have no faith in the word of the Blessed Lord.

In order to give these folk confidence, may the Blessed Lord leam (992) the Āṭānāṭā protective verses, by means of which monks and nuns, male and female lay-followers may dwell guarded, protected, unharmed and at their ease?’

And the Lord consented by silence.

♦ atha kho vessavaṇo mahārājā bhagavato adhivāsanaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ āṭānāṭiyaṃ rakkhaṃ abhāsi —

3. Rồi đại vương Vessavana, biết được Thế Tôn đã chấp thuận, trong giờ phút ấy, đọc lên bài Atànàtiya Hộ Kinh: 3. Then King Vessavana, noting the Lord’s consent, at once recited these Āṭānāṭā protective verses:

♦ 277. “vipassissa ca {ime cakārā porāṇapotthakesu natthi} namatthu, cakkhumantassa sirīmato.

♦ sikhissapi ca {ime cakārā porāṇapotthakesu natthi} namatthu, sabbabhūtānukampino.

♦ “vessabhussa ca {ime cakārā porāṇapotthakesu natthi} namatthu, nhātakassa tapassino.

♦ namatthu kakusandhassa, mārasenāpamaddino.

♦ “koṇāgamanassa namatthu, brāhmaṇassa vusīmato.

♦ kassapassa ca {ime cakārā porāṇapotthakesu natthi} namatthu, vippamuttassa sabbadhi.

♦ “aṅgīrasassa namatthu, sakyaputtassa sirīmato.

♦ yo imaṃ dhammaṃ desesi {dhammamadesesi (sī. syā. pī.), dhammaṃ deseti (?)}, sabbadukkhāpanūdanaṃ.

♦ “ye cāpi nibbutā loke, yathābhūtaṃ vipassisuṃ.

♦ te janā apisuṇātha {apisuṇā (sī. syā. pī.)}, mahantā vītasāradā.

♦ “hitaṃ devamanussānaṃ, yaṃ namassanti gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, mahantaṃ vītasāradaṃ.

Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),
Sáng suốt và huy hoàng!
Ðảnh lễ đấng Sikhi (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài!

Ðảnh lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),
Thanh tịnh, tu khổ hạnh!
Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),
Vị nhiếp phục ma quân!

Ðảnh lễ Konàgamana, (Câu-na-hàm)
Bà-la-môn viên mãn!
Ðảnh lễ kassapa (Ca-diếp),
Vị giải thoát muôn mặt!

Ðảnh lễ Angirasa,
Vị Thích tử huy hoàng,
Ðã thuyết chơn diệu pháp,
Diệt trừ mọi khổ đau!

Ai yểm ly thế giới,
Nhìn đời đúng như chơn,
Vị ấy không hai lưỡi,
Bậc vĩ đại thanh thoát.

Cùng đảnh lễ Gotama,
Lo an lạc Nhơn Thiên
Trì giới đức viên mãn!
Bậc vĩ đại thanh thoát!

‘Glory be to Vipassī, (993)

The splendid one of mighty vision.

Glory be to Sikhī too,

The compassionate to all.

Glory be to Vessabhū,

Bathed in pure asceticism. (994) [196]

To Kakusandha glory be,

Victor over Māra’s host.

To Konāgamana glory too,

Brahmin fully perfect he.

Glory be to Kassapa,

Liberated every way,

Glory to Angirasa,

To the Sakyas’ radiant son, (995)

Teacher of the Dhamma he

That overcomes all suffering.

And they who from this world are freed, (996)

Seeing to the heart of things,

They who are so mild of speech,

Mighty and of wisdom too,

To him who helps both gods and men,

To Gotama they offer praise:

In wisdom trained, in conduct too,

Mighty and resourceful too.

♦ 278. “yato uggacchati sūriyo {suriyo (sī. syā. pī.)}, ādicco maṇḍalī mahā.

♦ yassa cuggacchamānassa, saṃvarīpi nirujjhati.

♦ yassa cuggate sūriye, ‘divaso’ti pavuccati.

♦ “rahadopi tattha gambhīro, samuddo saritodako.

♦ evaṃ taṃ tattha jānanti, ‘samuddo saritodako’.

♦ “ito ‘sā purimā disā’, iti naṃ ācikkhatī jano.

♦ yaṃ disaṃ abhipāleti, mahārājā yasassi so.

♦ “gandhabbānaṃ adhipati {ādhipati (sī. syā. pī.) evamuparipi}, ‘dhataraṭṭho’ti nāmaso.

♦ ramatī naccagītehi, gandhabbehi purakkhato.

♦ “puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṃ.

♦ asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.

♦ te cāpi buddhaṃ disvāna, buddhaṃ ādiccabandhunaṃ.

♦ dūratova namassanti, mahantaṃ vītasāradaṃ.

♦ “namo te purisājañña, namo te purisuttama.

♦ kusalena samekkhasi, amanussāpi taṃ vandanti.

♦ sutaṃ netaṃ abhiṇhaso, tasmā evaṃ vademase.

♦ “‘jinaṃ vandatha gotamaṃ, jinaṃ vandāma gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, buddhaṃ vandāma gotamaṃ’.

4.

Mặt trời sáng mọc lên,
Vầng thái dương tròn lớn,
Khi mặt trời mọc lên,
Ðêm tối liền biến mất.

Khi mặt trời mọc lên
Liền được gọi là ngày.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu.

Ở đấy mọi người biết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy
Là phương Purimà, (phương Đông).

Vị trị vì phương ấy,
Bậc đại vương danh xưng,
Chư loài Càn-thát-bà,
Danh gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên vương).

Càn-thát-bà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,

"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc trí đức viên mãn".

4.

‘The point from where the sun comes up,

Aditya’s child, in mighty arc,

At whose arising shrouding night

Is dispelled and vanishes,

So that with the risen sun

There comes to be what folk call Day,

There too this moving watery mass,

The deep and mighty ocean swells,

This men know, and this they call

Ocean or The Swelling Sea. [197]

This quarter is the East, or First: (997)

That is how the people call it.

This quarter’s guarded by a king,

Mighty in power and fame is he,

Lord of all the gandhabbas.

Dhatarattha is his name,

Honoured by the gandhabbas.

Their songs and dances he enjoys.

He has many mighty sons,

Eighty, ten and one, they say,

And all with but a single name,

Called after Indra, lord of strength.

And when the Buddha greets their gaze,

Buddha, kinsman of the Sun,

From afar they offer homage

To the Lord of wisdom true:

“Hail, o man of noble race!

Hail to you, the first of men!

In kindness you have looked on us,

Who, though not human, honour you!

Often asked, do we revere

Gotama the Conqueror? —

We reply: ‘We do revere

Gotama, great Conqueror,

In wisdom trained, in conduct too,

Buddha Gotama we hail!’”

♦ 279. “yena petā pavuccanti, pisuṇā piṭṭhimaṃsikā.

♦ pāṇātipātino luddā {luddhā (pī. ka.)}, corā nekatikā janā.

♦ “ito ‘sā dakkhiṇā disā’, iti naṃ ācikkhatī jano.

♦ yaṃ disaṃ abhipāleti, mahārājā yasassi so.

♦ “kumbhaṇḍānaṃ adhipati, ‘virūḷho’ iti nāmaso.

♦ ramatī naccagītehi, kumbhaṇḍehi purakkhato.

♦ “puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṃ.

♦ asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.

♦ te cāpi buddhaṃ disvāna, buddhaṃ ādiccabandhunaṃ.

♦ dūratova namassanti, mahantaṃ vītasāradaṃ.

♦ “namo te purisājañña, namo te purisuttama.

♦ kusalena samekkhasi, amanussāpi taṃ vandanti.

♦ sutaṃ netaṃ abhiṇhaso, tasmā evaṃ vademase.

♦ “‘jinaṃ vandatha gotamaṃ, jinaṃ vandāma gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, buddhaṃ vandāma gotamaṃ’.

5.

Họ được gọi Peta,
Nói hai lưỡi, sau lưng,
Sát sanh và tham đắm,
Ðạo tặc và man trá,

Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Dakkhinà (phương Nam).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc đại vương, danh xưng,

Chủ loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)
Danh gọi Virùlhaka (Tỳ-lâu-lặc).
Kumbhanda hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.

Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc trí đức viên mãn".

5.

‘Where they whom men call petas (998) dwell,

Abusive speakers, slanderers,

Murderous and greedy folk,

Thieves and cunning tricksters all, [198]

This quarter is the South, they say:

That is how the people call it.

This quarter’s guarded by a king,

Mighty in power and fame is he,

Lord of all the Kumbhaṇḍas,

And Virūḷhaka is his name.

Honoured by the kumbhaṇḍas,

Their songs and dances he enjoys...

(continue as 4).

♦ 280. “yattha coggacchati sūriyo, ādicco maṇḍalī mahā.

♦ yassa coggacchamānassa, divasopi nirujjhati.

♦ yassa coggate sūriye, ‘saṃvarī’ti pavuccati.

♦ “rahadopi tattha gambhīro, samuddo saritodako.

♦ evaṃ taṃ tattha jānanti, ‘samuddo saritodako’.

♦ “ito ‘sā pacchimā disā’, iti naṃ ācikkhatī jano.

♦ yaṃ disaṃ abhipāleti, mahārājā yasassi so.

♦ “nāgānañca adhipati, ‘virūpakkho’ti nāmaso.

♦ ramatī naccagītehi, nāgeheva purakkhato.

♦ “puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṃ.

♦ asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.

♦ te cāpi buddhaṃ disvāna, buddhaṃ ādiccabandhunaṃ.

♦ dūratova namassanti, mahantaṃ vītasāradaṃ.

♦ “namo te purisājañña, namo te purisuttama.

♦ kusalena samekkhasi, amanussāpi taṃ vandanti.

♦ sutaṃ netaṃ abhiṇhaso, tasmā evaṃ vademase.

♦ “‘jinaṃ vandatha gotamaṃ, jinaṃ vandāma gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, buddhaṃ vandāma gotamaṃ’.

6.

Mặt trời sáng lặn xuống,
Vầng thái dương trong lớn.
Khi mặt trời lặn xuống.
Ban ngày liền biến mất.

Khi mặt trời lặn xuống,
Liền được gọi là đêm.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu,

Ở đây mọi người hết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Pacchimà (phương Tây).

Vị trị vì phương ấy,
Bậc đại vương, danh xưng.
Chủ các loài Nàgà,
Danh Virùpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).

Loài Nàgà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,

Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc trí đức viên mãn".

6.

‘The point at which the sun goes down,

Aditya’s child, in mighty arc,

With whose setting day is done

And night, The Shrouder, as men say,

Comes again in daylight’s place,

There too this moving watery mass,

The deep and mighty ocean swells,

This they know, and this men call

Ocean, or The Swelling Sea.

This quarter is the West, or Last: (999)

Such is how the people call it. [199]

This quarter’s guarded by a king,

Mighty in power and fame is he,

Lord of all the naga folk,

And Virūpakkha’s his name.

Honoured by the nāga folk,

Their songs and dances he enjoys...

(continue as 4).

♦ 281. “yena uttarakuruvho {uttarakurū rammā (sī. syā. pī.)}, mahāneru sudassano.

♦ manussā tattha jāyanti, amamā apariggahā.

♦ “na te bījaṃ pavapanti, napi nīyanti naṅgalā.

♦ akaṭṭhapākimaṃ sāliṃ, paribhuñjanti mānusā.

♦ “akaṇaṃ athusaṃ suddhaṃ, sugandhaṃ taṇḍulapphalaṃ.

♦ tuṇḍikīre pacitvāna, tato bhuñjanti bhojanaṃ.

♦ “gāviṃ ekakhuraṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ pasuṃ ekakhuraṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ “itthiṃ vā vāhanaṃ {itthī-vāhanaṃ (sī. pī.), itthīṃ vāhanaṃ (syā.)} katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ purisaṃ vāhanaṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ “kumāriṃ vāhanaṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ kumāraṃ vāhanaṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ “te yāne abhiruhitvā,

♦ sabbā disā anupariyāyanti {anupariyanti (syā.)}.

♦ pacārā tassa rājino.

♦ “hatthiyānaṃ assayānaṃ, dibbaṃ yānaṃ upaṭṭhitaṃ.

♦ pāsādā sivikā ceva, mahārājassa yasassino.

♦ “tassa ca nagarā ahu,

♦ antalikkhe sumāpitā.

♦ āṭānāṭā kusināṭā parakusināṭā,

♦ nāṭasuriyā {nāṭapuriyā (sī. pī.), nāṭapariyā (syā.)} parakusiṭanāṭā.

♦ “uttarena kasivanto {kapivanto (sī. syā. pī)},

♦ janoghamaparena ca.

♦ navanavutiyo ambarāmbaravatiyo,

♦ āḷakamandā nāma rājadhānī.

♦ “kuverassa kho pana, mārisa, mahārājassa visāṇā nāma rājadhānī.

♦ tasmā kuvero mahārājā, ‘vessavaṇo’ti pavuccati.

♦ “paccesanto pakāsenti, tatolā tattalā tatotalā.

♦ ojasi tejasi tatojasī, sūro rājā ariṭṭho nemi.

♦ “rahadopi tattha dharaṇī nāma, yato meghā pavassanti.

♦ vassā yato patāyanti, sabhāpi tattha sālavatī {bhagalavatī (sī. syā. pī.)} nāma.

♦ “yattha yakkhā payirupāsanti, tattha niccaphalā rukkhā.

♦ nānā dijagaṇā yutā, mayūrakoñcābhirudā.

♦ kokilādīhi vagguhi.

♦ “jīvañjīvakasaddettha, atho oṭṭhavacittakā.

♦ kukkuṭakā {kukutthakā (sī. pī.)} kuḷīrakā, vane pokkharasātakā.

♦ “sukasāḷikasaddettha, daṇḍamāṇavakāni ca.

♦ sobhati sabbakālaṃ sā, kuveranaḷinī sadā.

♦ “ito ‘sā uttarā disā’, iti naṃ ācikkhatī jano.

♦ yaṃ disaṃ abhipāleti, mahārājā yasassi so.

♦ “yakkhānañca adhipati, ‘kuvero’ iti nāmaso.

♦ ramatī naccagītehi, yakkheheva purakkhato.

♦ “puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṃ.

♦ asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.

♦ “te cāpi buddhaṃ disvāna, buddhaṃ ādiccabandhunaṃ.

♦ dūratova namassanti, mahantaṃ vītasāradaṃ.

♦ “namo te purisājañña, namo te purisuttama.

♦ kusalena samekkhasi, amanussāpi taṃ vandanti.

♦ sutaṃ netaṃ abhiṇhaso, tasmā evaṃ vademase.

♦ “‘jinaṃ vandatha gotamaṃ, jinaṃ vandāma gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, buddhaṃ vandāma gotaman’”ti.

7.

Bắc Lô Châu (Uttarakurù) an lạc
Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.
Tại đấy, mọi người sống
Không sở hữu, chấp trước.

Họ không gieo hột giống,
Không cần phải kéo cày.
Loài người được thọ hưởng
Lúa chín khỏi nhọc công.

Loại gạo không cám trấu,
Thanh tịnh có hương thơm,
Ðược nấu chín trên đá,
Và họ ăn gạo ấy.

Chỉ cỡi loài bò cái,
Ði phương này phương khác.
Chỉ dùng các loài thú
Ði phương này phương khác.

Dùng xe đàn bà kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn ông kéo,
Ði phương này phương khác.

Dùng xe con gái kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con trai kéo,
Ði phương này phương khác.

Họ lên trên các xe,
Ði khắp mọi phương hướng,
Ðể phục vụ vua mình.
Họ cỡi xe voi kéo,
Xe ngựa, xe chư Thiên,

Ðối với vua danh xưng,
Có lâu đài, có kiệu,
Nhiều thành phố của vua,
Ðược xây giữa hư không.

Các thành Atànàtà,
Kusinàtà, Parakusinàtà, Nàttapuriyà, Parakusitannàtà
Kapìvanta thuộc phía Bắc,
Và các thành phố khác,
Như Janogha, Navanavatiya,
Ambara, Ambaravatiya,
Alakamandà,
Là kinh đô của vua,
Chỗ Kuvera ở.

Vị vua đáng kính này,
Kinh đô tên Visànà.
Do vậy Kuvera,
Ðược danh Vessavana.

Các sứ quán được tên:
Tatolà, Tattalà, Tatotalà,
Ojasi, Tejasi, Tatojasi,
Vua Sùra, Arittha, Nemi.

Ðây có vùng nước lớn,
Từ đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanì.

Tại đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanì.
Tại đây có giảng đường,
Tên Bhagalavati,
Chỗ Dạ-xoa tập hội.

Tại đây nhiều cây trái,
Trên cây chim tụ họp,
Các loại công, loại cò,
Diệu âm chim Kokilà,

Ở đây, chim Jiva,
Kêu tiếng "Hãy sống đi",
Và tiếng chim kêu lên,
"Hãy khởi tâm thích thú".

Nhiều loại chim sai khác,
Ở rừng và ở hồ,
Với con vẹt ồn ào,
Và con chim Mynah,

Các loại chim thần thoại,
Gọi là Dandamànavakà.

Hồ sen Kuvera,
Chiếu sáng tất cả trời,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Uttarà (phương Bắc).

Vị trị vì phương ấy,
Bậc đại vương danh xưng,
Chủ các loài Dạ-xoa,
Ðược gọi Kuvera.

Các Dạ-xoa hầu quanh,
Hưởng múa hát của chúng.

Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc trí đức viên mãn".

7.

‘Where lovely Northern Kuru lies,

Under mighty Neru fair,

There men dwell, a happy race, (1000)

Possessionless, not owning wives. (1001)

They have no need to scatter seed,

They have no need to draw the plough:

Of itself the ripened crop

Presents itself for men to eat.

Free from powder and from husk,

Sweet of scent, the finest rice, [200]

Boiling on hot oven-stones, (1002)

Such the food that they enjoy.

The ox their single-seated mount, (1003)

Thus they ride about the land.

Using women as a mount,

Thus they ride about the land; (1004)

Using men to serve as mount,

Thus they ride about the land;

Using maidens as a mount,

Thus they ride about the land;

Using boys to serve as mount,

Thus they ride about the land.

And so, carried by such mounts,

All the region they traverse

In the service of their king.

Elephants they ride, and horses too,

Cars fit for gods they have as well.

Splendid palanquins are there

For the royal retinue.

Cities too they have, well-built,

Soaring up into the skies:

Āṭānāṭā, Kusināṭā,

Parakusināṭā,

Nāṭapuriya is theirs,

And Parakusitanāṭā. [201]

Kapīvanta′s to the north,

Janogha, other cities too,

Navanavatiya, Ambara-

Ambaravatiya, (1005)

Āḷakamandā, city royal,

But where Kuvera dwells, their lord

Is called Visāṇā, whence the king

Bears the name Vessavana. (1006)

Those who bear his missions are

Tatolā, Tattalā,

Tototalā, then

Tejasi, Tatojasi,

Sura, Rājā, Arittha, Nemi.

There’s the mighty water Dharani,

Source of rain-clouds which pour down

When the rainy season comes.

Bhagalavati’s there, the hall

That is the yakkhas’ meeting-place,

Round it ever-fruiting trees

Full of many kinds of birds,

Where peacocks scream and herons cry,

And the cuckoo gently calls.

The jīva-bird who cries: “Live on!” (1007)

And he that sings: “Lift up your hearts!” (1008) [202]

The pheasant-cock, kulīraka, (1009)

The forest-crane, the rice-bird too,

And mynah-birds that mimic man,

And those whose name is “men on stilts”.

And there for ever beauteous lies

Fair Kuvera’s lotus-lake.

This quarter is the North, they say:

That is how the people call it.

This quarter’s guarded by a king,

Mighty in power and fame is he,

Lord of all the yakkha folk,

And Kuvera is his name.

Honoured by the yakkha folk,

Their songs and dances he enjoys.

He has many mighty sons,

Eighty, ten and one, they say,

And all with but a single name,

Called after Indra, lord of strength.

And when the Buddha greets their gaze,

Buddha, kinsman of the Sun,

From afar they offer homage

To the Lord of wisdom true:

“Hail, o man of noble race!

Hail to you, the first of men!

In kindness you have looked on us,

Who, though not human, honour you!

Often asked, do we revere

Gotama the Conqueror?—

We reply: ‘We do revere

Gotama, great Conqueror,

In wisdom trained, in conduct too,

Buddha Gotama we hail!’” [203]

♦ “ayaṃ kho sā, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ guttiyā rakkhāya avihiṃsāya phāsuvihārāya.

8. Tôn giả, Hộ Kinh Atànàtiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.

8. ‘These, sir, are the Āṭānāṭā protective verses, by means of which monks and nuns, male and female lay-followers may dwell guarded, protected, unharmed and at ease.
♦ 282. “yassa kassaci, mārisa, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā upāsakassa vā upāsikāya vā ayaṃ āṭānāṭiyā rakkhā suggahitā bhavissati samattā pariyāputā {pariyāpuṭā (ka.)}. taṃ ce amanusso yakkho vā yakkhinī vā yakkhapotako vā yakkhapotikā vā yakkhamahāmatto vā yakkhapārisajjo vā yakkhapacāro vā, gandhabbo vā gandhabbī vā gandhabbapotako vā gandhabbapotikā vā gandhabbamahāmatto vā gandhabbapārisajjo vā gandhabbapacāro vā, kumbhaṇḍo vā kumbhaṇḍī vā kumbhaṇḍapotako vā kumbhaṇḍapotikā vā kumbhaṇḍamahāmatto vā kumbhaṇḍapārisajjo vā kumbhaṇḍapacāro vā, nāgo vā nāgī vā nāgapotako vā nāgapotikā vā nāgamahāmatto vā nāgapārisajjo vā nāgapacāro vā, paduṭṭhacitto bhikkhuṃ vā bhikkhuniṃ vā upāsakaṃ vā upāsikaṃ vā gacchantaṃ vā anugaccheyya, ṭhitaṃ vā upatiṭṭheyya, nisinnaṃ vā upanisīdeyya, nipannaṃ vā upanipajjeyya. na me so, mārisa, amanusso labheyya gāmesu vā nigamesu vā sakkāraṃ vā garukāraṃ vā. na me so, mārisa, amanusso labheyya āḷakamandāya nāma rājadhāniyā vatthuṃ vā vāsaṃ vā. na me so, mārisa, amanusso labheyya yakkhānaṃ samitiṃ gantuṃ. apissu naṃ, mārisa, amanussā anāvayhampi naṃ kareyyuṃ avivayhaṃ. apissu naṃ, mārisa, amanussā attāhipi paripuṇṇāhi paribhāsāhi paribhāseyyuṃ. apissu naṃ, mārisa, amanussā rittaṃpissa pattaṃ sīse nikkujjeyyuṃ. apissu naṃ, mārisa, amanussā sattadhāpissa muddhaṃ phāleyyuṃ.

Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atanatiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nàga...

đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả, vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng.

Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi.

Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.

If any monk or nun, male or female lay follower learns these verses well and has them off by heart, then if any nonhuman being, male or female yakkha or yakkha-offspring, or a chief attendant or servant of the yakkhas, any male or female gandhabba, ... Kumbhaṇḍa, ... nāga,...

should approach that person with hostile intent while he or she is walking or starting to walk, standing or rising to stand, seated or sitting down, lying down or starting to lie down, that non-human being would not gain any honour or respect in village or town.

Such a being would not gain a footing or a lodging in my royal city of Alakamanda, he would not be admitted to the yakkhas’ assembly, nor would he be acceptable for taking or giving in marriage.

And all the non-human beings, full of rage, would overwhelm him with abuse. Then they would bend down his head like an empty bowl, and they would split his skull into seven pieces. (1010)

♦ “santi hi, mārisa, amanussā caṇḍā ruddhā {ruddā (sī. pī.)} rabhasā, te neva mahārājānaṃ ādiyanti, na mahārājānaṃ purisakānaṃ ādiyanti, na mahārājānaṃ purisakānaṃ purisakānaṃ ādiyanti. te kho te, mārisa, amanussā mahārājānaṃ avaruddhā nāma vuccanti. seyyathāpi, mārisa, rañño māgadhassa vijite mahācorā. te neva rañño māgadhassa ādiyanti, na rañño māgadhassa purisakānaṃ ādiyanti, na rañño māgadhassa purisakānaṃ purisakānaṃ ādiyanti. te kho te, mārisa, mahācorā rañño māgadhassa avaruddhā nāma vuccanti. evameva kho, mārisa, santi amanussā caṇḍā ruddhā rabhasā, te neva mahārājānaṃ ādiyanti, na mahārājānaṃ purisakānaṃ ādiyanti, na mahārājānaṃ purisakānaṃ purisakānaṃ ādiyanti. te kho te, mārisa, amanussā mahārājānaṃ avaruddhā nāma vuccanti. yo hi koci, mārisa, amanusso yakkho vā yakkhinī vā ... pe ... gandhabbo vā gandhabbī vā ... kumbhaṇḍo vā kumbhaṇḍī vā... nāgo vā nāgī vā nāgapotako vā nāgapotikā vā nāgamahāmatto vā nāgapārisajjo vā nāgapacāro vā paduṭṭhacitto bhikkhuṃ vā bhikkhuniṃ vā upāsakaṃ vā upāsikaṃ vā gacchantaṃ vā anugaccheyya, ṭhitaṃ vā upatiṭṭheyya, nisinnaṃ vā upanisīdeyya, nipannaṃ vā upanipajjeyya. imesaṃ yakkhānaṃ mahāyakkhānaṃ senāpatīnaṃ mahāsenāpatīnaṃ ujjhāpetabbaṃ vikkanditabbaṃ viravitabbaṃ — ‘ayaṃ yakkho gaṇhāti, ayaṃ yakkho āvisati, ayaṃ yakkho heṭheti, ayaṃ yakkho viheṭheti, ayaṃ yakkho hiṃsati, ayaṃ yakkho vihiṃsati, ayaṃ yakkho na muñcatī’ti.

9. Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị đại vương.

Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc đại vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị đại vương.

Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha - cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị đại vương.

Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc đại vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác,

vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".

9. ‘There are, sir, some non-human beings who are fierce, wild and terrible. They heed neither the Great Kings, nor their officers, nor their attendants.

They are said to be [204] in revolt against the Great Kings. Just as the bandit-chiefs whom the King of Magadha has overcome do not heed him, or his officers, or their attendants, so too do they behave.

Now if any yakkha or yakkha-offspring, ... gandhabba, ... should approach any monk, nun, male or female layfollower... with hostile intent,

that person should alarm, call out and shout to those yakkhas, the great yakkhas, their commanders and commanders-in-chief, saying: “This yakkha has seized me, has hurt me, harmed me, injured me, and will not let me go!”

♦ 283. “katamesaṃ yakkhānaṃ mahāyakkhānaṃ senāpatīnaṃ mahāsenāpatīnaṃ?

♦ “indo somo varuṇo ca, bhāradvājo pajāpati.

♦ candano kāmaseṭṭho ca, kinnughaṇḍu nighaṇḍu ca.

♦ “panādo opamañño ca, devasūto ca mātali.

♦ cittaseno ca gandhabbo, naḷo rājā janesabho {janosabho (syā.)}.

♦ “sātāgiro hemavato, puṇṇako karatiyo guḷo.

♦ sivako mucalindo ca, vessāmitto yugandharo.

♦ “gopālo supparodho ca {suppagedho ca (sī. syā. pī.)}, hiri netti {hirī nettī (sī. pī.)} ca mandiyo.

♦ pañcālacaṇḍo āḷavako, pajjunno sumano sumukho.

♦ dadhimukho maṇi māṇivaro {maṇi mānicaro (syā. pī.)} dīgho, atho serīsako saha.

10. Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sự, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:

Inda, Soma, và Varuna,
Bhàradvaja, Pajàpati,
Candana, Kàmasettha,
Kinnughandu, Nighandu,
Panàda và Opamanna,
Devanita và Màtali,
Cittasena và Gandhabba.
Vua Nala, Janesabha,
Sàtàgira Hemavata,
Punnuaka, Karatiya, Gula,
Sivakat và Mucalinda
Vessàmitta, Yugandhara,
Gopàla và Suppagedha,
Hirì, Settì và Mandiya,
Pancàla Canda, Alavaka,
Pajjunna, Sumana, Sumukha,
Dadhimukha Mani Mànicara, Dìgha,
Atha và Serissaka.

10. ‘Which are the yakkhas, the great yakkhas, their commanders and commanders-in-chief? They are:

Indra, Soma, Varuna,

Bharadvaja, Pajapati,

Candana, Kamasettha,

Kinnughaṇḍu and Nighandu,

Panāda, Opamañña,

Devasuta, Matali,

Cittasena the gandhabba,

Nala, Raja, Janesabha,

Sātāgira, Hemavata,

Punnaka, Karatiya, Gula, [205]

Sivaka, Mucalinda too,

Vessāmitta, Yugandhara,

Gopāla, Suppagedha too,

Hiri, Netti and Mandiya,

Pañcālacaṇḍa, Alavaka,

Pajunna, Sumana, Sumukha,

Dadimukha, Mani too,Then Mānicara, Digha,

And, finally, Serissaka. (1011)

♦ “imesaṃ yakkhānaṃ mahāyakkhānaṃ senāpatīnaṃ mahāsenāpatīnaṃ ujjhāpetabbaṃ vikkanditabbaṃ viravitabbaṃ — ‘ayaṃ yakkho gaṇhāti, ayaṃ yakkho āvisati, ayaṃ yakkho heṭheti, ayaṃ yakkho viheṭheti, ayaṃ yakkho hiṃsati, ayaṃ yakkho vihiṃsati, ayaṃ yakkho na muñcatī’ti. Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra". These are the yakkhas, great yakkhas, their commanders and commanders-in-chief who should be called upon in case of such an attack.
♦ “ayaṃ kho sā, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ guttiyā rakkhāya avihiṃsāya phāsuvihārāya. handa ca dāni mayaṃ, mārisa, gacchāma bahukiccā mayaṃ bahukaraṇīyā”ti. “yassadāni tumhe mahārājāno kālaṃ maññathā”ti.

11. Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atànàtiyà che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.

Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.

- Ðại vương, Ðại vương hãy làm điều gì Ðại vương nghĩ là phải thời.

11. ‘And these, sir, are the Āṭānāṭā protective verses by means of which monks and nuns, male and female layfollowers may dwell guarded, protected, unharmed and at ease.

And now, sir, we must go: we have many duties, many things to do.’

‘Do so, Kings, when you think fit.’

♦ 284. atha kho cattāro mahārājā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyiṃsu. tepi kho yakkhā uṭṭhāyāsanā appekacce bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyiṃsu. appekacce bhagavatā saddhiṃ sammodiṃsu, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā tatthevantaradhāyiṃsu . appekacce yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā tatthevantaradhāyiṃsu. appekacce nāmagottaṃ sāvetvā tatthevantaradhāyiṃsu. appekacce tuṇhībhūtā tatthevantaradhāyiṃsūti.

paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.

Rồi bốn vị đại vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về phía Ngài rồi biến mất tại đấy.

Các vị Dạ-xoa ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, có vị đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên những lời hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị chấp tay hướng đến Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên tên họ của mình rồi biến mất tại chỗ; có vị im lặng biến mất tại chỗ.

And the Four Great Kings stood up, saluted the Lord, passed by on his right side, and vanished.

And the yakkhas stood up, and some saluted the Lord, passed by on his right, and vanished, some exchanged courtesies with the Lord, [206] some saluted him with joined palms, some announced their name and clan, some remained silent, and they all vanished.

dutiyabhāṇavāro (DN 32)    
♦ 285. atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi — “imaṃ, bhikkhave, rattiṃ cattāro mahārājā mahatiyā ca yakkhasenāya mahatiyā ca gandhabbasenāya mahatiyā ca kumbhaṇḍasenāya mahatiyā ca nāgasenāya catuddisaṃ rakkhaṃ ṭhapetvā catuddisaṃ gumbaṃ ṭhapetvā catuddisaṃ ovaraṇaṃ ṭhapetvā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ gijjhakūṭaṃ pabbataṃ obhāsetvā yenāhaṃ tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. tepi kho, bhikkhave, yakkhā appekacce maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. appekacce mayā saddhiṃ sammodiṃsu, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. appekacce yenāhaṃ tenañjaliṃ paṇāmetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. appekacce nāmagottaṃ sāvetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṃ nisīdiṃsu.

12. Rồi Thế Tôn sau khi đêm đã mãn, liền gọi các vị Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, khi hôm, bốn vị đại vương cùng với đại quân sư Dạ-xoa:

"Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi)
Sáng suốt và huy hoàng;
Ðảnh lễ đấng Sikhi, (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài...

Này Tôn giả, đó là hộ kinh Atànàtiyà che chở, hộ trì, ... (như trên) ... rồi biến mất tại chỗ".

12. And when the night was over, the Lord said to the monks:

‘Monks, this night the Four Great Kings... came to see the Lord... (repeat the whole of verses 1 — 11). 

♦ 286. “ekamantaṃ nisinno kho, bhikkhave, vessavaṇo mahārājā maṃ etadavoca — ‘santi hi, bhante, uḷārā yakkhā bhagavato appasannā ... pe ... santi hi, bhante nīcā yakkhā bhagavato pasannā. yebhuyyena kho pana, bhante, yakkhā appasannāyeva bhagavato. taṃ kissa hetu? bhagavā hi, bhante, pāṇātipātā veramaṇiyā dhammaṃ deseti... surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇiyā dhammaṃ deseti. yebhuyyena kho pana, bhante, yakkhā appaṭiviratāyeva pāṇātipātā... appaṭiviratā surāmerayamajjappamādaṭṭhānā. tesaṃ taṃ hoti appiyaṃ amanāpaṃ. santi hi, bhante, bhagavato sāvakā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. tattha santi uḷārā yakkhā nivāsino, ye imasmiṃ bhagavato pāvacane appasannā, tesaṃ pasādāya uggaṇhātu, bhante, bhagavā āṭānāṭiyaṃ rakkhaṃ bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ guttiyā rakkhāya avihiṃsāya phāsuvihārāyā’ti. adhivāsesiṃ kho ahaṃ, bhikkhave, tuṇhībhāvena. atha kho, bhikkhave, vessavaṇo mahārājā me adhivāsanaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ āṭānāṭiyaṃ rakkhaṃ abhāsi —    

♦ 287. ‘vipassissa ca namatthu, cakkhumantassa sirīmato.

♦ sikhissapi ca namatthu, sabbabhūtānukampino.

♦ ‘vessabhussa ca namatthu, nhātakassa tapassino.

♦ namatthu kakusandhassa, mārasenāpamaddino.

♦ ‘koṇāgamanassa namatthu, brāhmaṇassa vusīmato.

♦ kassapassa ca namatthu, vippamuttassa sabbadhi.

♦ ‘aṅgīrasassa namatthu, sakyaputtassa sirīmato.

♦ yo imaṃ dhammaṃ desesi, sabbadukkhāpanūdanaṃ.

♦ ‘ye cāpi nibbutā loke, yathābhūtaṃ vipassisuṃ.

♦ te janā apisuṇātha, mahantā vītasāradā.

♦ ‘hitaṃ devamanussānaṃ, yaṃ namassanti gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, mahantaṃ vītasāradaṃ.

   

♦ 288. ‘yato uggacchati sūriyo, ādicco maṇḍalī mahā.

♦ yassa cuggacchamānassa, saṃvarīpi nirujjhati.

♦ yassa cuggate sūriye, “divaso”ti pavuccati.

♦ ‘rahadopi tattha gambhīro, samuddo saritodako.

♦ evaṃ taṃ tattha jānanti, “samuddo saritodako”.

♦ ‘ito “sā purimā disā”, iti naṃ ācikkhatī jano.

♦ yaṃ disaṃ abhipāleti, mahārājā yasassi so.

♦ ‘gandhabbānaṃ adhipati, “dhataraṭṭho”ti nāmaso.

♦ ramatī naccagītehi, gandhabbehi purakkhato.

♦ ‘puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṃ.

♦ asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.

♦ ‘te cāpi buddhaṃ disvāna, buddhaṃ ādiccabandhunaṃ.

♦ dūratova namassanti, mahantaṃ vītasāradaṃ.

♦ ‘namo te purisājañña, namo te purisuttama.

♦ kusalena samekkhasi, amanussāpi taṃ vandanti.

♦ sutaṃ netaṃ abhiṇhaso, tassā evaṃ vademase.

♦ “jinaṃ vandatha gotamaṃ, jinaṃ vandāma gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, buddhaṃ vandāma gotamaṃ”.

   

♦ 289. ‘yena petā pavuccanti, pisuṇā piṭṭhimaṃsikā.

♦ pāṇātipātino luddā, corā nekatikā janā.

♦ ‘ito “sā dakkhiṇā disā”, iti naṃ ācikkhatī jano.

♦ yaṃ disaṃ abhipāleti, mahārājā yasassi so.

♦ ‘kumbhaṇḍānaṃ adhipati, “virūḷho” iti nāmaso.

♦ ramatī naccagītehi, kumbhaṇḍehi purakkhato.

♦ ‘puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṃ.

♦ asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.

♦ ‘te cāpi buddhaṃ disvāna, buddhaṃ ādiccabandhunaṃ.

♦ dūratova namassanti, mahantaṃ vītasāradaṃ.

♦ ‘namo te purisājañña, namo te purisuttama.

♦ kusalena samekkhasi, amanussāpi taṃ vandanti.

♦ sutaṃ netaṃ abhiṇhaso, tasmā evaṃ vademase.

♦ “jinaṃ vandatha gotamaṃ, jinaṃ vandāma gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, buddhaṃ vandāma gotamaṃ”.

   

♦ 290. ‘yattha coggacchati sūriyo, ādicco maṇḍalī mahā.

♦ yassa coggacchamānassa, divasopi nirujjhati.

♦ yassa coggate sūriye, “saṃvarī”ti pavuccati.

♦ ‘rahadopi tattha gambhīro, samuddo saritodako.

♦ evaṃ taṃ tattha jānanti, samuddo saritodako.

♦ ‘ito “sā pacchimā disā”, iti naṃ ācikkhatī jano.

♦ yaṃ disaṃ abhipāleti, mahārājā yasassi so.

♦ ‘nāgānañca adhipati, “virūpakkho”ti nāmaso.

♦ ramatī naccagītehi, nāgeheva purakkhato.

♦ ‘puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṃ.

♦ asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.

♦ ‘te cāpi buddhaṃ disvāna, buddhaṃ ādiccabandhunaṃ.

♦ dūratova namassanti, mahantaṃ vītasāradaṃ.

♦ ‘namo te purisājañña, namo te purisuttama.

♦ kusalena samekkhasi, amanussāpi taṃ vandanti.

♦ sutaṃ netaṃ abhiṇhaso, tasmā evaṃ vademase.

♦ “jinaṃ vandatha gotamaṃ, jinaṃ vandāma gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, buddhaṃ vandāma gotamaṃ”.

   

♦ 291. ‘yena uttarakuruvho, mahāneru sudassano.

♦ manussā tattha jāyanti, amamā apariggahā.

♦ ‘na te bījaṃ pavapanti, nāpi nīyanti naṅgalā.

♦ akaṭṭhapākimaṃ sāliṃ, paribhuñjanti mānusā.

♦ ‘akaṇaṃ athusaṃ suddhaṃ, sugandhaṃ taṇḍulapphalaṃ.

♦ tuṇḍikīre pacitvāna, tato bhuñjanti bhojanaṃ.

♦ ‘gāviṃ ekakhuraṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ pasuṃ ekakhuraṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ ‘itthiṃ vā vāhanaṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ purisaṃ vāhanaṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ ‘kumāriṃ vāhanaṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ kumāraṃ vāhanaṃ katvā, anuyanti disodisaṃ.

♦ ‘te yāne abhiruhitvā,

♦ sabbā disā anupariyāyanti.

♦ pacārā tassa rājino.

♦ ‘hatthiyānaṃ assayānaṃ,

♦ dibbaṃ yānaṃ upaṭṭhitaṃ.

♦ pāsādā sivikā ceva,

♦ mahārājassa yasassino.

♦ ‘tassa ca nagarā ahu,

♦ antalikkhe sumāpitā.

♦ āṭānāṭā kusināṭā parakusināṭā,

♦ nāṭasuriyā parakusiṭanāṭā.

♦ ‘uttarena kasivanto,

♦ janoghamaparena ca.

♦ navanavutiyo ambarāmbaravatiyo,

♦ āḷakamandā nāma rājadhānī.

♦ ‘kuverassa kho pana, mārisa, mahārājassa visāṇā nāma rājadhānī.

♦ tasmā kuvero mahārājā, “vessavaṇo”ti pavuccati.

♦ ‘paccesanto pakāsenti, tatolā tattalā tatotalā.

♦ ojasi tejasi tatojasī, sūro rājā ariṭṭho nemi.

♦ ‘rahadopi tattha dharaṇī nāma, yato meghā pavassanti.

♦ vassā yato patāyanti, sabhāpi tattha sālavatī nāma.

♦ ‘yattha yakkhā payirupāsanti, tattha niccaphalā rukkhā.

♦ nānā dijagaṇā yutā, mayūrakoñcābhirudā.

♦ kokilādīhi vagguhi.

♦ ‘jīvañjīvakasaddettha, atho oṭṭhavacittakā.

♦ kukkuṭakā kuḷīrakā, vane pokkharasātakā.

♦ ‘sukasāḷika saddettha, daṇḍamāṇavakāni ca.

♦ sobhati sabbakālaṃ sā, kuveranaḷinī sadā.

♦ ‘ito “sā uttarā disā”, iti naṃ ācikkhatī jano.

♦ yaṃ disaṃ abhipāleti, mahārājā yasassi so.

♦ ‘yakkhānañca adhipati, “kuvero” iti nāmaso.

♦ ramatī naccagītehi, yakkheheva purakkhato.

♦ ‘puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṃ.

♦ asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.

♦ ‘te cāpi buddhaṃ disvāna, buddhaṃ ādiccabandhunaṃ.

♦ dūratova namassanti, mahantaṃ vītasāradaṃ.

♦ ‘namo te purisājañña, namo te purisuttama.

♦ kusalena samekkhasi, amanussāpi taṃ vandanti.

♦ sutaṃ netaṃ abhiṇhaso, tasmā evaṃ vademase.

♦ “jinaṃ vandatha gotamaṃ, jinaṃ vandāma gotamaṃ.

♦ vijjācaraṇasampannaṃ, buddhaṃ vandāma gotaman”ti.

   
♦ 292. ‘ayaṃ kho sā, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ guttiyā rakkhāya avihiṃsāya phāsuvihārāya. yassa kassaci, mārisa, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā upāsakassa vā upāsikāya vā ayaṃ āṭānāṭiyā rakkhā suggahitā bhavissati samattā pariyāputā taṃ ce amanusso yakkho vā yakkhinī vā ... pe ... gandhabbo vā gandhabbī vā ... pe ... kumbhaṇḍo vā kumbhaṇḍī vā ... pe ... nāgo vā nāgī vā nāgapotako vā nāgapotikā vā nāgamahāmatto vā nāgapārisajjo vā nāgapacāro vā, paduṭṭhacitto bhikkhuṃ vā bhikkhuniṃ vā upāsakaṃ vā upāsikaṃ vā gacchantaṃ vā anugaccheyya, ṭhitaṃ vā upatiṭṭheyya, nisinnaṃ vā upanisīdeyya, nipannaṃ vā upanipajjeyya. na me so, mārisa, amanusso labheyya gāmesu vā nigamesu vā sakkāraṃ vā garukāraṃ vā. na me so, mārisa, amanusso labheyya āḷakamandāya nāma rājadhāniyā vatthuṃ vā vāsaṃ vā. na me so, mārisa, amanusso labheyya yakkhānaṃ samitiṃ gantuṃ. apissu naṃ, mārisa, amanussā anāvayhampi naṃ kareyyuṃ avivayhaṃ. apissu naṃ, mārisa, amanussā attāhi paripuṇṇāhi paribhāsāhi paribhāseyyuṃ. apissu naṃ, mārisa, amanussā rittaṃpissa pattaṃ sīse nikkujjeyyuṃ. apissu naṃ, mārisa, amanussā sattadhāpissa muddhaṃ phāleyyuṃ. santi hi, mārisa, amanussā caṇḍā ruddhā rabhasā, te neva mahārājānaṃ ādiyanti, na mahārājānaṃ purisakānaṃ ādiyanti, na mahārājānaṃ purisakānaṃ purisakānaṃ ādiyanti. te kho te, mārisa, amanussā mahārājānaṃ avaruddhā nāma vuccanti. seyyathāpi, mārisa, rañño māgadhassa vijite mahācorā. te neva rañño māgadhassa ādiyanti, na rañño māgadhassa purisakānaṃ ādiyanti, na rañño māgadhassa purisakānaṃ purisakānaṃ ādiyanti. te kho te, mārisa, mahācorā rañño māgadhassa avaruddhā nāma vuccanti. evameva kho, mārisa, santi amanussā caṇḍā ruddhā rabhasā, te neva mahārājānaṃ ādiyanti, na mahārājānaṃ purisakānaṃ ādiyanti, na mahārājānaṃ purisakānaṃ purisakānaṃ ādiyanti. te kho te, mārisa, amanussā mahārājānaṃ avaruddhā nāma vuccanti. yo hi koci, mārisa, amanusso yakkho vā yakkhinī vā ... pe ... gandhabbo vā gandhabbī vā ... pe ... kumbhaṇḍo vā kumbhaṇḍī vā ... pe ... nāgo vā nāgī vā ... pe ... paduṭṭhacitto bhikkhuṃ vā bhikkhuniṃ vā upāsakaṃ vā upāsikaṃ vā gacchantaṃ vā upagaccheyya, ṭhitaṃ vā upatiṭṭheyya, nisinnaṃ vā upanisīdeyya, nipannaṃ vā upanipajjeyya. imesaṃ yakkhānaṃ mahāyakkhānaṃ senāpatīnaṃ mahāsenāpatīnaṃ ujjhāpetabbaṃ vikkanditabbaṃ viravitabbaṃ — ‘ayaṃ yakkho gaṇhāti, ayaṃ yakkho āvisati, ayaṃ yakkho heṭheti, ayaṃ yakkho viheṭheti, ayaṃ yakkho hiṃsati, ayaṃ yakkho vihiṃsati, ayaṃ yakkho na muñcatī’ti.    

♦ 293. ‘katamesaṃ yakkhānaṃ mahāyakkhānaṃ senāpatīnaṃ mahāsenāpatīnaṃ?

♦ ‘indo somo varuṇo ca, bhāradvājo pajāpati.

♦ candano kāmaseṭṭho ca, kinnughaṇḍu nighaṇḍu ca.

♦ ‘panādo opamañño ca, devasūto ca mātali.

♦ cittaseno ca gandhabbo, naḷo rājā janesabho.

♦ ‘sātāgiro hevamato, puṇṇako karatiyo guḷo.

♦ sivako mucalindo ca, vessāmitto yugandharo.

♦ ‘gopālo supparodho ca, hiri netti ca mandiyo.

♦ pañcālacaṇḍo āḷavako, pajjunno sumano sumukho.

♦ dadhimukho maṇi māṇivaro dīgho, atho serīsako saha.

   
♦ ‘imesaṃ yakkhānaṃ mahāyakkhānaṃ senāpatīnaṃ mahāsenāpatīnaṃ ujjhāpetabbaṃ vikkanditabbaṃ viravitabbaṃ — “ayaṃ yakkho gaṇhāti, ayaṃ yakkho āvisati, ayaṃ yakkho heṭheti, ayaṃ yakkho viheṭheti, ayaṃ yakkho hiṃsati, ayaṃ yakkho vihiṃsati, ayaṃ yakkho na muñcatī”ti. ayaṃ kho, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ guttiyā rakkhāya avihiṃsāya phāsuvihārāya. handa ca dāni mayaṃ, mārisa, gacchāma, bahukiccā mayaṃ bahukaraṇīyā’”ti. “‘yassa dāni tumhe mahārājāno kālaṃ maññathā’”ti.    
♦ 294. “atha kho, bhikkhave, cattāro mahārājā uṭṭhāyāsanā maṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyiṃsu. tepi kho, bhikkhave, yakkhā uṭṭhāyāsanā appekacce maṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyiṃsu. appekacce mayā saddhiṃ sammodiṃsu, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā tatthevantaradhāyiṃsu. appekacce yenāhaṃ tenañjaliṃ paṇāmetvā tatthevantaradhāyiṃsu. appekacce nāmagottaṃ sāvetvā tatthevantaradhāyiṃsu. appekacce tuṇhībhūtā tatthevantaradhāyiṃsu.    

♦ 295. “uggaṇhātha, bhikkhave, āṭānāṭiyaṃ rakkhaṃ. pariyāpuṇātha, bhikkhave, āṭānāṭiyaṃ rakkhaṃ. dhāretha, bhikkhave, āṭānāṭiyaṃ rakkhaṃ. atthasaṃhitā {atthasaṃhitāyaṃ (syā.)}, bhikkhave, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ guttiyā rakkhāya avihiṃsāya phāsuvihārāyā”ti. idamavoca bhagavā. attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.

♦ āṭānāṭiyasuttaṃ niṭṭhitaṃ navamaṃ.

13. Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atànàtiyà này, hãy thuộc lòng Kinh Atànàtiyà này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ trì lời dạy Thế Tôn.

13. ‘Monks, you should learn these Āṭānāṭā protective verses, master them and remember them. They are for your benefit, and through them monks and nuns, male and female lay-followers may dwell guarded, protected, unharmed and at ease.’

Thus the Lord spoke. And the monks were delighted and rejoiced at his words.

 

Notes: The numbers in square brackets [ ] in the actual text refer to the page number of the Dīgha Nikāya of the Pali Text Society's edition in Pali.

 

(986). This is a paritta (Sinhalese pirit), a set of protective verses (strangely called a ‘ward-rune’ by RD). The purist may be shocked to find this not only in ‘popular Buddhism’ but actually enshrined in the Canon; but Mrs Rhys Davids offers a spirited defence of such things in the introduction to her translation of this Sutta. She quotes the list of canonical parittas, and a similar list also occurs at VM 13.31: the Ratana Sutta (Sn 222ff., Khp 6), Khandha Paritta (AN 4.67), Dhajagga Paritta (SN 11.1.3), and Mora Paritta (Ja 159), beside the present Sutta. These are said to be efficacious through ten thousand million world-systems. DA, however, advises the use of the Metta Sutta in the first place, then the Dhajagga and Ratana Suttas. Only if, after a week, these do not work, should the Ātānātiya be resorted to — which would be of no use in the kind of emergency envisaged in the text! But the mention of the Metta Sutta is interesting because the Khandha Sutta (delivered after a monk had died of a snake-bite) enjoins the practice of loving-kindness to all beings as a form of self-protection. Like certain truthful declarations, this can have powerful effects. See Piyadassi Thera, The Book of Protection (BPS 1975).

A Tibetan version of this Sutta exists, and a fragment of a Sanskrit version has been found in Central Asia, but this differs considerably from the Pali. It is quoted with translation by K. Saha, Buddhism in Central Asia (Calcutta 1970), 47-49. This includes a reference to ′Ātānati the much renowned’, and ‘the heart of Ātānāti furthering all acts ...′ as if this were a person, though according to our text and DA, Ātānātā is a town.

This Sutta is much used on special occasions in the countries of Theravāda Buddhism. Thus in Thailand it is chanted at the New Year, together with the Mahāsamaya Sutta (DN 20, with which it has much in common) and the Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.12.2, the Buddha’s first sermon). The Thai version also includes a noncanonical introductory portion containing verses of homage to twenty-one Buddhas earlier than Vipassi, going right back to Dipankara, under whom the future Buddha Gotama first went forth, and to three even earlier Buddhas before him. See also K.R.Norman, Pali Literature (Wiesbaden 1983), 173ff.

(987). Cf. DN 18.11.

(988). See Introduction p. 45. The four groups mentioned are those of their respective followers.

(989). Defence of the four quarters is the special charge of the Four Great Kings. We may, however, note by way of contrast the ‘protection of the four quarters’, and the associations of those quarters, in DN 31.

(990). As at DN 4.9 and elsewhere, indicating the various degrees of commitment or otherwise those concerned felt towards the Buddha. In the case of the yakkhas, the position is explained in verse 2.

(991). The Great King of the North (cf. DN 18.11ff.).

(992). DA carefully explains that the Buddha did not really need to learn it, but went through the motions for pedagogical reasons.

(993). The canonical text begins with Vipassi, seven Buddhas and ninety-one aeons back from Buddha Gotama. The Thai introductory portion,  going back further, is certainly of later origin.

(994). This is more literal than RD’s ‘ascetic, wholly pure’.

(995). The term angīrasa ‘radiant’ applies to all the Buddhas mentioned.

(996). DA is clearly unsure whether Buddhas only, or all Arahants are meant.

(997). Purima means both ‘first’ (or ‘former’) and ‘east’.

(998). These are often called ‘hungry ghosts’. A whole book of the Khuddhaka Nikāya, the Petavatthu, is devoted to them. The next three lines refer to their character in life, which resulted in their present miserable state. They are in the south because they were led out to execution through the south gate of the town (as DN 23.7).

(999). Pacchima means both ‘last’ (or ‘later’) and ‘west’.

(1000). It may seem strange to us that this mythical ideal land (thought of as still existing, though almost inaccessible) should be located in the north, of all directions, but in the tropics this is quite natural. Later, with the growth of geographical knowledge, the region was relocated in the Antipodes. The whole mythology is, of course, pre-Buddhist.

(1001). The inhabitants of this region, though obviously not enlightened, have high moral standards.

(1002). Tundikīre: so explained by DA (the now familiar ‘tandoori′?).

(1003). Not clearly explained by DA.

(1004). DA’s only relevant comment is that ‘right-thinking people cannot do this’. This trait, which rather spoils the otherwise idyllic picture, remains an unexplained curiosity.

(1005). DA insists that Ambara-Ambaravatiya is one name.

(1006). He thus has two names, Kuvera and Vessavana.

(1007). Jīva means ‘live!’ A sort of pheasant or partridge.

(1008). This bird calls ‘Utthehi citte!’ ‘Lift up your hearts!’

(1009). Doubtful: the usual meaning of this word is ‘crab’.

(1010). As at DN 3.1.20.

(1011). A strangely heterogeneous list, including famous gods and sages - clearly designed to show the Buddha’s influence. RD gives full  references.

---oOo---

 

Nguồn (Source):
Vietnamese:
khemarama.net
Pāḷi - English:
 digitalpalireader.online

Những tập kinh khác:

DN 1: Brahmajāla – Kinh Phạm Võng – The All-embracing Net of Views

DN 2: Sāmannaphala sutta – Kinh Sa Môn Quả – The Fruits of the Contemplative Life

DN 3: Ambaṭṭhasuttaṃ – Kinh Ambaṭṭha (A-Ma-Trú) – A Young Brahman’s Rudeness And An Old One’s Faith

DN 4: Soṇadaṇḍasuttaṃ – Kinh Chủng Đức – The Qualities Of The True Brahman

DN 5: Kūṭadantasuttaṃ – Kinh Cứu La Đàn Đầu – About Kūṭadanta – A Bloodless Sacrifice

DN 6: Mahālisuttaṃ – Kinh Mahāli – About Mahāli

DN 7: Jāliyasuttaṃ – Kinh Jāliya – About Jāliya

DN 8: Mahāsīhanādasuttaṃ – Kinh Ca-diếp Sư tử hống – The Great Lion’s Roar (The Lion’s Roar to Kassapa)

DN 9: Poṭṭhapādasuttaṃ – Kinh Bố-Sá-Bà-Lâu – About Poṭṭhapāda (States of Consciousness)

DN 10: Subhasuttaṃ – Kinh Tu Ba – About Subha (Morality, Concentration, Wisdom)

DN 11: Kevaṭṭasuttaṃ – Kinh Kiên Cố – About Kevaddha (What Brahma Didn’t Know)

DN 12: Lohiccasuttaṃ – Kinh Lô Hi Gia – About Lohicca (Good and Bad Teachers)

DN 13: Tevijjasuttaṃ – Kinh Tam Minh – The Threefold Knowledge (The Way to Brahmā)

DN 14: Mahāpadānasuttaṃ – Kinh Đại Bổn – The Great Discourse on the Lineage

DN 15: Mahānidānasuttaṃ – Kinh Đại Duyên – The Great Discourse on Origination

DN 16: Mahāparinibbānasuttaṃ – Kinh Đại Bát-Niết-Bàn – The Great Passing (The Buddha’s Last Days)

DN 17: Mahāsudassanasuttaṃ – Kinh Ðại Thiện Kiến Vương – The Great Splendour (A King’s Renunciation)

DN 18: Janavasabhasuttaṃ – Kinh Xà-ni-sa – About Janavasabha (Brahmā Addresses the Gods)

DN 19: Mahāgovindasuttaṃ – Kinh Ðại Ðiển Tôn – The Great Steward (A Past Life of Gotama)

DN 20: Mahāsamayasuttaṃ – Kinh Đại Hội – The Mighty Gathering (Devas Come to See the Buddha)

DN 21: Sakkapañhasuttaṃ – Kinh Đế-Thích Sở Vấn – Sakka’s Questions (A God Consults the Buddha)

DN 22: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ – Kinh Đại Niệm Xứ – The Greater Discourse on the Foundations of Mindfulness

DN 23: Pāyāsisuttaṃ – Kinh Kệ-Túc – About Pāyāsi (Debate with a Sceptic)

DN 24: Pāthikasuttaṃ – Kinh Ba-lê – About Pāṭikaputta (The Charlatan)

DN 25: Udumbarikasuttaṃ – Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử Hống – The Great Lion’s Roar to the Udumbarikans

DN 26: Cakkavattisuttaṃ – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư tử Hống – The Lion’s Roar on the Turning of the Wheel

DN 27: Aggaññasuttaṃ – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn – On Knowledge of Beginnings

DN 28: Sampasādanīyasuttaṃ – Kinh Tự Hoan Hỷ – Serene Faith

DN 29: Pāsādikasuttaṃ – Kinh Thanh Tịnh – The Delightful Discourse

DN 30: Lakkhaṇasuttaṃ – Kinh Tướng – The Marks of a Great Man

DN 31: Siṅgālasuttaṃ – Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt – To Sigālaka (Advice to Lay People)

DN 32: Āṭānāṭiyasuttaṃ – Kinh A-sá-nang-chi – The Āṭānātā Protective Verses

DN 33: Saṅgītisuttaṃ – Kinh Phúng Tụng – The Chanting Together

DN 34: Dasuttarasuttaṃ – Kinh Thập Thượng – Expanding Decades

Những bộ Kinh khác :