DN 27: Aggaññasuttaṃ – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn – On Knowledge of Beginnings

Monday March 4, 2024

 

 

AGGAÑÑASUTTAṂ

KINH KHỞI THẾ NHÂN BỔN

(Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu)

ON KNOWLEDGE OF BEGINNINGS

(English Translation from Pāli: Maurice Walshe)

vāseṭṭhabhāradvājā (DN 27)    
♦ 111. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati pubbārāme migāramātupāsāde. tena kho pana samayena vāseṭṭhabhāradvājā bhikkhūsu parivasanti bhikkhubhāvaṃ ākaṅkhamānā. atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṃ {pāsādacchāyāyaṃ (ka.)} abbhokāse caṅkamati.

Như vầy tôi nghe:

1. Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), Pubbàràma (Thành Tín Viên lâm), ở lầu của Migà ramàtu (Lộc Mẫu Giảng đường).

Lúc bấy giờ, Vàsettha và Bhàradvàjà sống giữa các vị Tỷ kheo và muốn trở thành Tỷ kheo. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu.

[80] 1. THUS HAVE I HEARD. (810) Once the Lord was staying at Sāvatthi, at the mansion of Migara’s mother (811) in the East Park.

And at that time Vāseṭṭha and Bhāradvāja (812) were living among the monks, hoping to become monks themselves. And in the evening, the Lord rose from his secluded meditation and came out of the mansion, and started walking up and down in its shade.

♦ 112. addasā kho vāseṭṭho bhagavantaṃ sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhitaṃ pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṃ abbhokāse caṅkamantaṃ. disvāna bhāradvājaṃ āmantesi — “ayaṃ, āvuso bhāradvāja, bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṃ abbhokāse caṅkamati. āyāmāvuso bhāradvāja, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; appeva nāma labheyyāma bhagavato santikā {sammukhā (syā. ka.)} dhammiṃ kathaṃ savanāyā”ti. “evamāvuso”ti kho bhāradvājo vāseṭṭhassa paccassosi.

2. Vàsettha thấy Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi ngôi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Thấy vậy Vàsettha nói với Bhàradvàja:

- Này bạn Bhàradvàja, Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Này bạn Bhàradvàja, chúng ta hãy đến yết kiến Thế Tôn. Rất có thể chúng ta được nghe một thời pháp từ Thế Tôn.

- Thưa vâng, Hiền giả!

Bhàradvàja vâng theo lời Vàsettha. Rồi cả Vàsettha và Bhàradvàja cùng đến gần Thế Tôn, khi đến xong đảnh lễ Ngài và đi theo sau lưng Thế Tôn, khi Ngài đang đi qua đi lại.

2. Vāseṭṭha noticed this, and he said to Bhāradvāja:

‘Friend Bhāradvāja, the Lord has come out and is walking up and down. Let us approach him. We might be fortunate enough to hear a talk on Dhamma from the Lord himself.’

‘Yes, indeed’, said Bhāradvāja, so they went up to the Lord, saluted him, and fell into step with him.

♦ 113. atha kho vāseṭṭhabhāradvājā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā bhagavantaṃ caṅkamantaṃ anucaṅkamiṃsu. atha kho bhagavā vāseṭṭhaṃ āmantesi — “tumhe khvattha, vāseṭṭha, brāhmaṇajaccā brāhmaṇakulīnā brāhmaṇakulā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, kacci vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā na akkosanti na paribhāsantī”ti? “taggha no, bhante, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti. “yathā kathaṃ pana vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti? “brāhmaṇā, bhante, evamāhaṃsu — ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā {hīno añño vaṇṇo (sī. pī. ma. ni. 2 madhurasutta)}. brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā {kaṇho añño vaṇṇo (sī. pī. ma. ni. 2 madhurasutta)}. brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā. brāhmaṇāva {brāhmaṇā (syā.)} brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā. te tumhe seṭṭhaṃ vaṇṇaṃ hitvā hīnamattha vaṇṇaṃ ajjhupagatā, yadidaṃ muṇḍake samaṇake ibbhe kaṇhe bandhupādāpacce. tayidaṃ na sādhu, tayidaṃ nappatirūpaṃ, yaṃ tumhe seṭṭhaṃ vaṇṇaṃ hitvā hīnamattha vaṇṇaṃ ajjhupagatā yadidaṃ muṇḍake samaṇake ibbhe kaṇhe bandhupādāpacce’ti. evaṃ kho no, bhante, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti.

3. Rồi Thế Tôn nói với Vàsettha:

- Này Vàsettha, Ngươi sanh trưởng là Bà-la-môn và thuộc gia tộc Bà-la-môn, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình từ gia tộc Bà-la-môn.

Này Vàsettha, người Bà-la-môn có chỉ trích Ngươi, phỉ báng Ngươi chăng?

- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn thật có chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.

- Này Vàsettha, các vị Bà-la-môn dùng lời lẽ như thế nào để chỉ trích các Ngươi, phỉ báng các Ngươi, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện?

- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn đã nói như sau: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen.

Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên.

Các Ngươi đã từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện - giai cấp các Sa môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân.

Làm vậy thật là không tốt, làm vậy thật là không hợp, khi các Ngươi từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiệt, giai cấp Bà-la-môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân".

Bạch Thế Tôn, như vậy các vị Bà-la-môn chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.

3. Then the Lord said to Vāseṭṭha: [81]

‘Vāseṭṭha, (813) you two are Brahmins born and bred, and you have gone forth from the household life into homelessness from Brahmin families.

Do not the Brahmins revile and abuse you?’

‘Indeed, Lord, the Brahmins do revile and abuse us. They don’t hold back with their usual flood of reproaches.’

‘Well, Vāseṭṭha, what kind of reproaches do they fling at you?’

‘Lord, what the Brahmins say is this: “The Brahmin caste (814) is the highest caste, other castes are base; the Brahmin caste is fair, other castes are dark;

Brahmins are purified, non-Brahmins are not, the Brahmins are the true children of Brahmā, (815) born from his mouth, born of Brahmā, created by Brahmā, heirs of Brahmā.

And you, you have deserted the highest class and gone over to the base class of shaveling petty ascetics, servants, dark fellows born of Brahmā’s foot! (816)

It’s not right, it’s not proper for you to mix with such people!”

That is the way the Brahmins abuse us, Lord.’

♦ 114. “taggha vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā porāṇaṃ assarantā evamāhaṃsu — ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti. dissanti kho pana, vāseṭṭha, brāhmaṇānaṃ brāhmaṇiyo utuniyopi gabbhiniyopi vijāyamānāpi pāyamānāpi. te ca brāhmaṇā yonijāva samānā evamāhaṃsu — ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti. te {te ca (syā. ka.)} brahmānañceva abbhācikkhanti, musā ca bhāsanti, bahuñca apuññaṃ pasavanti.

4. - Này Vàsettha, các người Bà-la-môn thật đã quên quá khứ khi họ nói: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ tiện. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen.

Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cáp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên".

Này Vàsettha, các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú.

Và những Bà-la-môn ấy chính do thai sanh, lại nói rằng: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng... là con cháu thừa tự của Phạm thiên".

4. ‘Then, Vāseṭṭha, the Brahmins have forgotten their ancient tradition when they say that.

Because we can see Brahmin women, the wives of Brahmins, who menstruate and become pregnant, [82] have babies and give suck.

And yet these womb-born Brahmins talk about being born from Brahmā’s mouth ... These Brahmins misrepresent Brahmā, tell lies and earn much demerit.

catuvaṇṇasuddhi (DN 27)    
♦ 115. “cattārome, vāseṭṭha, vaṇṇā — khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā. khattiyopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātī hoti adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhī. iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā akusalā akusalasaṅkhātā sāvajjā sāvajjasaṅkhātā asevitabbā asevitabbasaṅkhātā nālamariyā nālamariyasaṅkhātā kaṇhā kaṇhavipākā viññugarahitā, khattiyepi te {kho vāseṭṭha (ka.)} idhekacce sandissanti. brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha ... pe ... vessopi kho, vāseṭṭha ... pe ... suddopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātī hoti adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhī. iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā akusalā akusalasaṅkhātā ... pe ... kaṇhā kaṇhavipākā viññugarahitā; suddepi te idhekacce sandissanti.

5. Này Vàsettha, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ xá và Sudda (Thủ-đà-la).

Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến.

Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện; những pháp ấy là có tội và được gọi là có tội; những pháp ấy không nên hành trì và được gọi là các pháp không nên hành trì; những pháp ấy không xứng Thánh pháp và được gọi là không xứng Thánh pháp;

những pháp ấy là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách.

Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha có người Bà-la-môn... Này Vàsettha có người Phệ xá... Này Vàsettha, có người Thủ đà la sát sanh... có tà kiến.

Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện... là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.

 5. ‘There are, Vāseṭṭha, these four castes: the Khattiyas, the Brahmins, the merchants and the artisans. (817)

And sometimes a Khattiya takes life, takes what is not given, commits sexual misconduct, tells lies, indulges in slander, harsh speech or idle chatter, is grasping, malicious, or of wrong views.

Thus such things as are immoral and considered so,blameworthy and considered so, to be avoided and considered so,

ways unbefitting an Ariyan and considered so, black with black result (818) and blamed by the wise,

are sometimes to be found among the Khattiyas, and the same applies to Brahmins, merchants and artisans.

♦ “khattiyopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, pisuṇāya vācāya paṭivirato, pharusāya vācāya paṭivirato, samphappalāpā paṭivirato, anabhijjhālu abyāpannacitto, sammādiṭṭhī. iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā kusalā kusalasaṅkhātā anavajjā anavajjasaṅkhātā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā alamariyā alamariyasaṅkhātā sukkā sukkavipākā viññuppasatthā, khattiyepi te idhekacce sandissanti. brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha ... pe ... vessopi kho, vāseṭṭha ... pe ... suddopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti ... pe ... anabhijjhālu, abyāpannacitto, sammādiṭṭhī. iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā kusalā kusalasaṅkhātā anavajjā anavajjasaṅkhātā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā alamariyā alamariyasaṅkhātā sukkā sukkavipākā viññuppasatthā; suddepi te idhekacce sandissanti.

6. Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ không sát sanh, không lấy của không cho, không có tà hạnh, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói lời phù phiếm, không có tâm tham, không có tâm sân, có chánh kiến.

Này Vàsettha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp ấy được người có trí tán thán.

Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha, có người Bà-la-môn... Này Vàsettha, có người Phệ xá... Này Vàsettha, có người Thủ đà la không sát sanh... không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến.

Này Vàsettha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.

6. ‘Sometimes, too, a Khattiya refrains from taking life,... is not grasping, malicious, or of wrong views.

Thus such things as are moral and considered so, blameless and considered so, to be followed and considered so, ways befitting an Ariyan and considered so, bright with bright results and praised by the wise,

are sometimes to be found among the Khattiyas, and [83] likewise among Brahmins, merchants and artisans.

♦ 116. “imesu kho, vāseṭṭha, catūsu vaṇṇesu evaṃ ubhayavokiṇṇesu vattamānesu kaṇhasukkesu dhammesu viññugarahitesu ceva viññuppasatthesu ca yadettha brāhmaṇā evamāhaṃsu — ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti. taṃ tesaṃ viññū nānujānanti. taṃ kissa hetu? imesañhi, vāseṭṭha, catunnaṃ vaṇṇānaṃ yo hoti bhikkhu arahaṃ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṃyojano sammadaññāvimutto, so nesaṃ aggamakkhāyati dhammeneva, no adhammena. dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṃ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca .

7. Này Vàsettha, vì rằng cả hai pháp hắc và bạch được chỉ trích và được tán thán bởi những người có trí, đều có mặt lẫn lộn trong bốn giai cấp này,

nên ở đây, những Bà-la-môn nào nói rằng: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen; chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy; chỉ có Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên."

Các vị có trí không thể chấp nhận như vậy.

Tại sao vậy? Này Vàsettha, vì rằng nếu có ai trong bốn giai cấp là một vị Tỷ kheo, một vị A la hán, các lậu hoặc đã được diệt tận, phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích tối thượng, hữu kiết sử đã diệt, nhờ chánh trí đã được giải thoát, vị ấy sẽ được xem là tối thượng so sánh với bốn giai cấp, vì xứng với Pháp, không phải không xứng với Pháp.

Này Vàsettha, Phàp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

7. ‘Now since both dark and bright qualities, which are blamed and praised by the wise, are scattered indiscriminately among the four castes,

the wise do not recognise the claim about the Brahmin caste being the highest.

Why is that? Because, Vāseṭṭha, anyone from the four castes who becomes a monk, an Arahant who has destroyed the corruptions, who has lived the life, done what had to be done, laid down the burden, (819) reached the highest goal, destroyed the fetter of becoming, and become emancipated through super knowledge — he is proclaimed supreme by virtue of Dhamma and not of non-Dhamma.

Dhamma’s the best thing for people

In this life and the next as well.

♦ 117. “tadamināpetaṃ, vāseṭṭha, pariyāyena veditabbaṃ, yathā dhammova seṭṭho janetasmiṃ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca. 8. Này Vàsettha, đây là một chứng minh điển hình để biết vì sao Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau. 8. ‘This illustration will make clear to you how Dhamma is best in this world and in the next. King Pasenadi of Kosala knows:
♦ “jānāti kho {kho pana (ka.)}, vāseṭṭha, rājā pasenadi kosalo — ‘samaṇo gotamo anantarā {anuttaro (bahūsu)} sakyakulā pabbajito’ti. sakyā kho pana, vāseṭṭha, rañño pasenadissa kosalassa anuyuttā {anantarā anuyantā (syā.), anantarā anuyuttā (ka.)} bhavanti. karonti kho, vāseṭṭha, sakyā raññe pasenadimhi kosale nipaccakāraṃ abhivādanaṃ paccuṭṭhānaṃ añjalikammaṃ sāmīcikammaṃ. iti kho, vāseṭṭha, yaṃ karonti sakyā raññe pasenadimhi kosale nipaccakāraṃ abhivādanaṃ paccuṭṭhānaṃ añjalikammaṃ sāmīcikammaṃ, karoti taṃ rājā pasenadi kosalo tathāgate nipaccakāraṃ abhivādanaṃ paccuṭṭhānaṃ añjalikammaṃ sāmīcikammaṃ, na naṃ {nanu (bahūsu)} ‘sujāto samaṇo gotamo, dujjātohamasmi. balavā samaṇo gotamo, dubbalohamasmi. pāsādiko samaṇo gotamo, dubbaṇṇohamasmi. mahesakkho samaṇo gotamo, appesakkhohamasmī’ti. atha kho naṃ dhammaṃyeva sakkaronto dhammaṃ garuṃ karonto dhammaṃ mānento dhammaṃ pūjento dhammaṃ apacāyamāno evaṃ rājā pasenadi kosalo tathāgate nipaccakāraṃ karoti, abhivādanaṃ paccuṭṭhānaṃ añjalikammaṃ sāmīcikammaṃ. imināpi kho etaṃ, vāseṭṭha, pariyāyena veditabbaṃ, yathā dhammova seṭṭho janetasmiṃ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.

Này Vàsettha, vua Pasenadi (Ba tư nặc) nước Kosala biết rằng: "Sa môn Gotama xuất gia từ giòng họ liên hệ Sàkyà tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với vua Pasenadi nước Kosala rất lễ độ phải phép.

Cũng vậy vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép, vì vua nghĩ: "Có phải Sa môn Gotama là thiện sanh? Còn ta không phải thiện sanh; Sa môn Gotama có hùng lực, ta không có hùng lực; Sa môn Gotama có dáng mặt đẹp đẽ, còn ta có dáng mặt thô xấu; Sa môn Gotama là vị có nhiều thế lực, còn ta ít có thế lực?"

Vì rằng vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, kính lễ Pháp nên vua tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép.

Này Vàsettha, với chứng minh điển hình này, cần hiểu như thế nào Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

“The ascetic Gotama has gone forth from the neighbouring clan of the Sakyans.” Now the Sakyans are vassals of the King of Kosala. They offer him humble service and salute him, rise and do him homage and pay him fitting service.

And, just as the Sakyans offer the King humble service..., [84]

so likewise does the King offer humble service to the Tathāgata, (820) thinking: “If the ascetic Gotama is well-born, I am ill-born; if the ascetic Gotama is strong, I am weak; if the ascetic Gotama is pleasant to look at, I am ill-favoured; if the ascetic Gotama is influential, I am of little influence.”

Now it is because of honouring the Dhamma, making much of the Dhamma, esteeming the Dhamma, doing reverent homage to the Dhamma that King Pasenadi does humble service to the Tathāgata and pays him fitting service:

Dhamma’s the best thing for people

In this life and the next as well.

♦ 118. “tumhe khvattha, vāseṭṭha, nānājaccā nānānāmā nānāgottā nānākulā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā. ‘ke tumhe’ti — puṭṭhā samānā ‘samaṇā sakyaputtiyāmhā’ti — paṭijānātha. yassa kho panassa, vāseṭṭha, tathāgate saddhā niviṭṭhā mūlajātā patiṭṭhitā daḷhā asaṃhāriyā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṃ, tassetaṃ kallaṃ vacanāya — ‘bhagavatomhi putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo’ti. taṃ kissa hetu? tathāgatassa hetaṃ, vāseṭṭha, adhivacanaṃ ‘dhammakāyo’ itipi, ‘brahmakāyo’ itipi, ‘dhammabhūto’ itipi, ‘brahmabhūto’ itipi.

9. Này Vàsettha, các Ngươi, sanh sai biệt, danh sai biệt, tánh sai biệt, gia hệ sai biệt, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu có ai hỏi: "Các vị là ai?", các Ngươi cần trả lời: "Chúng tôi là Sa môn, dưới sự lãnh đạo của Thích ca tử".

Này Vàsettha, ai có lòng tin Như Lai, lòng tin ấy được an trí, có căn đế, an trú và chắc chắn, một lòng tin không bị lôi kéo bởi Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một vị nào ở trên đời, vị ấy có thể nói:

"Ta là con chính tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do Pháp sanh, do Pháp tạo ra, là con cháu thừa tự của Pháp."

Vì sao vậy? Này Vàsettha, vì là những chữ đồng nghĩa với Như Lai là Pháp thân, là Phạm thân, là Pháp thể, là Phạm thể.

9. ‘Vāseṭṭha, all of you, though of different birth, name, clan and family, who have gone forth from the household life into homelessness, if you are asked who you are, should reply: “We are ascetics, followers of the Sakyan.” (821)

He whose faith in the Tathāgata is settled, rooted, established, solid, unshakeable by any ascetic or Brahmin, any deva or mara or Brahmā or anyone in the world, can truly say:

“I am a true son of Blessed Lord, born of his mouth, born of Dhamma, created by Dhamma, an heir of Dhamma.”

Why is that? Because, Vāseṭṭha, this designates the Tathāgata: “The Body of Dhamma”, (822) that is, “The Body of Brahmā”, (823) or “Become Dhamma”, that is, “Become Brahmā”. (824)

♦ 119. “hoti kho so, vāseṭṭha, samayo yaṃ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṃ loko saṃvaṭṭati. saṃvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṃvattanikā honti. te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṃpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭhanti.

10. Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên).

Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài.

10. ‘There comes a time, Vāseṭṭha, when, sooner or later after a long period, this world contracts. (825) At a time of contraction, beings are mostly born in the Ābhassara Brahmā world.

And there they dwell, mind-made, feeding on delight, selfluminous, moving through the air, glorious — and they stay like that for a very long time.

♦ “hoti kho so, vāseṭṭha, samayo yaṃ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṃ loko vivaṭṭati. vivaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarakāyā cavitvā itthattaṃ āgacchanti. tedha honti manomayā pītibhakkhā sayaṃpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭhanti.

Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây.

Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài.

But sooner or later, after a very long period, this world begins to expand again. At a time of expansion, the beings from the Ābhassarā Brahmā world, [85] having passed away from there, are mostly reborn in this world.

Here they dwell, mind-made, feeding on delight, selfluminous, moving through the air, glorious (826) — and they stay like that for a very long time.

rasapathavipātubhāvo (DN 27)    
♦ 120. “ekodakībhūtaṃ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti andhakāro andhakāratimisā . na candimasūriyā paññāyanti, na nakkhattāni tārakarūpāni paññāyanti, na rattindivā paññāyanti, na māsaḍḍhamāsā paññāyanti, na utusaṃvaccharā paññāyanti, na itthipumā paññāyanti, sattā sattātveva saṅkhyaṃ gacchanti. atha kho tesaṃ, vāseṭṭha, sattānaṃ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena rasapathavī udakasmiṃ samatani {samatāni (bahūsu)}; seyyathāpi nāma payaso tattassa {payatattassa (syā.)} nibbāyamānassa upari santānakaṃ hoti, evameva pāturahosi. sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā, seyyathāpi nāma sampannaṃ vā sappi sampannaṃ vā navanītaṃ evaṃvaṇṇā ahosi. seyyathāpi nāma khuddamadhuṃ {khuddaṃ madhuṃ (ka. sī.)} aneḷakaṃ {anelakaṃ (sī. pī.)}, evamassādā ahosi. atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto lolajātiko — ‘ambho, kimevidaṃ bhavissatī’ti rasapathaviṃ aṅguliyā sāyi. tassa rasapathaviṃ aṅguliyā sāyato acchādesi, taṇhā cassa okkami. aññepi kho, vāseṭṭha, sattā tassa sattassa diṭṭhānugatiṃ āpajjamānā rasapathaviṃ aṅguliyā sāyiṃsu. tesaṃ rasapathaviṃ aṅguliyā sāyataṃ acchādesi, taṇhā ca tesaṃ okkami.

11. Này Vàsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù.

Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết;

không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi.

Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra.

Ðất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh.

12. Này Vàsettha, có loài hữu tình, có tánh tham, nói: "Kìa xem, vật này là gì vậy?", lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên.

11. ‘At that period, Vāseṭṭha, there was just one mass of water, and all was darkness, blinding darkness.

Neither moon nor sun appeared, no constellations or stars appeared, night and day were not distinguished, nor months and fortnights, no years or seasons,

and no male and female, beings being reckoned just as beings. (827)

And sooner or later, after a very long period of time, savoury earth (828) spread itself over the waters where those beings were. It looked just like the skin that forms itself over hot milk as it cools.

It was endowed with colour, smell and taste. It was the colour of fine ghee or butter, and it was very sweet, like pure wild honey.

12. ‘Then some being of a greedy nature said: “I say, what can this be?” and tasted the savoury earth on its finger. In so doing, it became taken with the flavour, and craving arose in it. (829)

candimasūriyādipātubhāvo (DN 27)    
♦ 121. “atha kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṃ hatthehi āluppakārakaṃ upakkamiṃsu paribhuñjituṃ. yato kho te {yato kho (sī. syā. pī.)}, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṃ hatthehi āluppakārakaṃ upakkamiṃsu paribhuñjituṃ. atha tesaṃ sattānaṃ sayaṃpabhā antaradhāyi. sayaṃpabhāya antarahitāya candimasūriyā pāturahesuṃ. candimasūriyesu pātubhūtesu nakkhattāni tārakarūpāni pāturahesuṃ. nakkhattesu tārakarūpesu pātubhūtesu rattindivā paññāyiṃsu. rattindivesu paññāyamānesu māsaḍḍhamāsā paññāyiṃsu. māsaḍḍhamāsesu paññāyamānesu utusaṃvaccharā paññāyiṃsu. ettāvatā kho, vāseṭṭha, ayaṃ loko puna vivaṭṭo hoti.

Này Vàsettha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên.

Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất.

Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vàsettha, thế giới này bắt đầu thành trở lại.

Then other beings, taking their cue from that one, also tasted the stuff with their fingers. They too were taken with the flavour, and craving arose in them.

So they set to with their hands, breaking off pieces of the stuff in order to eat it. And [86] the result of this was that their self-luminance disappeared.

And as a result of the disappearance of their selfluminance, the moon and the sun appeared, night and day were distinguished, months and fortnights appeared, and the year and its seasons. To that extent the world reevolved.

♦ 122. “atha kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā {tabbhakkhā (syā.)} tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhaṃsu. yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhaṃsu, tathā tathā tesaṃ sattānaṃ (rasapathaviṃ paribhuñjantānaṃ) {( ) sī. syā. pī. potthakesu natthi} kharattañceva kāyasmiṃ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā {vaṇṇavevajjatā (ṭīkā)} ca paññāyittha. ekidaṃ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṃ sattā dubbaṇṇā. tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti — ‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti. tesaṃ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṃ rasapathavī antaradhāyi. rasāya pathaviyā antarahitāya sannipatiṃsu. sannipatitvā anutthuniṃsu — ‘aho rasaṃ, aho rasan’ti! tadetarahipi manussā kañcideva surasaṃ {sādhurasaṃ (sī. syā. pī.)} labhitvā evamāhaṃsu — ‘aho rasaṃ, aho rasan’ti! tadeva porāṇaṃ aggaññaṃ akkharaṃ anusaranti, na tvevassa atthaṃ ājānanti.

13. Này Vàsettha, những hữu tình ấy, thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu.

Này Vàsettha, vì các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp.

Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta."

Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất.

Khi vị của đất biến mất, họ hội họp lại và kêu than: "Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!", như ngày nay, khi loài Người có được vị ngon liền nói: "Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!" Như vậy họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

13. ‘And those beings continued for a very long time feasting on this savoury earth, feeding on it and being nourished by it.

And as they did so, their bodies became coarser, (830) and a difference in looks developed among them. Some beings became good-looking, others ugly.

And the good-looking ones despised the others, saying: “We are better-looking than they are.”

And because they became arrogant and conceited about their looks, the savoury earth disappeared.

At this they came together and lamented, crying: “Oh that flavour! Oh that flavour!” And so nowadays when people say: “Oh that flavour!” when they get something nice, they are repeating an ancient saying without realising it.

bhūmipappaṭakapātubhāvo (DN 27)    
♦ 123. “atha kho tesaṃ, vāseṭṭha, sattānaṃ rasāya pathaviyā antarahitāya bhūmipappaṭako pāturahosi. seyyathāpi nāma ahicchattako, evameva pāturahosi. so ahosi vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno, seyyathāpi nāma sampannaṃ vā sappi sampannaṃ vā navanītaṃ evaṃvaṇṇo ahosi. seyyathāpi nāma khuddamadhuṃ aneḷakaṃ, evamassādo ahosi.

14. Này Vàsettha, khi vị đất đã biến mất với các hữu tình ấy, thời một loại nấm đất hiện ra. Như hình con rắn, chúng hiện ra như vậy.

Loại nấm ấy có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại nấm này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của đất như mật ong thuần tịnh.

14. ‘And then, when the savoury earth had disappeared, [87] a fungus (831) cropped up, in the manner of a mushroom.

It was of a good colour, smell, and taste. It was the colour of fine ghee or butter, and it was very sweet, like pure wild honey.

♦ “atha kho te, vāseṭṭha, sattā bhūmipappaṭakaṃ upakkamiṃsu paribhuñjituṃ. te taṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhaṃsu. yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā bhūmipappaṭakaṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhaṃsu, tathā tathā tesaṃ sattānaṃ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṃ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha. ekidaṃ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṃ sattā dubbaṇṇā. tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti — ‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti. tesaṃ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṃ bhūmipappaṭako antaradhāyi.

Này Vàsettha, những hữu tình ấy bắt đầu ăn thứ nấm đất. Họ thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu.

Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắc đẹp của chúng lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp.

Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta".

Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, nấm đất biến mất.

Khi nấm đất biến mất cỏ và cây leo hiện ra. Như loại cây tre, chúng hiện ra như vậy. Loại cây leo này có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại cây này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của loại cây leo này như mật ong thuần tịnh.

And those beings set to and ate the fungus. And this lasted for a very long time.

And as they continued to feed on the fungus, so their bodies became coarser still, and the difference in their looks increased still more.

And the good-looking ones despised the others ...

And because they became arrogant and conceited about their looks, the sweet fungus disappeared.

Next, creepers appeared, shooting up like bamboo..., and they too were very sweet, like pure wild honey.

padālatāpātubhāvo (DN 27)    
♦ 124. “bhūmipappaṭake antarahite padālatā {saddālatā (sī.)} pāturahosi, seyyathāpi nāma kalambukā {kalambakā (syā.)}, evameva pāturahosi. sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā, seyyathāpi nāma sampannaṃ vā sappi sampannaṃ vā navanītaṃ evaṃvaṇṇā ahosi. seyyathāpi nāma khuddamadhuṃ aneḷakaṃ, evamassādā ahosi. 15. Này Vàsettha, các hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo này. Chúng bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu. 15. ‘And those beings set to and fed on those creepers. And as they did so, their bodies became even coarser, and the difference in their looks increased still more... [88]
♦ “atha kho te, vāseṭṭha, sattā padālataṃ upakkamiṃsu paribhuñjituṃ. te taṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhaṃsu. yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā padālataṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhaṃsu, tathā tathā tesaṃ sattānaṃ bhiyyosomattāya kharattañceva kāyasmiṃ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha. ekidaṃ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṃ sattā dubbaṇṇā. tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti — ‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti. tesaṃ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṃ padālatā antaradhāyi.

Này Vàsettha, vì những hữu tình này bắt đàu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp.

Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta."

Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, cỏ và cây leo biến mất.

Khi cỏ và cây leo biến mất, họ hội họp lại và kêu than: "Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta, nay cỏ và cây leo đã biến đi!";

And they became still more arrogant, and so the creepers disappeared too.

At this they came together and lamented, crying: “Alas, our creeper’s gone! What have we lost!”

♦ “padālatāya antarahitāya sannipatiṃsu. sannipatitvā anutthuniṃsu — ‘ahu vata no, ahāyi vata no padālatā’ti! tadetarahipi manussā kenaci {kenacideva (sī. syā. pī.)} dukkhadhammena phuṭṭhā evamāhaṃsu — ‘ahu vata no, ahāyi vata no’ti! tadeva porāṇaṃ aggaññaṃ akkharaṃ anusaranti, na tvevassa atthaṃ ājānanti. như ngày nay khi loài Người được hỏi cái gì làm cho đau khổ, bèn trả lời: "Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta!" Như vậy, họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó. And so now today when people, on being asked why they are upset, say: “Oh, what have we lost!” they are repeating an ancient saying without realising it.
akaṭṭhapākasālipātubhāvo (DN 27)    
♦ 125. “atha kho tesaṃ, vāseṭṭha, sattānaṃ padālatāya antarahitāya akaṭṭhapāko sāli pāturahosi akaṇo athuso suddho sugandho taṇḍulapphalo. yaṃ taṃ sāyaṃ sāyamāsāya āharanti, pāto taṃ hoti pakkaṃ paṭivirūḷhaṃ. yaṃ taṃ pāto pātarāsāya āharanti, sāyaṃ taṃ hoti pakkaṃ paṭivirūḷhaṃ; nāpadānaṃ paññāyati. atha kho te, vāseṭṭha, sattā akaṭṭhapākaṃ sāliṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhaṃsu.

16. Này Vàsettha, khi các loại cỏ, cây leo biến mất, thời lúa xuất hiện tại các khoảng trống, không có cám, không có vỏ, có mùi thơm và bột trơn nhẵn.

Chỗ nào vào buổi chiều họ mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy, vào buổi sáng, lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, họ mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy, vào buổi chiều lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn.

Này Vàsettha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu.

16. ‘And then, after the creepers had disappeared, rice appeared in open spaces, (832) free from powder and from husks, fragrant and clean-grained. (833)

And what they had taken in the evening for supper had grown again and was ripe in the morning, and what they had taken in the morning for breakfast was ripe again by evening, with no sign of reaping.

And these beings set to and fed on this rice, and this lasted for a very long time.

itthipurisaliṅgapātubhāvo (DN 27)    
♦ 126. “yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā akaṭṭhapākaṃ sāliṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhaṃsu, tathā tathā tesaṃ sattānaṃ bhiyyosomattāya kharattañceva kāyasmiṃ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha, itthiyā ca itthiliṅgaṃ pāturahosi purisassa ca purisaliṅgaṃ. itthī ca purisaṃ ativelaṃ upanijjhāyati puriso ca itthiṃ. tesaṃ ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyataṃ sārāgo udapādi, pariḷāho kāyasmiṃ okkami. te pariḷāhapaccayā methunaṃ dhammaṃ paṭiseviṃsu.

Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt.

Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện; về phái nam, nam tánh xuất hiện. Phái nữ nhìn phái nam hết sức kỹ lưỡng, phái nam nhìn phái nữ hết sức kỹ lưỡng.

Vì họ nhìn nhau kỹ lưỡng như vậy nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể bắt đầu. Do sự ái luyến, họ làm các hạnh dâm.

And as they did so, their bodies became coarser still, and the difference in their looks became even greater.

And the females developed female sex organs, (834) and the males developed male organs. And the women became excessively preoccupied with men, and the men with women.

Owing to this excessive preoccupation with each other, passion was aroused, and their bodies burnt with lust.

♦ “ye kho pana te, vāseṭṭha, tena samayena sattā passanti methunaṃ dhammaṃ paṭisevante, aññe paṃsuṃ khipanti, aññe seṭṭhiṃ khipanti, aññe gomayaṃ khipanti — ‘nassa asuci {vasali (syā.), vasalī (ka.)}, nassa asucī’ti. ‘kathañhi nāma satto sattassa evarūpaṃ karissatī’ti! tadetarahipi manussā ekaccesu janapadesu vadhuyā nibbuyhamānāya {nivayhamānāya, niggayhamānāya (ka.)} aññe paṃsuṃ khipanti, aññe seṭṭhiṃ khipanti, aññe gomayaṃ khipanti. tadeva porāṇaṃ aggaññaṃ akkharaṃ anusaranti, na tvevassa atthaṃ ājānanti.

Này Vàsettha, lúc bấy giờ những chúng sanh ấy thấy làm các hạnh dâm như vậy, người thì quăng bùn, người thì quăng tro, người thì quăng phân bò và nói: "Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế! Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?";

như ngày nay, tại một số quốc độ, khi một cô dâu được rước đi, có người quăng bùn, có người quăng tro, có người quăng phân bò. Như vậy, chúng theo văn tự truyền thống xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

And later, because of this burning, they indulged in sexual activity. (835) But those who saw them indulging threw dust, ashes or [89] cow-dung at them, crying: “Die, you filthy beast! How can one being do such things to another!”

Just as today, in some districts, when a daughter-in-law is led out, some people throw dirt at her, some ashes, and some cow-dung, without realising that they are repeating an ancient observance. What was considered bad form in those days is now considered good form. (836)

methunadhammasamācāro (DN 27)    
♦ 127. “adhammasammataṃ kho pana {adhammasammataṃ taṃ kho pana (syā.), adhammasammataṃ kho pana taṃ (?)}, vāseṭṭha, tena samayena hoti, tadetarahi dhammasammataṃ. ye kho pana, vāseṭṭha, tena samayena sattā methunaṃ dhammaṃ paṭisevanti, te māsampi dvemāsampi na labhanti gāmaṃ vā nigamaṃ vā pavisituṃ. yato kho te, vāseṭṭha, sattā tasmiṃ asaddhamme ativelaṃ pātabyataṃ āpajjiṃsu. atha agārāni upakkamiṃsu kātuṃ tasseva asaddhammassa paṭicchādanatthaṃ. atha kho, vāseṭṭha, aññatarassa sattassa alasajātikassa etadahosi — ‘ambho, kimevāhaṃ vihaññāmi sāliṃ āharanto sāyaṃ sāyamāsāya pāto pātarāsāya! yaṃnūnāhaṃ sāliṃ āhareyyaṃ sakiṃdeva {sakiṃdeva (ka.)} sāyapātarāsāyā’ti !

17. Này Vàsettha, lúc bấy giờ việc làm được xem là phi pháp nay được xem là đúng pháp. Này Vàsettha, lúc bấy giờ các loài hữu tình ấy hành dâm không được phép vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Vì những hữu tình ấy lúc bấy giờ chỉ trích mau chóng, vì hành động phi pháp, họ bắt đầu làm lầu, làm nhà để che dấu những hành động phi pháp của họ.

Này Vàsettha, có loài hữu tình bản tánh biếng nhác tự nghĩ: "Sao ta lại tự làm ta mỏi mệt bằng cách đi tìm lúa buổi chiều cho buổi ăn chiều, buổi sáng cho buổi ăn sáng? Sao ta lại không tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều và buổi ăn sáng?"

17. ‘And those beings who in those days indulged in sex were not allowed into a village or town for one or two months. Accordingly those who indulged for an excessively long period in such immoral practices began to build themselves dwellings so as to indulge under cover. (837)

‘Now it occurred to one of those beings who was inclined to laziness: “Well now, why should I be bothered to gather rice in the evening for supper and in the morning for breakfast?

♦ “atha kho so, vāseṭṭha, satto sāliṃ āhāsi sakiṃdeva sāyapātarāsāya. atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ sattaṃ etadavoca — ‘ehi, bho satta, sālāhāraṃ gamissāmā’ti. ‘alaṃ, bho satta, āhato {āhaṭo (syā.)} me sāli sakiṃdeva sāyapātarāsāyā’ti. atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṃ āpajjamāno sāliṃ āhāsi sakiṃdeva dvīhāya. ‘evampi kira, bho, sādhū’ti.

Này Vàsettha, loài hữu tình ấy tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều, cả buổi ăn sáng. Một hữu tình khác đến vị hữu tình này và nói:

- Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!

- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần, cả cho buổi chiều và buổi sáng.

Này Vàsettha, vị này noi theo vị hữu tình kia, đi tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày.

- Này Bạn, như vậy là tốt.

Why shouldn’t I gather it all at once for both meals?” And he did so. Then another one came to him and said:

“Come on, let’s go rice-gathering.”

“No need, my friend, I’ve gathered enough for both meals.”

Then the other, following his example, gathered enough rice for two days at a time, saying:

“That should be about enough.”

♦ “atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ sattaṃ etadavoca — ‘ehi, bho satta, sālāhāraṃ gamissāmā’ti. ‘alaṃ, bho satta, āhato me sāli sakiṃdeva dvīhāyā’ti. atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṃ āpajjamāno sāliṃ āhāsi sakiṃdeva catūhāya, ‘evampi kira, bho, sādhū’ti.

Này Vàsettha, rồi một hữu tình khác đến vị hữu tình ấy và nói:

- Này Bạn chúng ta hãy đi tìm lúa.

- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày rồi.

Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho bốn ngày.

- Này Bạn, như vậy là tốt.

Then another being came and said [90] to that second one:

“Come on, let’s go rice-gathering.”

“No need, my friend, I’ve gathered enough for two days.”

(The same for 4, then 8, days).

♦ “atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ sattaṃ etadavoca — ‘ehi, bho satta, sālāhāraṃ gamissāmā’ti. ‘alaṃ, bho satta, āhato me sāli sakideva catūhāyā’ti. atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṃ āpajjamāno sāliṃ āhāsi sakideva aṭṭhāhāya, ‘evampi kira, bho, sādhū’ti.

Này Vàsettha, một vị hữu tình khác lại đến vị hữu tình này và nói:

- Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!

- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả bốn ngày!

Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho tám ngày.

- Này Bạn, như vậy là tốt.

 
♦ “yato kho te, vāseṭṭha, sattā sannidhikārakaṃ sāliṃ upakkamiṃsu paribhuñjituṃ. atha kaṇopi taṇḍulaṃ pariyonandhi, thusopi taṇḍulaṃ pariyonandhi; lūnampi nappaṭivirūḷhaṃ, apadānaṃ paññāyittha, saṇḍasaṇḍā sālayo aṭṭhaṃsu. Này Vàsettha, những vị hữu tình kia, bắt đầu tích trữ lúa để ăn, và cám bắt đầu bao bọc hột gạo trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa; và các cây lúa bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn; và cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. However, when those beings made a store of rice and lived on that, husk-powder and husk began to envelop the grain, and where it was reaped it did not grow again, and the cut place showed, and the rice grew in separate clusters.
sālivibhāgo (DN 27)    
♦ 128. “atha kho te, vāseṭṭha, sattā sannipatiṃsu, sannipatitvā anutthuniṃsu — ‘pāpakā vata, bho, dhammā sattesu pātubhūtā. mayañhi pubbe manomayā ahumhā pītibhakkhā sayaṃpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhamhā. tesaṃ no amhākaṃ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena rasapathavī udakasmiṃ samatani. sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā. te mayaṃ rasapathaviṃ hatthehi āluppakārakaṃ upakkamimha paribhuñjituṃ, tesaṃ no rasapathaviṃ hatthehi āluppakārakaṃ upakkamataṃ paribhuñjituṃ sayaṃpabhā antaradhāyi. sayaṃpabhāya antarahitāya candimasūriyā pāturahesuṃ, candimasūriyesu pātubhūtesu nakkhattāni tārakarūpāni pāturahesuṃ, nakkhattesu tārakarūpesu pātubhūtesu rattindivā paññāyiṃsu, rattindivesu paññāyamānesu māsaḍḍhamāsā paññāyiṃsu. māsaḍḍhamāsesu paññāyamānesu utusaṃvaccharā paññāyiṃsu. te mayaṃ rasapathaviṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhamhā. tesaṃ no pāpakānaṃyeva akusalānaṃ dhammānaṃ pātubhāvā rasapathavī antaradhāyi. rasapathaviyā antarahitāya bhūmipappaṭako pāturahosi. so ahosi vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno. te mayaṃ bhūmipappaṭakaṃ upakkamimha paribhuñjituṃ. te mayaṃ taṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhamhā. tesaṃ no pāpakānaṃyeva akusalānaṃ dhammānaṃ pātubhāvā bhūmipappaṭako antaradhāyi. bhūmipappaṭake antarahite padālatā pāturahosi. sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā. te mayaṃ padālataṃ upakkamimha paribhuñjituṃ. te mayaṃ taṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhamhā. tesaṃ no pāpakānaṃyeva akusalānaṃ dhammānaṃ pātubhāvā padālatā antaradhāyi. padālatāya antarahitāya akaṭṭhapāko sāli pāturahosi akaṇo athuso suddho sugandho taṇḍulapphalo. yaṃ taṃ sāyaṃ sāyamāsāya āharāma, pāto taṃ hoti pakkaṃ paṭivirūḷhaṃ. yaṃ taṃ pāto pātarāsāya āharāma, sāyaṃ taṃ hoti pakkaṃ paṭivirūḷhaṃ. nāpadānaṃ paññāyittha. te mayaṃ akaṭṭhapākaṃ sāliṃ paribhuñjantā taṃbhakkhā tadāhārā ciraṃ dīghamaddhānaṃ aṭṭhamhā. tesaṃ no pāpakānaṃyeva akusalānaṃ dhammānaṃ pātubhāvā kaṇopi taṇḍulaṃ pariyonandhi, thusopi taṇḍulaṃ pariyonandhi, lūnampi nappaṭivirūḷhaṃ, apadānaṃ paññāyittha, saṇḍasaṇḍā sālayo ṭhitā. yaṃnūna mayaṃ sāliṃ vibhajeyyāma, mariyādaṃ ṭhapeyyāmā’ti! atha kho te, vāseṭṭha, sattā sāliṃ vibhajiṃsu, mariyādaṃ ṭhapesuṃ.

18. Này Vàsettha, các loài hữu tình ấy hội họp lại và than phiền:

- Này các Bạn, các ác pháp đã hiện ra giữa các loài hữu tình. Chúng ta trước kia do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài.

Ðối với chúng ta, sau một thời gian khá dài, vị của đất hiện ra. Vị đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu bẻ đất từng cục bằng tay để ăn vị đất. Vì bắt đầu bẻ đất bằng tay từng cục để ăn, nên hào quang biến mất.

Vì hào quang biến mất nên mặt trời, mặt trăng hiện ra. Vì mặt trăng, mặt trời hiện ra nên các sao và chùm sao hiện ra. Vì các sao và chùm sao hiện ra, nên đêm, ngày hiện ra.

Vì đêm, ngày hiện ra, nên nửa tháng và tháng hiện ra. Vì nửa tháng và tháng hiện ra, nên thời tiết và năm hiện ra.

Chúng ta thưởng thức vị đất, lấy vị đất làm chất ăn, lấy vị đất làm món ăn trong một thời gian khá dài.

Khi ác bất thiện pháp khởi lên giữa chúng ta, vị đất biến mất. Vì vị đất biến mất, nên nấm đất hiện ra. Nấm đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức nấm đất ấy, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá dài.

Vì các ác, bất thiện pháp này khởi lên giữa chúng ta nên nấm đất biến mất. Vì nấm đất biến mất, nên cỏ và cây leo hiện ra. Cỏ và cây leo này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức cỏ và cây leo ấy, lấy cỏ và cây leo làm chất ăn, lấy cỏ và cây leo làm món ăn trong một thời gian khá dài.

Vì các ác, bất thiện pháp này xảy ra giữa chúng ta nên cỏ và cây leo biến mất. Vì cỏ và cây leo biến mất, nên lúa mọc tại khoảng trống hiện ra, không có cám, không có vỏ, thuần tịnh, có mùi thơm và hột trơn nhẵn.

Chỗ nào vào buổi chiều, chúng ta mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy vào buổi sáng lúa lại mọc lớn và chín.

Chỗ nào vào buổi sáng, chúng ta mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy vào buổi chiều, lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn.

Chúng ta thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá dài.

Vì các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên giữa chúng ta, cám bắt đầu bọc hột lúa trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa trơn nhẵn; và các cây lúc bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn. Và các cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. Vậy nay, chúng ta hãy chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.

Này Vàsettha, các loại hữu tình ấy phân chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.

18. ‘And then those beings came together lamenting:

“Wicked ways have become rife among us: at first we were mind-made, feeding on delight...

(all events repeated down to the latest development, each fresh change being said to be due to ‘wicked and unwholesome ways’)... [91] [92]

and the rice grows in separate clusters. So now let us divide up the rice into fields with boundaries.” So they did so.

♦ 129. “atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto lolajātiko sakaṃ bhāgaṃ parirakkhanto aññataraṃ {aññassa (?)} bhāgaṃ adinnaṃ ādiyitvā paribhuñji. tamenaṃ aggahesuṃ, gahetvā etadavocuṃ — ‘pāpakaṃ vata, bho satta, karosi, yatra hi nāma sakaṃ bhāgaṃ parirakkhanto aññataraṃ bhāgaṃ adinnaṃ ādiyitvā paribhuñjasi. māssu, bho satta, punapi evarūpamakāsī’ti. ‘evaṃ, bho’ti kho, vāseṭṭha, so satto tesaṃ sattānaṃ paccassosi. dutiyampi kho, vāseṭṭha, so satto ... pe ... tatiyampi kho, vāseṭṭha, so satto sakaṃ bhāgaṃ parirakkhanto aññataraṃ bhāgaṃ adinnaṃ ādiyitvā paribhuñji. tamenaṃ aggahesuṃ, gahetvā etadavocuṃ — ‘pāpakaṃ vata, bho satta, karosi, yatra hi nāma sakaṃ bhāgaṃ parirakkhanto aññataraṃ bhāgaṃ adinnaṃ ādiyitvā paribhuñjasi. māssu, bho satta, punapi evarūpamakāsī’ti. aññe pāṇinā pahariṃsu, aññe leḍḍunā pahariṃsu, aññe daṇḍena pahariṃsu. tadagge kho, vāseṭṭha, adinnādānaṃ paññāyati, garahā paññāyati, musāvādo paññāyati, daṇḍādānaṃ paññāyati.

19. Này Vàsettha, có vị hữu tình, bản tánh biếng nhác, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người ấy và nói:

- Này Ngươi, Ngươi đã làm ác pháp, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Nhà Ngươi chớ có làm như vậy nữa.

- Thưa Bạn, vâng!

Này Vàsettha, người này vâng theo lời nói của những người ấy. Này Vàsettha, một lần thứ hai... Này Vàsettha một lần thứ ba, người này gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người này và nói:

- Này Ngươi, Ngươi đã làm điều ác, vì Ngươi gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy... Ngươi chớ có làm như vậy nữa.

Có người đập anh ta bằng tay, có người đập anh ta bằng đá, có người đập anh ta bằng gậy.

Này Vàsettha, bắt đầu như vậy, lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện.

19. ‘Then, Vāseṭṭha, one greedy-natured being, while watching over his own plot, took another plot that was not given to him, and enjoyed the fruits of it. So they seized hold of him and said:

“You’ve done a wicked thing, taking another’s plot like that! Don’t ever do such a thing again!”

“I won’t”, he said, but he did the same thing a second and a third time. Again he was seized and rebuked,

and some hit him with their fists, some with stones, and some with sticks.

And in this way, Vāseṭṭha, taking what was not given, and censuring, and lying, and punishment, took their origin.

mahāsammatarājā (DN 27)    
♦ 130. “atha kho te, vāseṭṭha, sattā sannipatiṃsu, sannipatitvā anutthuniṃsu — ‘pāpakā vata bho dhammā sattesu pātubhūtā, yatra hi nāma adinnādānaṃ paññāyissati, garahā paññāyissati, musāvādo paññāyissati, daṇḍādānaṃ paññāyissati. yaṃnūna mayaṃ ekaṃ sattaṃ sammanneyyāma, yo no sammā khīyitabbaṃ khīyeyya, sammā garahitabbaṃ garaheyya, sammā pabbājetabbaṃ pabbājeyya. mayaṃ panassa sālīnaṃ bhāgaṃ anuppadassāmā’ti.

20. Này Vàsettha, những loài hữu tình ấy hội họp lại và than khóc:

- Này Tôn giả, ác pháp đã khởi lên giữa các loài hữu tình, trong hình thức lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt xuất hiện.

20. ‘Then those beings came together and lamented the arising of these evil things among them: taking what was not given, censuring, lying and punishment. And they thought:
♦ “atha kho te, vāseṭṭha, sattā yo nesaṃ satto abhirūpataro ca dassanīyataro ca pāsādikataro ca mahesakkhataro ca taṃ sattaṃ upasaṅkamitvā etadavocuṃ — ‘ehi, bho satta, sammā khīyitabbaṃ khīya, sammā garahitabbaṃ garaha, sammā pabbājetabbaṃ pabbājehi. mayaṃ pana te sālīnaṃ bhāgaṃ anuppadassāmā’ti. ‘evaṃ, bho’ti kho, vāseṭṭha, so satto tesaṃ sattānaṃ paṭissuṇitvā sammā khīyitabbaṃ khīyi, sammā garahitabbaṃ garahi, sammā pabbājetabbaṃ pabbājesi. te panassa sālīnaṃ bhāgaṃ anuppadaṃsu.

Chúng ta hãy đề cử một người. Người ấy sẽ tức giận khi đáng phải tức giận, khiển trách khi đáng phải khiển trách, hay tẩn xuất khi đáng phải tẩn xuất. Chúng tôi sẽ dành cho Người một phần lúa của chúng tôi.

- Xin vâng, các Tôn giả!

Này Vàsettha, vị hữu tình này vâng theo các vị hữu tình kia, tức giận khi đáng tức giận, khiển trách khi đáng khiển trách, tẩn xuất khi đáng tẩn xuất. Và các vị hữu tình kia chia cho vị này một phần lúa.

“Suppose we were to appoint a certain being who would show anger where anger was due, censure those who deserved it, and banish those who deserved banishment! And in return, we would grant him a share of the rice.” [93]

So they went to the one among them who was the handsomest, the best-looking, the most pleasant and capable, and asked him to do this for them in return for a share of the rice, and he agreed.

♦ 131. “mahājanasammatoti kho, vāseṭṭha, ‘mahāsammato, mahāsammato’ tveva paṭhamaṃ akkharaṃ upanibbattaṃ. khettānaṃ adhipatīti kho, vāseṭṭha, ‘khattiyo, khattiyo’ tveva dutiyaṃ akkharaṃ upanibbattaṃ. dhammena pare rañjetīti kho, vāseṭṭha, ‘rājā, rājā’ tveva tatiyaṃ akkharaṃ upanibbattaṃ. iti kho, vāseṭṭha, evametassa khattiyamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṃyeva sattānaṃ, anaññesaṃ. sadisānaṃyeva, no asadisānaṃ. dhammeneva, no adhammena. dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṃ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.

21. Này Vàsettha, được lựa chọn bởi đại chúng, tức là Mahà-sammato. Danh từ Mahà-sammato là danh từ đầu tiên được khởi lên.

Này Vàsettha, "Vị chủ của ruộng vườn" tức là Khattiyà, là danh từ thứ hai được khởi lên"

Làm cho các người khác hoan hỷ bởi Pháp", tức là Ràja (vị vua). Ràja là danh từ thứ ba được khởi lên.

Này Vàsettha, như vậy là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của Khattiya theo danh từ truyền thống cổ xưa.

Nguồn gốc của chúng ta ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng pháp tắc (dhamma), không phải phi pháp.

Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

21. “‘The People’s Choice” is the meaning of MahāSammata, (838) which is the first regular title (839) to be introduced.

“Lord Of The Fields” is the meaning of Khattiya, (840) the second such title.

And “He Gladdens Others With Dhamma” is the meaning of Raja, (841) the third title to be introduced.

This, then, Vāseṭṭha, is the origin of the class of Khattiyas, in accordance with the ancient titles that were introduced for them.

They originated among these very same beings, like ourselves, no different, and in accordance with Dhamma, not otherwise.

Dhamma’s the best thing for people

In this life and the next as well.

brāhmaṇamaṇḍalaṃ (DN 27)    
♦ 132. “atha kho tesaṃ, vāseṭṭha, sattānaṃyeva {tesaṃ yeva kho vāseṭṭha sattānaṃ (sī. pī.)} ekaccānaṃ etadahosi — ‘pāpakā vata, bho, dhammā sattesu pātubhūtā, yatra hi nāma adinnādānaṃ paññāyissati, garahā paññāyissati, musāvādo paññāyissati, daṇḍādānaṃ paññāyissati, pabbājanaṃ paññāyissati. yaṃnūna mayaṃ pāpake akusale dhamme vāheyyāmā’ti. te pāpake akusale dhamme vāhesuṃ. pāpake akusale dhamme vāhentīti kho, vāseṭṭha, ‘brāhmaṇā, brāhmaṇā’ tveva paṭhamaṃ akkharaṃ upanibbattaṃ. te araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṃ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā {ghāsamesanā (sī. syā. pī.)}. te ghāsaṃ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyanti. tamenaṃ manussā disvā evamāhaṃsu — ‘ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti, vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṃ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā. te ghāsaṃ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyantī’ti, jhāyantīti kho {paṇṇakuṭīsu jhāyanti jhāyantīti kho (sī. pī.), paṇṇakuṭīsu jhāyantīti kho (ka.)}, vāseṭṭha, ‘jhāyakā, jhāyakā’ tveva dutiyaṃ akkharaṃ upanibbattaṃ. tesaṃyeva kho, vāseṭṭha, sattānaṃ ekacce sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṃ jhānaṃ anabhisambhuṇamānā {anabhisaṃbhūnamānā (katthaci)} gāmasāmantaṃ nigamasāmantaṃ osaritvā ganthe karontā acchanti. tamenaṃ manussā disvā evamāhaṃsu — ‘ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṃ jhānaṃ anabhisambhuṇamānā gāmasāmantaṃ nigamasāmantaṃ osaritvā ganthe karontā acchanti, na dānime jhāyantī’ti. na dānime {na dānime jhāyantī na dānime (sī. pī. ka.)} jhāyantīti kho, vāseṭṭha, ‘ajjhāyakā ajjhāyakā’ tveva tatiyaṃ akkharaṃ upanibbattaṃ. hīnasammataṃ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti, tadetarahi seṭṭhasammataṃ. iti kho, vāseṭṭha, evametassa brāhmaṇamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṃyeva sattānaṃ, anaññesaṃ sadisānaṃyeva no asadisānaṃ dhammeneva, no adhammena. dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṃ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.

22. Này Vàsettha, một số các vị hữu tình suy nghĩ:

- Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đã hiện ra giữa các loại hữu tình, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, hình phạt, tẩn xuất. Chúng ta hãy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.

Các vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên.

Những vị nầy lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà chòi bằng lá ấy.

Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong các khu rừng để tu thiền.

Các người khác thấy vậy, nói như sau:

- Này các Tôn giả, những loài hữu tình này lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những chòi bằng lá ấy.

Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền.

Này Vàsettha, họ "Jhàyanti", tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jahàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.

23. Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:

"Này các Tôn giả, những loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, đã đi xuống xung quanh làng, xuống xung quah thị xã để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.

Này Vàsettha, "Na dàn ime Jhàyanti" tức là ajjhàyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên.

Này Vàsettha, thời ấy họ thuộc hạ cấp. Nay họ xem là cao thượng nhất. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Bà-la-môn, theo danh từ truyền thống cổ xưa.

Nguồn gốc của họ là ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp.

Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

22. ‘Then some of these beings thought:

“Evil things have appeared among beings, such as taking what is not given, censuring, lying, punishment and banishment. We ought to put aside evil and unwholesome things.”

And they did [94] so. “They Put Aside (842) Evil And Unwholesome Things” is the meaning of Brahmin, (843) which is the first regular title to be introduced for such people.

They made leaf-huts in forest places and meditated in them.

With the smoking fire gone out, with pestle cast aside, gathering alms for their evening and morning meals, they went away to a village, town or royal city to seek their food, and then they returned to their leaf-huts to meditate.

People saw this and noted how they meditated.

“They Meditate” (844) is the meaning of Jhayaka, (845) which is the second regular title to be introduced.

23. ‘However, some of those beings, not being able to meditate in leaf-huts, settled around towns and villages and compiled books. (846) People saw them doing this and not meditating.

“Now These Do Not Meditate” (847) is the meaning of Ajjhāyaka, (848) which is the third regular title to be introduced.

At that time it was regarded as a low designation, but now it is the higher. This, then, Vāseṭṭha, is the origin of the class of Brahmins in accordance with the ancient titles that were introduced for them. [95]

Their origin was from among these very same beings, like themselves, no different, and in accordance with Dhamma, not otherwise.

Dhamma’s the best thing for people

In this life and the next as well.

vessamaṇḍalaṃ (DN 27)    
♦ 133. “tesaṃyeva kho, vāseṭṭha, sattānaṃ ekacce sattā methunaṃ dhammaṃ samādāya visukammante {vissutakammante (sī. pī.), vissukammante (ka. sī.), visuṃ kammante (syā. ka.)} payojesuṃ. methunaṃ dhammaṃ samādāya visukammante payojentīti kho, vāseṭṭha, ‘vessā, vessā’ tveva akkharaṃ upanibbattaṃ. iti kho, vāseṭṭha, evametassa vessamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaññeva sattānaṃ anaññesaṃ sadisānaṃyeva, no asadisānaṃ, dhammeneva no adhammena. dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṃ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.

24. Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, theo pháp dâm dục, thiết lập các nghề nghiệp sai khác (Vissuta). Này Vàsettha, những ai theo pháp dâm dục, thiết lập ra các nghề nghiệp sai khác, như vậy gọi là Vessà. Danh từ Vessà được khởi lên.

Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Vessà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp.

Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

24. ‘And then, Vāseṭṭha, some of those beings, having paired off, (849) adopted various trades, and this “Various” (850) is the meaning of Vessa, which came to be the regular title for such people.

This, then, is the origin of the class of Vessas, in accordance with the ancient titles that were introduced for them. Their origin was from among these very same beings...

suddamaṇḍalaṃ (DN 27)    
♦ 134. “tesaññeva kho, vāseṭṭha, sattānaṃ ye te sattā avasesā te luddācārā khuddācārā ahesuṃ. luddācārā khuddācārāti kho, vāseṭṭha, ‘suddā, suddā’ tveva akkharaṃ upanibbattaṃ. iti kho, vāseṭṭha, evametassa suddamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṃyeva sattānaṃ anaññesaṃ, sadisānaṃyeva no asadisānaṃ, dhammeneva, no adhammena. dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṃ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.

25. Này Vàsettha, một số loài hữu tình còn lại lựa chọn săn bắn. Những ai sống săn bắn và theo các nghề hèn nhỏ, này Vàsettha, được gọi là Suddà. Và danh từ Suddà được khởi lên.

Như vậy, này Vàsettha, là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Suddà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp.

Này Vàsettha như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

25. ‘And then, Vāseṭṭha, those beings that remained went in for hunting. “They Are Base Who Live By The Chase”, and that is the meaning of Sudda, (851) which came to be the regular title for such people.

This, then, is the origin of the class of Suddas (852) in accordance with the ancient titles that were introduced for them. Their origin was from among these very same beings...

♦ 135. “ahu kho so, vāseṭṭha, samayo, yaṃ khattiyopi sakaṃ dhammaṃ garahamāno agārasmā anagāriyaṃ pabbajati — ‘samaṇo bhavissāmī’ti. brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha ... pe ... vessopi kho, vāseṭṭha ... pe ... suddopi kho, vāseṭṭha, sakaṃ dhammaṃ garahamāno agārasmā anagāriyaṃ pabbajati — ‘samaṇo bhavissāmī’ti. imehi kho, vāseṭṭha, catūhi maṇḍalehi samaṇamaṇḍalassa abhinibbatti ahosi, tesaṃyeva sattānaṃ anaññesaṃ, sadisānaṃyeva no asadisānaṃ, dhammeneva no adhammena. dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṃ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.

26. Này Vàsettha, một thời có vị Khattiya (Sát đế lỵ) tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn".

Vị Bà-la-môn, tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn".

Vị Vessà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn".

Vị Suddà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn".

Này Vàsettha, giai cấp Samana (Sa môn) được khởi lên từ bốn giai cấp ấy. Nguồn gốc của Sa môn là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp.

Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

26. ‘And then, Vāseṭṭha, it came about that some Khattiya, dissatisfied with his own Dhamma, (853) went forth from the household life into homelessness, thinking: “I will become an ascetic.”

And a Brahmin did likewise,

a Vessa did [96] likewise,

and so did a Sudda.

And from these four classes the class of ascetics came into existence. Their origin was from among these very same beings, like themselves, no different, and in accordance with Dhamma, not otherwise.

Dhamma’s the best thing for people

In this life and the next as well.

duccaritādikathā (DN 27)    
♦ 136. “khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena duccaritaṃ caritvā vācāya duccaritaṃ caritvā manasā duccaritaṃ caritvā micchādiṭṭhiko micchādiṭṭhikammasamādāno {idaṃ padaṃ sī. ipotthakesu natthi} micchādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati. brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha ... pe ... vessopi kho, vāseṭṭha... suddopi kho, vāseṭṭha... samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena duccaritaṃ caritvā vācāya duccaritaṃ caritvā manasā duccaritaṃ caritvā micchādiṭṭhiko micchādiṭṭhikammasamādāno micchādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati.

27. Này Vàsettha,vị Khattiya, làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này Vàsettha, vị Bà-la-môn ... Này Vàsettha,vị Vessà ... Này Vàsettha, vị Suddà làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

27. ‘And, Vāseṭṭha, a Khattiya who has led a bad life in body, speech and thought, and who has wrong view will, in consequence of such wrong views and deeds, at the breaking-up of the body after death, be reborn in a state of loss, an ill fate, the downfall, the hell-state.

So too will a Brahmin, a Vessa or a Sudda.

♦ “khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena sucaritaṃ caritvā vācāya sucaritaṃ caritvā manasā sucaritaṃ caritvā sammādiṭṭhiko sammādiṭṭhikammasamādāno {idaṃ padaṃ sī. pī. potthakesu natthi} sammādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha ... pe ... vessopi kho, vāseṭṭha... suddopi kho, vāseṭṭha... samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena sucaritaṃ caritvā vācāya sucaritaṃ caritvā manasā sucaritaṃ caritvā sammādiṭṭhiko sammādiṭṭhikammasamādāno sammādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati.

28. Này Vàsettha, vị Khattiya làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới.

Này Vàsettha, vị Bà-la-môn... Này Vàsettha, vị Sessà... Này Vàsettha, vị Suddà làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhớ duyên, sạu khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới.

28. ‘Likewise, a Khattiya who has led a good life in body, speech and thought, and who has right view will, in consequence of such right view and deeds, at the breaking-up of the body after death, be reborn in a good destiny, in a heaven-state.

So too will a Brahmin, a Vessa or a Sudda.

♦ 137. “khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena dvayakārī, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī, vimissadiṭṭhiko vimissadiṭṭhikammasamādāno vimissadiṭṭhikammasamādānahetu {vimissadiṭṭhiko vimissakammasamādāno vimissakammasamādānahetu (syā.), vītimissadiṭṭhiko vītimissadiṭṭhikammasamādānahetu (sī. pī.)} kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sukhadukkhappaṭisaṃvedī hoti. brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha ... pe ... vessopi kho, vāseṭṭha... suddopi kho, vāseṭṭha... samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena dvayakārī, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī, vimissadiṭṭhiko vimissadiṭṭhikammasamādāno vimissadiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sukhadukkhappaṭisaṃvedī hoti.

29. Này Vàsettha, vị Khattiya, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhân duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ.

Này Vàsettha, vị Bà-la-môn... Này Vàsettha, vị Vessà... Này Vàsettha, vị Suddà, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến, có tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ.

29. ‘And a Khattiya who has performed deeds of both kinds in body, speech and thought, and whose view is mixed will, in consequence of such mixed views and deeds, at the breaking-up of the body after death, experience both pleasure and pain.

So too will a Brahmin, [97] a Vessa or a Sudda.

bodhipakkhiyabhāvanā (DN 27)    
♦ 138. “khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena saṃvuto vācāya saṃvuto manasā saṃvuto sattannaṃ bodhipakkhiyānaṃ dhammānaṃ bhāvanamanvāya diṭṭheva dhamme parinibbāyati {parinibbāti (ka.)}. brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha ... pe ... vessopi kho vāseṭṭha... suddopi kho, vāseṭṭha ... samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena saṃvuto vācāya saṃvuto manasā saṃvuto sattannaṃ bodhipakkhiyānaṃ dhammānaṃ bhāvanamanvāya diṭṭheva dhamme parinibbāyati.

30. Này Vàsettha, vị Khattiya, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại.

Này Vàsettha, vị Bà-la-môn... vị Vessà... Này Vàsettha vị Suddà, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại.

30. ‘And a Khattiya who is restrained in body, speech and thought, and who has developed the seven requisites of enlightenment, (854) will attain to Parinibbana (855) in this very life.

So too will a Brahmin, a Vessa or a Sudda.

♦ 139. “imesañhi, vāseṭṭha, catunnaṃ vaṇṇānaṃ yo hoti bhikkhu arahaṃ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṃyojano sammadaññā vimutto so nesaṃ aggamakkhāyati dhammeneva. no adhammena. dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṃ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.

31. Này Vàsettha, trong bốn giai cấp này, vị Tỷ kheo, là bậc A la hán, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát.

Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp, đúng với Chánh pháp, không phải phi pháp.

Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cho cả đời sau.

31. ‘And, Vāseṭṭha, whoever of these four castes, as a monk, becomes an Arahant who has destroyed the corruptions, done what had to be done, laid down the burden, attained to the highest goal, completely destroyed the fetter of becoming, and become liberated by the highest insight,

he is declared to be chief among them in accordance with Dhamma, and not otherwise.

Dhamma’s the best thing for people

In this life and the next as well.

♦ 140. “brahmunā pesā, vāseṭṭha, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā —

♦ ‘khattiyo seṭṭho janetasmiṃ, ye gottapaṭisārino.

♦ vijjācaraṇasampanno, so seṭṭho devamānuse’ti.

32. Này Vàsettha, bài kệ sau đây được Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) tuyên thuyết:

Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.

32. ‘Vāseṭṭha, it was Brahmā Sanankumara who spoke this verse:

“The Khattiya’s best among those who value clan;

He with knowledge and conduct is best of gods and men.” 

♦ “sā kho panesā, vāseṭṭha, brahmunā sanaṅkumārena gāthā sugītā, no duggītā. subhāsitā, no dubbhāsitā. atthasaṃhitā, no anatthasaṃhitā. anumatā mayā. ahampi, vāseṭṭha, evaṃ vadāmi — Này Vàsettha, bài kệ này được Phạm thiên Sanamkumàra, khéo hát chớ không phải vụng hát, khéo nói chớ không phải vụng nói, đầy đủ ý nghĩa chớ không phải không đầy đủ, được Ta chấp nhận. Này Vàsettha, Ta cũng nói như sau: This verse was rightly sung, not wrongly, rightly spoken, not wrongly, connected with profit, not unconnected. I too say, Vāseṭṭha:

♦ ‘khattiyo seṭṭho janetasmiṃ, ye gottapaṭisārino.

♦ vijjācaraṇasampanno, so seṭṭho devamānuse’ti.

♦ idamavoca bhagavā. attamanā vāseṭṭhabhāradvājā bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.

aggaññasuttaṃ niṭṭhitaṃ catutthaṃ.

Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Vàsettha và Bhàradvàja hoan hỷ tín thọ lời giảng Thế Tôn.

[98] “The Khattiya’s best among those who value clan;

He with knowledge and conduct is best of gods and men.”’

Thus the Lord spoke, and Vāseṭṭha and Bhāradvāja were delighted and rejoiced at his words.

 

 

Notes: The numbers in square brackets [ ] in the actual text refer to the page number of the Dīgha Nikāya of the Pali Text Society's edition in Pali.

 

(810). This is a parallel fable to the previous Sutta, giving a slightly different account of ‘origins’, and including a devastating attack on the pretensions of the Brahmins. It has close links with Sutta 3, and RD refers to it in some detail in the introduction to that Sutta. He calls it a kind of Buddhist book of Genesis, which is fair enough if one pays attention to the differences. Here there is no creator god, and though we start (at verse 10) with something like the same state ‘in the beginning’, this is of course no absolute beginning but one of the eternally recurring ‘fresh starts’ in saṁsāra.

(811). She was called Visākhā, and her ‘mansion’ was a comparatively splendid structure, though still small to the modern way of thinking.

(812). See also DN 13.3.

(813). Or Vāseṭṭhā (vocative plural) with some manuscripts, as a way of addressing the two.

(814). Cf. DN 3.1.14, and also MN 84 and 93.

(815). They are of course priests of Brahmā.

(816). DN 3.1.14.

(817). The Buddhists always place the Khattiyas first. This was their original position, and still applied in the area of the Buddha’s ministry.

(818). Cf. DN 33.11. (29), also MN 57.

(819). Ohita-bhāro.

(820). Cf. DN 2.35 for the respect accorded to ascetics in general.

(821). Sakyaputta: ‘Son of the Sakyans’.

(822). Dhamma-kāya: a term which, as Dharmakāya, was destined to play a great role in Mahayana Buddhism.

(823). Brahmā here means ‘the highest’ but is used because the Buddha is speaking to Brahmins.

(824). The Tathagata, by his gaining of enlightenment by his own efforts, has become ‘the highest’.

(825). Cf. DN 1.2.2.

(826). Though born on earth they are still devas, not human beings.

(827). As devas from the Brahma World they are sexless.

(828). Rasa-paṭhavī. Note that all the various forms of food mentioned are vegetarian.

(829). In terms of a ‘Buddhist book of Genesis’ this would correspond to the eating of the fruit — but not of knowledge.

(830). Since these beings, however glorious, are unenlightened, they fall victim to craving (taṇhā) and thereby progressively lose their ethereal qualities.

(831). Bhūmi-pappaṭaka: the exact meaning is unknown. RD has ‘outgrowths’.

(832). In land free from the jungle (DA).

(833). This phrase may be a fragment of verse.

(834). As noted above, these beings were previously sexless. DA says ‘those who were women in a previous life.’

(835). Hitherto they had been ‘spontaneously born’, a process assumed to continue (see n.849).

(836). RD has gone wrong here, rendering this: ‘That which was considered immoral...’ The reference is not to the sexual activity, but to the throwing of dirt, etc. I have therefore transferred this sentence back from verse 17.

(837). The dwellings were constructed not for concealment (as implied by RD) so much as for shelter.

(838). Name of the first king of the solar race and ancestor, among others, of the Sakyan rulers (and hence of Gotama).

(839). Akkhara: later meaning letter (of the syllabary): see n.30.

(840). Associated with khetta ‘field’, an etymology which may not be altogether incorrect.

(841). Rājā: cognate with Latin rex, rēgis ‘king’, is here linked with the root of rāga ‘desire, lust’.

(842). Bāhenti.

(843). A wholly fanciful etymology, but one which throws a light on what was considered to be the ideal of a Brahmin.

(844). Jhāyanti: from the same root as jhāna, a preBuddhist type of meditation.

(845). ‘Meditator’.

(846). Ganthe: to assume written books would be anachronistic. DA says compiling the Vedas and teaching them.

(847). Na dan’ ime jhāyanti.

(848). Ajjhāyaka: ‘repeater’ is for adhy-āyaka, but could also be taken as a-jhāyaka ‘non-meditator’.

(849). ‘Adopting the sexual practice’ (methuna-dhamma), thus implying that the others were celibate.

(850). Vissa: ‘various’, hence, allegedly, vessa ‘merchant’.

(851). A play on ludda ‘hunting’, khudda ‘mean fellow’, sudda ‘low grade (RD’s renderings). RD remarks: ‘Our modern nobles would lift their eyebrows at so amazing a mixture of epithets’. Today many would agree with the sentiment expressed.

(852). ‘Artisans’.

(853). I have retained the word ‘Dhamma’ here (RD, as usual, has Norm’), though it is obviously not the Buddha’s Dhamma — that is what he goes forth to seek!

(854). See DN 22.16 and notes there.

(855). Parinibbāna is the attainment of final Nibbāna, as in DN 16.

---oOo---

 

Nguồn (Source):
Vietnamese:
khemarama.net
Pāḷi - English:
 digitalpalireader.online

Những tập kinh khác:

DN 1: Brahmajāla – Kinh Phạm Võng – The All-embracing Net of Views

DN 2: Sāmannaphala sutta – Kinh Sa Môn Quả – The Fruits of the Contemplative Life

DN 3: Ambaṭṭhasuttaṃ – Kinh Ambaṭṭha (A-Ma-Trú) – A Young Brahman’s Rudeness And An Old One’s Faith

DN 4: Soṇadaṇḍasuttaṃ – Kinh Chủng Đức – The Qualities Of The True Brahman

DN 5: Kūṭadantasuttaṃ – Kinh Cứu La Đàn Đầu – About Kūṭadanta – A Bloodless Sacrifice

DN 6: Mahālisuttaṃ – Kinh Mahāli – About Mahāli

DN 7: Jāliyasuttaṃ – Kinh Jāliya – About Jāliya

DN 8: Mahāsīhanādasuttaṃ – Kinh Ca-diếp Sư tử hống – The Great Lion’s Roar (The Lion’s Roar to Kassapa)

DN 9: Poṭṭhapādasuttaṃ – Kinh Bố-Sá-Bà-Lâu – About Poṭṭhapāda (States of Consciousness)

DN 10: Subhasuttaṃ – Kinh Tu Ba – About Subha (Morality, Concentration, Wisdom)

DN 11: Kevaṭṭasuttaṃ – Kinh Kiên Cố – About Kevaddha (What Brahma Didn’t Know)

DN 12: Lohiccasuttaṃ – Kinh Lô Hi Gia – About Lohicca (Good and Bad Teachers)

DN 13: Tevijjasuttaṃ – Kinh Tam Minh – The Threefold Knowledge (The Way to Brahmā)

DN 14: Mahāpadānasuttaṃ – Kinh Đại Bổn – The Great Discourse on the Lineage

DN 15: Mahānidānasuttaṃ – Kinh Đại Duyên – The Great Discourse on Origination

DN 16: Mahāparinibbānasuttaṃ – Kinh Đại Bát-Niết-Bàn – The Great Passing (The Buddha’s Last Days)

DN 17: Mahāsudassanasuttaṃ – Kinh Ðại Thiện Kiến Vương – The Great Splendour (A King’s Renunciation)

DN 18: Janavasabhasuttaṃ – Kinh Xà-ni-sa – About Janavasabha (Brahmā Addresses the Gods)

DN 19: Mahāgovindasuttaṃ – Kinh Ðại Ðiển Tôn – The Great Steward (A Past Life of Gotama)

DN 20: Mahāsamayasuttaṃ – Kinh Đại Hội – The Mighty Gathering (Devas Come to See the Buddha)

DN 21: Sakkapañhasuttaṃ – Kinh Đế-Thích Sở Vấn – Sakka’s Questions (A God Consults the Buddha)

DN 22: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ – Kinh Đại Niệm Xứ – The Greater Discourse on the Foundations of Mindfulness

DN 23: Pāyāsisuttaṃ – Kinh Kệ-Túc – About Pāyāsi (Debate with a Sceptic)

DN 24: Pāthikasuttaṃ – Kinh Ba-lê – About Pāṭikaputta (The Charlatan)

DN 25: Udumbarikasuttaṃ – Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử Hống – The Great Lion’s Roar to the Udumbarikans

DN 26: Cakkavattisuttaṃ – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư tử Hống – The Lion’s Roar on the Turning of the Wheel

DN 27: Aggaññasuttaṃ – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn – On Knowledge of Beginnings

DN 28: Sampasādanīyasuttaṃ – Kinh Tự Hoan Hỷ – Serene Faith

DN 29: Pāsādikasuttaṃ – Kinh Thanh Tịnh – The Delightful Discourse

DN 30: Lakkhaṇasuttaṃ – Kinh Tướng – The Marks of a Great Man

DN 31: Siṅgālasuttaṃ – Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt – To Sigālaka (Advice to Lay People)

DN 32: Āṭānāṭiyasuttaṃ – Kinh A-sá-nang-chi – The Āṭānātā Protective Verses

DN 33: Saṅgītisuttaṃ – Kinh Phúng Tụng – The Chanting Together

DN 34: Dasuttarasuttaṃ – Kinh Thập Thượng – Expanding Decades

Những bộ Kinh khác :