DN 24: Pāthikasuttaṃ – Kinh Ba-lê – About Pāṭikaputta (The Charlatan)

Wednesday January 31, 2024

 

 

PĀTHIKASUTTAṂ

KINH BA-LÊ

(Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu)

ABOUT PĀṬIKAPUTTA (THE CHARLATAN)

(English Translation from Pāli: Maurice Walshe)

sunakkhattavatthu (DN 24) Tụng phẩm I  
♦ 1. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā mallesu viharati anupiyaṃ nāma {anuppiyaṃ nāma (syā.)} mallānaṃ nigamo. atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya anupiyaṃ piṇḍāya pāvisi. atha kho bhagavato etadahosi — “atippago kho tāva anupiyāyaṃ {anupiyaṃ (ka.)} piṇḍāya carituṃ. yaṃnūnāhaṃ yena bhaggavagottassa paribbājakassa ārāmo, yena bhaggavagotto paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti.

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa bộ lạc Malla (Mạt-la), tại Anupiya (A-dật-di), một thành của bộ lạc Mallà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Anupiya để khất thực.

Rồi Thế Tôn tự nghĩ: "Thật là quá sớm để vào thành Anupiya khất thực. Ta hãy đến tịnh xá của du sĩ Bhaggava và thăm vị này."

[1] 1.1 THUS HAVE I HEARD. (732) Once the Lord was staying among the Mallas. Anupiya is the name of a Malla town, and the Lord, having dressed in the early morning and taken his robe and bowl, went to Anupiya for alms.

Then he thought: ‘It is too early for me to go into Anupiya for alms. Suppose I were to visit the hermitage (733) of the wanderer Bhaggava-gotta?’

♦ 2. atha kho bhagavā yena bhaggavagottassa paribbājakassa ārāmo, yena bhaggavagotto paribbājako tenupasaṅkami. atha kho bhaggavagotto paribbājako bhagavantaṃ etadavoca — “etu kho, bhante, bhagavā. svāgataṃ, bhante, bhagavato. cirassaṃ kho, bhante, bhagavā imaṃ pariyāyamakāsi yadidaṃ idhāgamanāya. nisīdatu, bhante, bhagavā, idamāsanaṃ paññattan”ti. nisīdi bhagavā paññatte āsane. bhaggavagottopi kho paribbājako aññataraṃ nīcaṃ āsanaṃ gahetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho bhaggavagotto paribbājako bhagavantaṃ etadavoca —

Thế Tôn liền đi đến tịnh xá du sĩ Bhaggava.

2. Rồi du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn:

- Thế Tôn hãy đến gần! Xin chào đón Thế Tôn. Ðã lâu, Thế Tôn mới có dịp đến đây. Mời Thế Tôn ngồi, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.

Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và du sĩ Bhaggava lấy một ghế ngồi khác thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn:

And he did so. [2]

1.2. And the wanderer Bhaggava-gotta said:

Come, Blessed Lord, welcome, Blessed Lord! At last the Blessed Lord has gone out of his way to come here. Be seated, Lord, a seat is prepared.’

The Lord sat down on the prepared seat, and Bhaggava took a low stool and sat down to one side. Then he said:

“purimāni, bhante, divasāni purimatarāni sunakkhatto licchaviputto yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ etadavoca — ‘paccakkhāto dāni mayā, bhaggava, bhagavā. na dānāhaṃ bhagavantaṃ uddissa viharāmī’ti. kaccetaṃ, bhante, tatheva, yathā sunakkhatto licchaviputto avacā”ti? “tatheva kho etaṃ, bhaggava, yathā sunakkhatto licchaviputto avaca”.

- Bạch Thế Tôn, ngày xưa và nhiều ngày xưa nữa, Sunakkhatta (Thiện Tịnh) thuộc bộ lạc Licchavi (Ly-xa tử) đến con và nói như sau: "Này Bhaggava, nay tôi từ bỏ Thế Tôn! Nay tôi không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa." Bạch Thế Tôn, sự việc có phải như Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi nói hay không?

- Này Bhaggava, sự việc thật như Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đã nói.

‘Lord, a few days ago Sunakkhatta the Licchave (734) came to me and said: “Bhaggava, I have left the Blessed Lord. I am no longer under his rule.” Is that really so, Lord?’

‘It is true, Bhaggava. (735)

♦ 3. purimāni, bhaggava, divasāni purimatarāni sunakkhatto licchaviputto yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto maṃ etadavoca — ‘paccakkhāmi dānāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ. na dānāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ uddissa viharissāmī’ti. ‘evaṃ vutte, ahaṃ, bhaggava, sunakkhattaṃ licchaviputtaṃ etadavocaṃ — ‘api nu tāhaṃ, sunakkhatta, evaṃ avacaṃ, ehi tvaṃ, sunakkhatta, mamaṃ uddissa viharāhī’ti? ‘no hetaṃ, bhante’. ‘tvaṃ vā pana maṃ evaṃ avaca — ahaṃ, bhante, bhagavantaṃ uddissa viharissāmī’ti? ‘no hetaṃ, bhante’. ‘iti kira, sunakkhatta, nevāhaṃ taṃ vadāmi — ehi tvaṃ, sunakkhatta, mamaṃ uddissa viharāhīti. napi kira maṃ tvaṃ vadesi — ahaṃ, bhante, bhagavantaṃ uddissa viharissāmīti. evaṃ sante, moghapurisa, ko santo kaṃ paccācikkhasi? passa, moghapurisa, yāvañca {yāva ca (ka.)} te idaṃ aparaddhan’ti.

3. Này Bhaggava, thuở xưa và rất xa xưa, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đến thăm Ta. Sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Sumakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, nay con xin từ bỏ Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nay con không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa."

Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nó với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:

"- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây sống dưới sự chỉ dẫn của Ta" chăng?

"- Bạch Thế Tôn, không!

"- Hay Ngươi có nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn" chăng?

"- Bạch Thế Tôn, không!

"- Này Sunakkhatta, Ta không nói: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta", và Ngươi cũng không nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn".

Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!

1.3. ‘A few days ago, Sunakkhatta came to me, saluted me, sat down to one side, and said: “Lord, I am leaving the Blessed Lord, I am no longer under the Lord’s rule.”

So I said to him:

“Well, Sunakkhatta, did I ever say to you: ‘Come, Sunakkhatta, be under my rule’?”

“No, Lord.” [3]

“Or did you ever say to me: ‘Lord, I will be under your rule’?”

“No, Lord.”

“So, Sunakkhatta, if I did not say that to you and you did not say that to me —

you foolish man, who are you and what are you giving up? Consider, foolish man, how far the fault is yours.”

♦ 4. ‘na hi pana me, bhante, bhagavā uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karotī’ti. ‘api nu tāhaṃ, sunakkhatta, evaṃ avacaṃ — ehi tvaṃ, sunakkhatta, mamaṃ uddissa viharāhi, ahaṃ te uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissāmī’ti? ‘no hetaṃ, bhante’. ‘tvaṃ vā pana maṃ evaṃ avaca — ahaṃ, bhante, bhagavantaṃ uddissa viharissāmi, bhagavā me uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissatī’ti? ‘no hetaṃ, bhante’. ‘iti kira, sunakkhatta, nevāhaṃ taṃ vadāmi — ehi tvaṃ, sunakkhatta, mamaṃ uddissa viharāhi, ahaṃ te uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissāmī’ti; napi kira maṃ tvaṃ vadesi — ahaṃ, bhante, bhagavantaṃ uddissa viharissāmi, bhagavā me uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissatī’ti. evaṃ sante, moghapurisa, ko santo kaṃ paccācikkhasi? taṃ kiṃ maññasi, sunakkhatta, kate vā uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriye akate vā uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriye yassatthāya mayā dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti? ‘kate vā, bhante, uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriye akate vā uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriye yassatthāya bhagavatā dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti. ‘iti kira, sunakkhatta, kate vā uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriye, akate vā uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriye, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. tatra, sunakkhatta, kiṃ uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ kataṃ karissati? passa, moghapurisa, yāvañca te idaṃ aparaddhan’ti.

4. "- Bạch Thế Tôn, nhưng Thế Tôn không khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông.

"- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta! Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông" chăng?

"- Bạch Thế Tôn, không!

"- Ngươi có nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn. Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông" chăng?

"- Bạch Thế Tôn, không!

"- Này Sunakkhatta, Ta không nói với Ngươi: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta, Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông; Ngươi cũng không nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, và Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông." Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ?

Này Sunakkhatta, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?

"- Bạch Thế Tôn, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy.

"- Này Sunakkhatta, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau.

Này Sunakkhatta, như vậy thời các pháp thượng nhân thần thông là gì mà cần phải thực chứng? Này kẻ ngu kia, hãy thấy lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!

1.4. “‘Well, Lord, you have not performed any miracles.” (736)

And did I ever say to you: ‘Come under my rule, Sunakkhatta, and I will perform miracles for you’?”

“No, Lord.”

“Or did you ever say to me: ‘Lord, I will be under your rule if you will perform miracles for me’?”

“No, Lord.”

“Then it appears, Sunakkhatta, that I made no such promises, and you made no such conditions. Such being the case, you foolish man, who are you and what are you giving up?

‘“What do you  hink, Sunakkhatta? Whether miracles are performed or not — is it the purpose of my teaching Dhamma to lead whoever practises it (737) to the total
destruction of suffering?” [4]

“It is, Lord.”

“So, Sunakkhatta, whether miracles are performed or not, the purpose of my teaching Dhamma is to lead whoever practises it to the total destruction of suffering.

Then what purpose would the performance of miracles serve? Consider, you foolish man, how far the fault is yours.”

♦ 5. ‘na hi pana me, bhante, bhagavā aggaññaṃ paññapetī’ti {paññāpetīti (pī.)}? ‘api nu tāhaṃ, sunakkhatta, evaṃ avacaṃ — ehi tvaṃ, sunakkhatta, mamaṃ uddissa viharāhi, ahaṃ te aggaññaṃ paññapessāmī’ti? ‘no hetaṃ, bhante’.

5. "- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không giải thích cho con khởi nguyên của thế giới.

"- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của Thế giới" chăng?

"- Bạch Thế Tôn, không!

1.5. “‘Well, Lord, you do not teach the beginning of things.”

“And did I ever say to you: ‘Come under my rule, Sunakkhatta, and I will teach you the beginning of things’?”

“No, Lord.”

‘tvaṃ vā pana maṃ evaṃ avaca — ahaṃ, bhante, bhagavantaṃ uddissa viharissāmi, bhagavā me aggaññaṃ paññapessatī’ti? ‘no hetaṃ, bhante’.

"- Này Sunakkhatta, Ngươi có nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới" chăng?

"- Bạch Thế Tôn, không!

 

‘iti kira, sunakkhatta, nevāhaṃ taṃ vadāmi — ehi tvaṃ, sunakkhatta, mamaṃ uddissa viharāhi, ahaṃ te aggaññaṃ paññapessāmīti. napi kira maṃ tvaṃ vadesi — ahaṃ, bhante, bhagavantaṃ uddissa viharissāmi, bhagavā me aggaññaṃ paññapessatī’ti. evaṃ sante, moghapurisa, ko santo kaṃ paccācikkhasi? taṃ kiṃ maññasi, sunakkhatta, paññatte vā aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti?

"- Này Sunakkhatta, như vậy Ta không nói với Ngươi: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của thế giới." Ngươi cũng không nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới."

Này kẻ ngu kia, sự kiện là như vậy, thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?

 

‘paññatte vā, bhante, aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya bhagavatā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti. ‘iti kira, sunakkhatta, paññatte vā aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. tatra, sunakkhatta, kiṃ aggaññaṃ paññattaṃ karissati? passa, moghapurisa, yāvañca te idaṃ aparaddhaṃ’.

"- Bạch Thế Tôn, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy.

"- Này Sunakkhatta, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích của Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời giải thích về khởi nguyên thế giới có ích lợi gì cho Ngươi?

Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!

... Such being the case, you foolish man, who are you and what are you giving up? [5]

♦ 6. ‘anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, mama vaṇṇo bhāsito vajjigāme — itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena mama vaṇṇo bhāsito vajjigāme.

6. "- Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajji: "Như vậy, Thế Tôn là bậc A la hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn."

Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajji.

1.6. ‘“Sunakkhatta, you have in many ways spoken in praise of me among the Vajjians, saying: ‘This Blessed Lord is an Arahant, a fully-enlightened Buddha, endowed with wisdom and conduct, the Well-Farer, Knower of the worlds, incomparable Trainer of men to be tamed, Teacher of gods and humans, the Buddha, the Blessed Lord.’

♦ ‘anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, dhammassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme — svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhīti. iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena dhammassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme.

"Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi nói lời tán thán Pháp tại làng Vajji: "Chánh pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người có trí mới thâm hiểu."

Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Chánh pháp tại làng Vajji.

You have in many ways spoken in praise of the Dhamma, saying: ‘Well-proclaimed by the Blessed Lord is the Dhamma, visible here and now, timeless, inviting inspection, leading onward, to be realised by the wise, each one for himself.’

♦ ‘anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, saṅghassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme — suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho, āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti. iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena saṅghassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme.

"Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi đã tán thán Tăng tại làng Vajji: "Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh chơn, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh trực, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Khuôn phép, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh hạnh, tức là bốn đôi tám chúng.

Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng được kính trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay cúi chào, vì là phước điền tối thượng ở đời".

Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Tăng tại làng Vajji.

You have in many ways spoken in praise of the order of monks, saying: ‘Well-trained is the order of the Lord’s disciples, trained in uprightness, methodically-trained, excellently-trained is the order of the Lord’s disciples, that is, the four pairs of men, the eight classes of individuals.

This is the order of the Lord’s disciples, worthy of respect, worthy of homage, worthy of gifts, worthy of salutation, an unsurpassed field in the world for merit.’

‘“In these ways you have spoken in praise of me, of the Dhamma, and of the order among the Vajjians.

♦ ‘ārocayāmi kho te, sunakkhatta, paṭivedayāmi kho te, sunakkhatta. bhavissanti kho te, sunakkhatta, vattāro, no visahi sunakkhatto licchaviputto samaṇe gotame brahmacariyaṃ carituṃ, so avisahanto sikkhaṃ paccakkhāya hīnāyāvattoti. iti kho te, sunakkhatta, bhavissanti vattāro’ti.

"Này Sunakkhatta, Ta nói cho Ngươi biết; này Sunakkhatta ta tin cho Ngươi biết; sẽ có lời luận bàn về Ngươi như sau: "Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi không thể sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama. Vì không kham nổi, nên từ bỏ tu học trở về với đời sống thấp kém".

Này Sunakkhatta, sẽ có lời luận bàn về Ngươi như vậy.

And I say to you, I declare to you, Sunakkhatta, there will be those who will say: ‘Sunakkhatta the Licchavi was unable to maintainthe holy life under the ascetic Gotama, and being thus unable he abandoned the training and reverted to a base life.’ (738) That, Sunakkhatta, is what they will say.” [6]

♦ evaṃ pi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṃ āpāyiko nerayiko.

Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rớt vào đọa xứ, địa ngục.

And, Bhaggava, at my words Sunakkhatta left this Dhamma and discipline like one condemned to hell.

korakkhattiyavatthu (DN 24)    

♦ 7. “ekamidāhaṃ, bhaggava, samayaṃ thūlūsu {bumūsu (sī. pī.)} viharāmi uttarakā nāma thūlūnaṃ nigamo. atha khvāhaṃ, bhaggava, pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya sunakkhattena licchaviputtena pacchāsamaṇena uttarakaṃ piṇḍāya pāvisiṃ. tena kho pana samayena acelo korakkhattiyo kukkuravatiko catukkuṇḍiko {catukuṇḍiko (sī. pī.) catukoṇḍiko (syā. ka.)} chamānikiṇṇaṃ bhakkhasaṃ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjati. addasā kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto acelaṃ korakkhattiyaṃ kukkuravatikaṃ catukkuṇḍikaṃ chamānikiṇṇaṃ bhakkhasaṃ mukheneva khādantaṃ mukheneva bhuñjantaṃ. disvānassa etadahosi — ‘sādhurūpo vata, bho, ayaṃ {arahaṃ (sī. syā. pī.)} samaṇo catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṃ bhakkhasaṃ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjatī’ti.

7. Này Bhaggava, một thời Ta ở bộ lạc Bumu, tại thị trấn của bộ lạc Bumu tên là Uttaraka. Này Bhaggava, rồi buổi sáng Ta đắp y, cầm y bát cùng với Sa di Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi theo sau, vào thị trấn Uttaraka khất thực.

Lúc bấy giờ, lõa thể Korakkhattiya, tu theo hạnh chó đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.

Này Bahaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.

1.7. ‘Once, Bhaggava, I was staying among the Khulus, (739) at a place called Uttarakā, a town of theirs. In the early morning I went with robe and bowl into Uttarakā for alms, with Sunakkhatta as my attendant.

And at that time the naked ascetic Korakkhattiya the “dogman” (740) was going round on all fours, sprawling on the ground, and chewing and eating his food with his mouth alone.

Seeing him, Sunakkhatta thought: “Now that is a real Arahant ascetic, who goes round on all fours, sprawling on the ground, and chewing and eating his food with his mouth alone.”

♦ “atha khvāhaṃ, bhaggava, sunakkhattassa licchaviputtassa cetasā cetoparivitakkamaññāya sunakkhattaṃ licchaviputtaṃ etadavocaṃ — ‘tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo {moghapurisa sakyaputtiyo (sī. syā. pī.)} paṭijānissasī’ti! ‘kiṃ pana maṃ, bhante, bhagavā evamāha — ‘tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo {moghapurisa sakyaputtiyo (sī. syā. pī.)} paṭijānissasī’ti? ‘nanu te, sunakkhatta, imaṃ acelaṃ korakkhattiyaṃ kukkuravatikaṃ catukkuṇḍikaṃ chamānikiṇṇaṃ bhakkhasaṃ mukheneva khādantaṃ mukheneva bhuñjantaṃ disvāna etadahosi — sādhurūpo vata, bho, ayaṃ samaṇo catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṃ bhakkhasaṃ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjatī’ti? ‘evaṃ, bhante. kiṃ pana, bhante, bhagavā arahattassa maccharāyatī’ti? ‘na kho ahaṃ, moghapurisa, arahattassa maccharāyāmi. api ca, tuyhevetaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ, taṃ pajaha. mā te ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāya. yaṃ kho panetaṃ, sunakkhatta, maññasi acelaṃ korakkhattiyaṃ — sādhurūpo ayaṃ samaṇoti {maññasi “acelo korakhattiyo sādhurūpo arahaṃ samaṇoti” (syā.)}. so sattamaṃ divasaṃ alasakena kālaṅkarissati. kālaṅkato {kālakato (sī. syā. pī.)} ca kālakañcikā {kālakañjā (sī. pī.), kālakañjikā (syā.)} nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajjissati. kālaṅkatañca naṃ bīraṇatthambake susāne chaḍḍessanti. ākaṅkhamāno ca tvaṃ, sunakkhatta, acelaṃ korakkhattiyaṃ upasaṅkamitvā puccheyyāsi — jānāsi, āvuso korakkhattiya {acela korakhattiya (ka.)}, attano gatinti? ṭhānaṃ kho panetaṃ, sunakkhatta, vijjati yaṃ te acelo korakkhattiyo byākarissati — jānāmi, āvuso sunakkhatta, attano gatiṃ; kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatrāmhi upapannoti.

Này Bhaggava, Ta biết được tâm tư của Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi với tâm tư của Ta cà Ta nói với ông ta như sau:

"- Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích Tử không?

"- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói: "Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi tự nhân Ngươi là Thích Tử không"?

"- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi, sau khi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm, liền suy nghĩ: "Thật tốt đẹp thay vị A la hán Sa môn đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm"?

"- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một bị A la hán?

"- Này kẻ ngu kia, Ta đâu có ganh ghét với một vị A la hán? Chính Ngươi tự sinh ác tà kiến ấy, hãy bỏ nó đi. Chớ để tự mình lâu ngày bị khổ đau thiệt hại.

Này Sunakkhtta, lõa thể Korakkhattiya mà Ngươi nghĩ là tốt đẹp, là vị Sa môn, sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất. Sau khi chết, nó sẽ bị quăng trong nghĩa địa đặt trên đống cỏ Bìrana.

Này Sunakkhatta, nếu Ngưới muốn, hãy đến hỏi lõa thể Korakkhattiya như sau: "Này bạn Korakkhattiya, bạn có biết bạn thác sanh cảnh giới nào không?"

Này Sunakkhatta, sự kiện này có thể xảy ra, lõa thể Korakkhatta ấy có thể trả lời với Ngươi: "Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi sẽ thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất".

And I, knowing his thought in my own mind, said to him:

“You foolish man, do you claim to be a follower of the Sakyan?”

“Lord, what do you mean by this question?” [7]

“Sunakkhatta, did you not, on seeing that naked ascetic going around on all fours, think: ‘Now that is a real Arahant ascetic, who goes round on all fours, sprawling on the ground, and chewing and eating his food with his mouth alone’?”

“I did, Lord. Does the Blessed Lord begrudge others their Arahantship?”

“I do not begrudge others their Arahantship, you foolish man! It is only in you that this evil view has arisen. Cast it aside lest it should be to your harm and sorrow for a long time!

This naked ascetic Korakkhattiya, whom you regard as a true Arahant, will die in seven days from indigestion, (741) and when he is dead he will reappear among the Kāḷakañjaka asuras, who are the very lowest grade of asuras. (742) And when he is dead he will be cast aside on a heap of bῑraṇa-grass in the charnel-ground.

If you want to, Sunakkhatta, you can go to him and ask him if he knows his fate.

And it may be that he will tell you: ‘Friend Sunakkhatta, I know my fate. I have been reborn among the Kāḷakañjaka asuras, the very lowest grade of asuras.’”

♦ “atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena acelo korakkhattiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṃ korakkhattiyaṃ etadavoca — ‘byākato khosi, āvuso korakkhattiya, samaṇena gotamena — acelo korakkhattiyo sattamaṃ divasaṃ alasakena kālaṅkarissati. kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajjissati. kālaṅkatañca naṃ bīraṇatthambake susāne chaḍḍessantī’ti. yena tvaṃ, āvuso korakkhattiya, mattaṃ mattañca bhattaṃ bhuñjeyyāsi, mattaṃ mattañca pānīyaṃ piveyyāsi. yathā samaṇassa gotamassa micchā assa vacanan’ti.

8. Này Bhaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, đi đến lõa thể Korakkhattiya và nói:

- Này bạn Korakkhattiya, Sa môn Gotama có nói như sau: “Lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất.

Sau khi chết, ông ta sẽ bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Birana". Này Bạn Korakkhattiya, vậy Bạn hãy ăn cho có tiết độ, vậy Bạn hãy uống cho có tiết độ, để lời nói của Sa môn Gotama trở thành nói láo."

1.8. ‘Then Sunakkhatta went to Korakkhattiya and told him what I had prophesied, [8] adding:

“Therefore, friend Korakkhattiya, be very careful what you eat and drink, so that the ascetic Gotama’s words may be proved wrong!”

♦ 8. “atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto ekadvīhikāya sattarattindivāni gaṇesi, yathā taṃ tathāgatassa asaddahamāno. atha kho, bhaggava, acelo korakkhattiyo sattamaṃ divasaṃ alasakena kālamakāsi. kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajji. kālaṅkatañca naṃ bīraṇatthambake susāne chaḍḍesuṃ.

Này Bhaggava, vì không tin tưởng Như Lai, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đếm từng ngày một cho đến bảy ngày.

Nhưng này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày bị trúng thực mà chết. Sau khi chết, bị tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất. Sau khi chết, ông ta bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Birana.

And Sunakkhatta was so sure that the Tathāgata’s words would be proved wrong that he counted up the seven days one by one.

But on the seventh day Korakkhattiya died of indigestion, and when he was dead he reappeared among the Kāḷakañjaka asuras, and his body was cast aside on a heap of bῑraṇa-grass in the charnel-ground.

♦ 9. “assosi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto — ‘acelo kira korakkhattiyo alasakena kālaṅkato bīraṇatthambake susāne chaḍḍito’ti. atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena bīraṇatthambakaṃ susānaṃ, yena acelo korakkhattiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṃ korakkhattiyaṃ tikkhattuṃ pāṇinā ākoṭesi — ‘jānāsi, āvuso korakkhattiya, attano gatin’ti? atha kho, bhaggava, acelo korakkhattiyo pāṇinā piṭṭhiṃ paripuñchanto vuṭṭhāsi. ‘jānāmi, āvuso sunakkhatta, attano gatiṃ. kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatrāmhi upapanno’ti vatvā tattheva uttāno papati {paripati (syā. ka.)}.

9. Này Bhaggava, Sunakkhatta được nghe: "Lõa thể Korakkhattiya bị trúng thực chết, quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bìrana." Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi liền đi đến đống cỏ Bìrana tại nghĩa địa, đến lõa thể Korakkhattiya, lấy tay đánh ba lần và hỏi:

"- Này bạn Korakkhattiya, Bạn có biết cảnh giới thác sanh của Bạn không?"

Này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya lấy tay xoa lưng và ngồi dậy:

"- Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất." Sau khi nói xong, ông ta ngã ngửa xuống.

1.9. ‘And Sunakkhatta heard of this, so he went to the heap of bῑraṇa-grass in the charnel-ground where Korakkhattiya was lying, struck the body three times with his hand, and said:

“Friend Korakkhattiya, do you know your fate?”

And Korakkhattiya sat up and rubbed his back with his hand, and said:

“Friend Sunakkhatta, I know my fate. I have been reborn among the Kāḷakañjaka asuras, the very lowest grade of asuras.” And with that, he fell back again.

♦ 10. “atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinnaṃ kho ahaṃ, bhaggava, sunakkhattaṃ licchaviputtaṃ etadavocaṃ — ‘taṃ kiṃ maññasi, sunakkhatta, yatheva te ahaṃ acelaṃ korakkhattiyaṃ ārabbha byākāsiṃ, tatheva taṃ vipākaṃ, aññathā vā’ti? ‘yatheva me, bhante, bhagavā acelaṃ korakkhattiyaṃ ārabbha byākāsi, tatheva taṃ vipākaṃ, no aññathā’ti. ‘taṃ kiṃ maññasi, sunakkhatta, yadi evaṃ sante kataṃ vā hoti uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ, akataṃ vāti? ‘addhā kho, bhante, evaṃ sante kataṃ hoti uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ, no akatan’ti. ‘evampi kho maṃ tvaṃ, moghapurisa, uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karontaṃ evaṃ vadesi — na hi pana me, bhante, bhagavā uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karotīti. passa, moghapurisa, yāvañca te idaṃ aparaddhan’ti. “evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṃ āpāyiko nerayiko.

10. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:

"- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Korakkhattiya, có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?

"- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Korakkhattiya như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác!

"- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện có phải không?

"- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.

"- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con." Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!"

Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.

1.10. ‘Then Sunakkhatta came to me, saluted me, and sat down to one side. And I said to him:

“Well, Sunakkhatta, what do you think? Has what I told you about the ‘dog-man’ Korakkhattiya come true or not?”

“It has come about the way you said, Lord, and not otherwise.” [9]

“Well, what do you think, Sunakkhatta? Has a miracle been performed or not?”

“Certainly, Lord, this being so, a miracle has been performed, and not otherwise.”

“Well then, you foolish man, do you still say to me, after I have performed such a miracle: ‘Well, Lord, you have not performed any miracles’? Consider, you foolish man, how far the fault is yours.”

And at my words Sunakkhatta left this Dhamma and discipline like one condemned to hell. 

acelakaḷāramaṭṭakavatthu (DN 24)    
♦ 11. “ekamidāhaṃ, bhaggava, samayaṃ vesāliyaṃ viharāmi mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ. tena kho pana samayena acelo kaḷāramaṭṭako vesāliyaṃ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme. tassa sattavatapadāni {sattavattapadāni (syā. pī.)} samattāni samādinnāni honti — ‘yāvajīvaṃ acelako assaṃ, na vatthaṃ paridaheyyaṃ, yāvajīvaṃ brahmacārī assaṃ, na methunaṃ dhammaṃ paṭiseveyyaṃ, yāvajīvaṃ surāmaṃseneva yāpeyyaṃ, na odanakummāsaṃ bhuñjeyyaṃ. puratthimena vesāliṃ udenaṃ nāma cetiyaṃ, taṃ nātikkameyyaṃ, dakkhiṇena vesāliṃ gotamakaṃ nāma cetiyaṃ, taṃ nātikkameyyaṃ, pacchimena vesāliṃ sattambaṃ nāma cetiyaṃ, taṃ nātikkameyyaṃ, uttarena vesāliṃ bahuputtaṃ nāma {bahuputtakaṃ nāma (syā.)} cetiyaṃ taṃ nātikkameyyan’ti. so imesaṃ sattannaṃ vatapadānaṃ samādānahetu lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.

11. Này Bhaggava, một thời, Ta trú tại Vesàli (Tỳ xá ly), rừng Ðại Lâm, ở Trùng Các giảng đường. Lúc bấy giờ, lõa thể Kandaramasuka ở tại Vesàli được sự cúng dường tối thượng, được xưng danh tối thượng tại làng Vajji.

Vị này có phát nguyện tuân theo bảy giới hạnh: "Trọn đời, ta theo hạnh lõa thể, không mặc quần áo; trọn đời, ta sống phạm hạnh, không có hành dâm; trọn đời ta tự nuôi sống với rượu và thịt, không phải với cháo cơm; ta không bao giờ đi quá tháp Udana phía Ðông thành Vesàli; ta không bao giờ đi quá tháp Gotamaka, phía Nam thành Vesàli; ta không bao giờ đi quá tháp Sattamba, phía Tây thành Vesà; ta không bao giờ đi quá tháp Bahuputta, phía Bắc thành Vesàli."

Vị này, nhờ tuân theo bảy giới hạnh này mà được sự cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng tại làng Vajji.

1.11. ‘Once, Bhaggava, I was staying at Vesali, at the Gabled Hall in the Great Forest. And at that time there was a naked ascetic living in Vesālῑ called Kaḷāramuṭṭhaka (743) who enjoyed great gains and fame in the Vajjian capital.

He had undertaken seven rules of practice: “As long as I live I will be a naked ascetic and will not put on any clothes; as long as I live I will remain chaste and abstain from sexual intercourse; as long as I live I will subsist on strong drink and meat, abstaining from boiled rice and sour milk; as long as I live I will never go beyond the Udena shrine to the east of Vesāli, the Gotamaka shrine to the south, the Sattamba shrine [10] to the west, nor the Bahuputta shrine to the north.” (744)

And it was through having undertaken these seven rules that he enjoyed the greatest gains and fame of all in the Vajjian capital.

♦ 12. “atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena acelo kaḷāramaṭṭako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṃ kaḷāramaṭṭakaṃ pañhaṃ apucchi. tassa acelo kaḷāramaṭṭako pañhaṃ puṭṭho na sampāyāsi. asampāyanto kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi. atha kho, bhaggava, sunakkhattassa licchaviputtassa etadahosi — ‘sādhurūpaṃ vata bho arahantaṃ samaṇaṃ āsādimhase {asādiyimhase (syā.)}. mā vata no ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyā’ti.

12. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi; lõa thể Kandaramasuka khi bị hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi, vì không theo dõi, nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý.

Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi suy nghĩ: "Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có gì xảy ra khiến chúng ta có thể bất lợi đau khổ lâu đời."

1.12. ‘Now Sunakkhatta went to see Kaḷāramuṭṭhaka and asked him a question which he could not answer, and because he could not answer it he showed signs of anger, rage and petulance.

But Sunakkhatta thought: “I might cause this real Arahant ascetic offence. I don’t want anything to happen that would be to my lasting harm and misfortune!”

♦ 13. “atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinnaṃ kho ahaṃ, bhaggava, sunakkhattaṃ licchaviputtaṃ etadavocaṃ — ‘tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti! ‘kiṃ pana maṃ, bhante, bhagavā evamāha — tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti? ‘nanu tvaṃ, sunakkhatta, acelaṃ kaḷāramaṭṭakaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ apucchi. tassa te acelo kaḷāramaṭṭako pañhaṃ puṭṭho na sampāyāsi. asampāyanto kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi. tassa te etadahosi — “sādhurūpaṃ vata, bho, arahantaṃ samaṇaṃ āsādimhase. mā vata no ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyā’ti. ‘evaṃ, bhante. kiṃ pana, bhante, bhagavā arahattassa maccharāyatī’ti? ‘na kho ahaṃ, moghapurisa, arahattassa maccharāyāmi, api ca tuyhevetaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ, taṃ pajaha. mā te ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāya. yaṃ kho panetaṃ, sunakkhatta, maññasi acelaṃ kaḷāramaṭṭakaṃ — sādhurūpo ayaṃ {arahaṃ (syā.)} samaṇoti, so nacirasseva parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṃ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno {yasānikiṇṇo (ka.)} kālaṃ karissatī’ti.

♦ “‘atha kho, bhaggava, acelo kaḷāramaṭṭako nacirasseva parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṃ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālamakāsi.

13. Này Bhaggava, rồi Sunakkhata, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bahaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:

"- Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?

"- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói với con như vậy: "Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?'

"- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi đã đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi. Lõa thể Kandaramasuka khi được Ngươi hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi; vì không theo dõi nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý.

Rồi ngươi tự nghĩ: "Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán, Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có có gì xảy ra khiến chúng có thể bất lợi đau khổ lâu đời!".

"- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một vị A la hán?

"- Này kẻ ngu kia, Ta đâu có ganh ghét với một vị A la hán! Chính Ngươi tự sanh ác tà kiến ấy, hãy từ bỏ nó đi. Chớ để mình lâu ngày bị thiệt hại đau khổ!

Này Sunakkhatta, lõa thể Kandaramasuka mà Ngươi nghĩ là vị A la hán, là vị Sa môn tốt đẹp, không bao lâu sẽ sống mặc áo và lập gia đình, sẽ ăn cơm cháo, sẽ đi vượt quá các tháp ở Vesàli và sẽ chết mất hết cả danh xưng".

Này Bhaggava, lõa thể Kandaramasuka, không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesàli và bị chết mất hết cả danh xưng.

1.13. ‘Then Sunakkhatta came to me, saluted me, and sat down to one side. I said to him:

“You foolish man, do you claim to be a follower of the Sakyan?”

“Lord, what do you mean by this question?”

“Sunakkhatta, did you not go to see Kaḷāramuṭṭhaka and ask him a question he could not answer, and did he not thereupon show signs of anger, rage and petulance?

And did you not think: ‘I might cause this real Arahant ascetic offence. I don’t want anything to happen that would be to my lasting harm and misfortune’?”

“I did, Lord. Does the Blessed Lord begrudge others their Arahantship?” [11]

“I do not begrudge others their Arahantship, you foolish man. It is only in you that this evil view has arisen. Cast it aside lest it should be to your harm and sorrow for a long time!

This naked ascetic Kaḷāramuṭṭhaka, whom you regard as a true Arahant, will before long be living clothed and married, subsisting on boiled rice and sour milk. He will go beyond all the shrines of Vesālῑ, and will die having entirely lost his reputation.”

And indeed all this came about.

♦ 14. “assosi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto — ‘acelo kira kaḷāramaṭṭako parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṃ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālaṅkato’ti. atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinnaṃ kho ahaṃ, bhaggava, sunakkhattaṃ licchaviputtaṃ etadavocaṃ — ‘taṃ kiṃ maññasi, sunakkhatta, yatheva te ahaṃ acelaṃ kaḷāramaṭṭakaṃ ārabbha byākāsiṃ, tatheva taṃ vipākaṃ, aññathā vā’ti? ‘yatheva me, bhante, bhagavā acelaṃ kaḷāramaṭṭakaṃ ārabbha byākāsi, tatheva taṃ vipākaṃ, no aññathā’ti. ‘taṃ kiṃ maññasi, sunakkhatta, yadi evaṃ sante kataṃ vā hoti uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ akataṃ vā’ti? ‘addhā kho, bhante, evaṃ sante kataṃ hoti uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ, no akatan’ti. ‘evampi kho maṃ tvaṃ, moghapurisa, uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karontaṃ evaṃ vadesi — na hi pana me, bhante, bhagavā uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karotī”ti. passa, moghapurisa, yāvañca te idaṃ aparaddhan’ti. “eva’mpi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṃ āpāyiko nerayiko.

14. Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi được nghe tin lõa thể Kandaramasuka không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesàli và bị chết mất hết danh xưng.

Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta đi đến chỗ Ta ở, sau khi đến đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, và Ta nói với Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:

"- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Kandaramasuka có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?

"- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Kandaramasuka như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác.

"- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, có phải không?

"- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.

"- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con." Này kẻ ngu kia, hãy thấy rõ sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!"

Này Bhaggava, như vậy Sunakkhtta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.

1.14. ‘Then Sunakkhatta, having heard what had happened, came to me... And I said:

“Well, Sunakkhatta, what do you think?  Has what I told you about Kaḷaramuṭṭhaka come about, or not? ...

Has a miracle been performed or not?” ... [12]

And at my words Sunakkhatta left this Dhamma and discipline like one condemned to hell.

acelapāthikaputtavatthu (DN 24)    
♦ 15. “ekamidāhaṃ, bhaggava, samayaṃ tattheva vesāliyaṃ viharāmi mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ. tena kho pana samayena acelo pāthikaputto {pāṭikaputto (sī. syā. pī.)} vesāliyaṃ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme. so vesāliyaṃ parisati evaṃ vācaṃ bhāsati — ‘samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo. ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ dassetuṃ. samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṃ āgaccheyya, ahampi upaḍḍhapathaṃ gaccheyyaṃ. te tattha ubhopi uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ kareyyāma. ekaṃ ce samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissati, dvāhaṃ karissāmi. dve ce samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṃ karissāmi . cattāri ce samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṃ karissāmi. iti yāvatakaṃ yāvatakaṃ samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissati, taddiguṇaṃ taddiguṇāhaṃ karissāmī’ti.

15. Này Bhaggava, một thời Ta trú ở Vesàli, rừng Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.

Lúc bấy giờ, lõa thể Patikaputta sống ở Vesàli, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajji. Trong các buổi họp ở Vesàli, ông ta thường tuyên bố như sau:

"Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông của mình, nhờ trí lực của mình.

Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp.

Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp. Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiều pháp thần thông thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần."

1.15. ‘Once, Bhaggava, I was staying at Vesali in the Gabled Hall in the Great Forest.

And at that time there was a naked ascetic living in Vesālῑ called Pāṭikaputta, who enjoyed great gains and fame in the Vajjian capital. And he made this declaration in the assembly of Vesālῑ:

“The ascetic Gotama claims to be a man of wisdom, and I make the same claim. It is right that a man of wisdom should show it by performing miracles.

If the ascetic Gotama will come half-way to meet me, I will do likewise. Then we could both work miracles, and if the ascetic Gotama performs one miracle, I will perform two.

If he performs two, I will perform [13] four.

And if he performs four, I will perform eight. However many miracles the ascetic Gotama performs, I will perform twice as many!”

♦ 16. “atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto maṃ etadavoca — ‘acelo, bhante, pāthikaputto vesāliyaṃ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme. so vesāliyaṃ parisati evaṃ vācaṃ bhāsati — samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo. ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ dassetuṃ. samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṃ āgaccheyya, ahampi upaḍḍhapathaṃ gaccheyyaṃ. te tattha ubhopi uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ kareyyāma. ekaṃ ce samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissati, dvāhaṃ karissāmi. dve ce samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṃ karissāmi. cattāri ce samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṃ karissāmi. iti yāvatakaṃ yāvatakaṃ samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissati, taddiguṇaṃ taddiguṇāhaṃ karissāmī”ti.

16. Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đã đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta:

"- Bạch Thế Tôn, lõa thể Patikaputta (Ba-lê tử) sống ở Vesàli, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajji. Trong buổi họp ở Vesàli, thường tuyên bố như sau: "Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình.

Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thần thông ở tại đây.

Nếu Sa môn Gotama có thể thực hiện một pháp thượng nhân thần thông... thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần."

1.16. ‘Then Sunakkhatta came to me, saluted me, sat down to one side, and told me what Pāṭikaputta had said. I said:

♦ “evaṃ vutte, ahaṃ, bhaggava, sunakkhattaṃ licchaviputtaṃ etadavocaṃ — ‘abhabbo kho, sunakkhatta, acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.

Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:

"- Này Sunakkhatta, lõa thể Patikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy.

Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ta sẽ bị bể tan.

“Sunakkhatta, that naked ascetic Pāṭikaputta is not capable of meeting me face to face unless he takes back his words, abandons that thought, and gives up that view.

And if he thinks otherwise, his head will split in pieces.” (745)

♦ 17. ‘rakkhatetaṃ, bhante, bhagavā vācaṃ, rakkhatetaṃ sugato vācan’ti. ‘kiṃ pana maṃ tvaṃ, sunakkhatta, evaṃ vadesi — rakkhatetaṃ, bhante, bhagavā vācaṃ, rakkhatetaṃ sugato vācan’ti? ‘bhagavatā cassa, bhante, esā vācā ekaṃsena odhāritā {ovāditā (ka.)} — abhabbo acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti. acelo ca, bhante, pāthikaputto virūparūpena bhagavato sammukhībhāvaṃ āgaccheyya, tadassa bhagavato musā’ti.

17. "- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói! Thiện Thệ hãy thận trọng lời nói!

"- Này Sunakkhatta, tại sao Ngươi lại nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói."?

"- Bạch Thế Tôn, lời nói này đã được Thế Tôn tuyên bố một cách cực đoan: "Lõa thể Patikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy.

Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu ông ấy sẽ bị bể tan"!

Bạch Thế Tôn, lõa thể Patikaputta có thể đến gặp mặt Thế Tôn với một hóa thân khác, và như vậy Thế Tôn trở thành nói không thật!

1.17. ‘“Lord, let the Blessed Lord have a care what he says, let the Well-Farer have a care what he says!” [41]

“What do you mean by saying that to me?”

“Lord, the Blessed Lord might make an absolute statement about Pāṭikaputta’s coming.

But he might come in some altered shape, and thus falsify the Blessed Lord’s words!”

♦ 18. ‘api nu, sunakkhatta, tathāgato taṃ vācaṃ bhāseyya yā sā vācā dvayagāminī’ti? ‘kiṃ pana, bhante, bhagavatā acelo pāthikaputto cetasā ceto paricca vidito — abhabbo acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti?

18. "- Này Sunakkhatta, Như Lai có bao giờ nói lời nói nào có hai nghĩa không?

"- Bạch Thế Tôn, có phải do tự tâm phán xét mà Thế Tôn đã được biết về Patikaputta: "Lõa thể Patikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy.

Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan".

1.18. ‘“But, Sunakkhatta, would the Tathāgata make any statement that was ambiguous?”

“Lord, does the Blessed Lord know by his own mind what would happen to Pāṭikaputta?

♦ ‘udāhu, devatā bhagavato etamatthaṃ ārocesuṃ — abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti?

Hay là có vị Thiên thần nào đã báo tin cho Như Lai biết: "Bạch Thế Tôn, lõa thể Patikaputta không có thể... đầu của ông ấy sẽ bị bể tan!"

Or has some deva told the Tathāgata?”

♦ 19. ‘cetasā ceto paricca vidito ceva me, sunakkhatta, acelo pāthikaputto abhabbo acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.

"- Này Sunakkhatta, chính tự tâm phán xét mà ta đã biết về lõa thể Patikaputta: "Lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Ta... đầu của ông ấy sẽ bị bể tan."

“Sunakkhatta, I know it by my own mind, and I have also been told by a deva. [15]

♦ ‘devatāpi me etamatthaṃ ārocesuṃ — abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.

Và cũng có vị Thiên thần đã báo tin cho Ta biết: "Lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn... đầu ông ấy sẽ bị bể tan".

 

♦ ‘ajitopi nāma licchavīnaṃ senāpati adhunā kālaṅkato tāvatiṃsakāyaṃ upapanno. sopi maṃ upasaṅkamitvā evamārocesi — alajjī, bhante, acelo pāthikaputto; musāvādī, bhante, acelo pāthikaputto. mampi, bhante, acelo pāthikaputto byākāsi vajjigāme — ajito licchavīnaṃ senāpati mahānirayaṃ upapannoti. na kho panāhaṃ, bhante, mahānirayaṃ upapanno; tāvatiṃsakāyamhi upapanno. alajjī, bhante, acelo pāthikaputto; musāvādī, bhante, acelo pāthikaputto; abhabbo ca, bhante, acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.

Vị tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita, khi mệnh chung vào ngày kia đã được sanh vào Tam thập tam thiên.

Rồi vị ấy đến bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không có tàm quý! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không nói sự thật!

Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta đã nói về con, ở giữa làng Vajji như sau: "Tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita sẽ thác sanh vào Ðại địa ngục,"

Bạch Thế Tôn, con không thác sanh vào Ðại địa ngục, Bạch Thế Tôn, con được sanh vào cõi Tam thập tam thiên! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không có tàm quý. Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không nói sự thật!

Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama... đầu của ông ấy sẽ bị bể tan."

For Ajita, the general of the Licchavis, died the other day and has been reborn in the company of the Thirty-Three Gods.

He came to see me and told me: ‘Lord, Pāṭikaputta the naked ascetic is an  impudent liar!

He declared in the Vajjian capital: “Ajita, the general of the Licchavis, has been reborn in the great hell!”

But I have not been reborn in the great hell, but in the company of the Thirty-Three Gods. He is an impudent liar...’

♦ ‘iti kho, sunakkhatta, cetasā ceto paricca vidito ceva me acelo pāthikaputto abhabbo acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti. devatāpi me etamatthaṃ ārocesuṃ — abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.

Này Sunakkhatta, như vậy chính tự tâm phán xét mà Ta biết về lõa thể Pàtikaputta.

Lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy.

Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.

Và một vị thiên Thần đã báo tin cho ta biết: "Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy.

Nếu ông nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Thế Tôn mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan."

Thus, Sunakkhatta, I know what I have said by my own mind,

but I have also been told by a deva.

♦ ‘so kho panāhaṃ, sunakkhatta, vesāliyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātappaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamissāmi divāvihārāya. yassadāni tvaṃ, sunakkhatta, icchasi, tassa ārocehī’ti.

"Này Sunakkhatta, sau khi Ta đi khất thực ở Vesàli, ăn xong và khất thực trở về, Ta sẽ đến tại vườn Pàtikaputta để nghỉ trưa. Này Sunakkhatta, nếu Ngươi muốn, hãy tin cho ông ấy biết."

And now, Sunakkhatta, I will go into Vesālῑ for alms. On my return, after I have eaten, I will go for my midday rest to Pāṭikaputta’s park. You may tell him whatever you wish.” [16]

iddhipāṭihāriyakathā (DN 24)    

♦ 20. “atha khvāhaṃ {atha kho svāhaṃ (syā.)}, bhaggava, pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṃ piṇḍāya pāvisiṃ. vesāliyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātappaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamiṃ divāvihārāya. atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto taramānarūpo vesāliṃ pavisitvā yena abhiññātā abhiññātā licchavī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā abhiññāte abhiññāte licchavī etadavoca — ‘esāvuso, bhagavā vesāliyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātappaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkami divāvihārāya. abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto, sādhurūpānaṃ samaṇānaṃ uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ bhavissatī’ti . atha kho, bhaggava, abhiññātānaṃ abhiññātānaṃ licchavīnaṃ etadahosi — ‘sādhurūpānaṃ kira, bho, samaṇānaṃ uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ bhavissati; handa vata, bho, gacchāmā’ti. yena ca abhiññātā abhiññātā brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā {nānātitthiya (syā.)} samaṇabrāhmaṇā tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā abhiññāte abhiññāte nānātitthiye {nānātitthiya (syā.)} samaṇabrāhmaṇe etadavoca — ‘esāvuso, bhagavā vesāliyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātappaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkami divāvihārāya. abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto, sādhurūpānaṃ samaṇānaṃ uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ bhavissatī’ti. atha kho, bhaggava, abhiññātānaṃ abhiññātānaṃ nānātitthiyānaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ etadahosi — ‘sādhurūpānaṃ kira, bho, samaṇānaṃ uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ bhavissati; handa vata, bho, gacchāmā’ti.

19. Này Bhaggava, rồi Ta đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực. Sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, Ta đi đến vườn của Pàtikaputta để nghỉ trưa.

Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi vội vàng vào thành Sesàli, đến những Licchava có danh tiếng và báo tin cho những vị ấy biết:

"- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pàtikaputta để nghỉ trưa! Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo."

Này Bhaggava, các Licchavi có danh tiếng suy nghĩ như sau: "Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó."

Và chỗ nào có những Bà la môn có địa vị, những gia chủ giàu sang, các Bà la môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng, ông ta đi đến các vị này và báo tin cho biết:

"- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pàtikaputta để nghỉ trưa. Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo."

Này Bhaggava, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng suy nghĩ: "Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó."

1.19. ‘Then, having dressed, I took my robe and bowl and went into Vesālῑ for alms. On my return I went to Pāṭikaputta’s park for my midday rest.

Meanwhile Sunakkhatta rushed into Vesālῑ and declared to all the prominent Licchavis:

“Friends, the Blessed Lord has gone into Vesālῑ for alms, and after that he has gone for his midday rest to Pātṭkaputta’s park. Come along, friends, come along! the two great ascetics are going to work miracles!”

And all the prominent Licchavis thought: “The two great ascetics are going to work miracles! Let us go along!”

And he went to the distinguished and wealthy Brahmins and householders, and to the ascetics and Brahmins of various schools, and told them the same thing, and they too thought:

“Let us go along!” [17]

♦ “atha kho, bhaggava, abhiññātā abhiññātā licchavī, abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamiṃsu. sā esā, bhaggava, parisā mahā hoti {parisā hoti (sī. syā. pī.)} anekasatā anekasahassā.

Này Bhaggava, rồi các Licchavi có danh tiếng, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cùng đi đến vườn của Pàtikaputta. Này Bhaggava, như vậy Hội chúng này lên đến hàng trăm hàng ngàn người.

And so all these people came along to Paṭikaputta’s park, hundreds and thousands of them.

♦ 21. “assosi kho, bhaggava, acelo pāthikaputto — ‘abhikkantā kira abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. samaṇopi gotamo mayhaṃ ārāme divāvihāraṃ nisinno’ti. sutvānassa bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃso udapādi. atha kho, bhaggava, acelo pāthikaputto bhīto saṃviggo lomahaṭṭhajāto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo tenupasaṅkami.

20. Này Bhaggava, lõa thể Pàtikaputta được nghe: "Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến, còn Sa môn Gotama thì ngồi nghỉ trưa tại vườn của ta."

Khi nghe vậy ông ấy hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược. Này Bhaggava, lõa thể Pàtikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược, liền đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu.

Này Bhaggava, Hội chúng ấy được nghe: "Lõa thể Pàtikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược đã đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu."

1.20. ‘And Pāṭikaputta heard that all these people had come to his park, and that the ascetic Gotama had gone there for his  midday rest.

And at the news he was overcome with fear  and trembling, and his hair stood on end. And thus terrified and trembling, his hair standing on end, he made for the Tinduka lodging of the wanderers. (746)

When the assembled company heard that he had gone to the Tinduka lodging,

♦ “assosi kho, bhaggava, sā parisā — ‘acelo kira pāthikaputto bhīto saṃviggo lomahaṭṭhajāto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo tenupasaṅkanto’ti {tenupasaṅkamanto (sī. pī. ka.)}. atha kho, bhaggava, sā parisā aññataraṃ purisaṃ āmantesi --

Này Bhaggava, Hội chúng liền cho gọi một người và bảo:

"- Này bạn hãy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu, gặp lõa thể Pàtikaputta và nói như sau:

they instructed a man to go there to Pāṭikaputta and say to him:

♦ ‘ehi tvaṃ, bho purisa, yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkama. upasaṅkamitvā acelaṃ pāthikaputtaṃ evaṃ vadehi — abhikkamāvuso, pāthikaputta, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā, samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṃ nisinno;

"Này bạn Pàtikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến. Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.

“Friend Pāṭikaputta, come along! All these people have come to your park, and the ascetic Gotama has gone there for his midday rest.

Because you declared to the assembly at Vesālῑ: ‘The ascetic Gotama claims to be a man of wisdom, and I make the same claim ... (as verse 15). [18]

bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṃ parisati vācā samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo. ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ dassetuṃ. samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṃ āgaccheyya ahampi upaḍḍhapathaṃ gaccheyyaṃ. te tattha ubhopi uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ kareyyāma. ekaṃ ce samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissati, dvāhaṃ karissāmi. dve ce samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṃ karissāmi. cattāri ce samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṃ karissāmi.

Này Hiền giả Pàtikaputta, lời nói sau đây được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Sesàli: "Sa môn là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây.

Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện hai pháp thượng thần thông, thời ta sẽ thực hiện bốn pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp.

 

iti yāvatakaṃ yāvatakaṃ samaṇo gotamo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissati, taddiguṇaṃ taddiguṇāhaṃ karissāmī’ti abhikkamasseva {abhikkamayeva (sī. syā. pī.)} kho; āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṃ. sabbapaṭhamaṃyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṃ nisinno’ti.

Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiêu pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.

"Này Hiền giả Pàtikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả!".

However many miracles he performs, I will perform twice as many!’

So now come half-way: the ascetic Gotama has already come half-way to meet you, and is sitting for his midday rest in Your Reverence’s park.”

♦ 22. “evaṃ, bhoti kho, bhaggava, so puriso tassā parisāya paṭissutvā yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṃ pāthikaputtaṃ etadavoca — ‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṃ nisinno. bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṃ parisati vācā — samaṇopi gotamo ñāṇavādo; ahampi ñāṇavādo. ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ dassetuṃ ... pe ... taddiguṇaṃ taddiguṇāhaṃ karissāmīti. abhikkamasseva kho, āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṃ. sabbapaṭhamaṃyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṃ nisinno’ti.

21. Này Bhaggava, người ấy vâng theo lời Hội chúng ấy, đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu, gặp lõa thể Pàtikaputta, sau khi gặp xong, liền thưa:

"- Này bạn Pàtikaputta, hãy đi đến. Các Licchavi danh tiếng... Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.

Này Hiền giả Pàtikaputta, lời nói sau được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Vesàli: "Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí... ta sẽ thực hiện gấp hai lần".

Này Hiền giả Pàtikaputta, hãy chịu đi nửa đường, Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường và ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả."

1.21. ‘The man went and delivered the message, and on hearing it Pāṭikaputta said:

♦ “evaṃ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi āvuso, āyāmi āvuso’ti vatvā tattheva saṃsappati {saṃsabbati (ka.)}, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṃ. atha kho so, bhaggava, puriso acelaṃ pāthikaputtaṃ etadavoca — ‘kiṃ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṃ allīnā, pīṭhakaṃ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṃ? āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṃsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti. evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi āvuso, āyāmi āvuso’ti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṃ.

Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, lõa thể Pàtikaputta trả lời:

"- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến".

Nhưng ông ấy như trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Này Bhaggava, người ấy nói với lõa thể Pàtikaputta:

"- Này Hiền giả Pàtikaputta sao lại như vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả?

"- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến."

Tuy nói vậy nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.

“I’m coming, friend, [19] coming!” but, wriggle as he might, he could not get up from his seat. Then the man said:

“What’s the matter with you, friend Pāṭikaputta? Is your bottom stuck to the seat, or is the seat stuck to your bottom?

You keep saying: ‘I’m coming, friend, I’m coming!’,

but you only wriggle and can’t get up from your seat.”

♦ 23. “yadā kho so, bhaggava, puriso aññāsi — ‘parābhūtarūpo ayaṃ acelo pāthikaputto. āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti. atha taṃ parisaṃ āgantvā evamārocesi — ‘parābhūtarūpo, bho {parābhūtarūpo bho ayaṃ (syā. ka.), parābhūtarūpo (sī. pī.)}, acelo pāthikaputto. āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti. evaṃ vutte, ahaṃ, bhaggava, taṃ parisaṃ etadavocaṃ — ‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ‘ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyan’ti, muddhāpi tassa vipateyyāti.

paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.

Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pàtikaputta tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến"; nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.

22. Này Bhaggava, khi người ấy biết được lõa thể Pàtikaputta này đã bị thảm hại, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", lại trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi, liền đến Hội chúng ấy báo tin:

"- Lõa thể Pàtikaputta đã thảm bại, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", lại trườn bò qua lại, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi."

Này Bhaggava, khi nghe vậy Ta nói Hội chúng:

"- Này các Hiền giả, lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy.

Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan."

And even at these words, Pāṭikaputta still wriggled about, but could not rise.

1.22. ‘And when that man realised that Pāṭikaputta could not help himself, he went back to the assembly and reported the situation.

And then I said to them:

“Pāṭikaputta the naked ascetic is not capable of meeting me face to face unless he takes back his words, abandons that thought, and gives up that view.

And if he thinks otherwise, his head will split in pieces.”’

[End of first recitation-section]

 

Tụng phẩm II

 

♦ 24. “atha kho, bhaggava, aññataro licchavimahāmatto uṭṭhāyāsanā taṃ parisaṃ etadavoca — ‘tena hi, bho, muhuttaṃ tāva āgametha, yāvāhaṃ gacchāmi {paccāgacchāmi (?)}. appeva nāma ahampi sakkuṇeyyaṃ acelaṃ pāthikaputtaṃ imaṃ parisaṃ ānetun’ti.

1. Này Bhaggava, một vị đại thần Licchavi, từ chỗ ngồi đứng dậy, nói với Hội chúng ấy:

"- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi, xem có thể đưa lõa thể Pàtikaputta đến Hội chúng này không?"

2.1. ‘Then, Bhaggava, one of the ministers of the Licchavis rose from his seat and said:

“Well, gentlemen, just wait a little till I [20] I have been to see whether I can bring Pāṭikaputta to the assembly.”

♦ “atha kho so, bhaggava, licchavimahāmatto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṃ pāthikaputtaṃ etadavoca — ‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantaṃ te seyyo, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṃ nisinno. bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṃ parisati vācā — samaṇopi gotamo ñāṇavādo ... pe ... taddiguṇaṃ taddiguṇāhaṃ karissāmīti. abhikkamasseva kho, āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṃ. sabbapaṭhamaṃyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṃ nisinno. bhāsitā kho panesā, āvuso pāthikaputta, samaṇena gotamena parisati vācā — abhabbo kho acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti. abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkamaneneva te jayaṃ karissāma, samaṇassa gotamassa parājayan’ti.

Này Bhaggava, rồi vị đại thần Licchavi ấy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu, gặp mặt lõa thể Pàtikaputta và nói với ông ấy:

"- Này bạn Pàtikaputta hãy đến! Các Licchavi danh tiếng đã đến, và các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Ba la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến; còn Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.

Này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesàli: "Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí... thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần".

Này Hiền giả Pàtikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.

Này Hiền giả Pàtikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: "Lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy... ông ấy có thể đến gặp mặt Thế Tôn thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan".

Này Hiền giả Pàtikaputta hãy đến! Nếu Hiền giả đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng và làm cho Sa môn Gotama thất bại."

So he went to the Tinduka lodging and said to Pāṭikaputta:

“Come along, Pāṭikaputta, it is best for you to come. All these people have come to your park and the ascetic Gotama has gone there for his midday rest.

If you come, we will make you the winner and let the ascetic Gotama be defeated.”

♦ “evaṃ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi āvuso, āyāmi āvuso’ti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṃ. atha kho so, bhaggava, licchavimahāmatto acelaṃ pāthikaputtaṃ etadavoca — ‘kiṃ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṃ allīnā, pīṭhakaṃ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṃ ? āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṃsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti . evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi āvuso, āyāmi āvuso’ti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṃ.

2. Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pàtikaputta, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không thể từ chỗ ngồi đứng dậy. Này Bhaggava, vị đại thần Licchavi liền nói với lõa thể Pàtikaputta:

"- Này Hiền giả Pàtikaputta, sao lại vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả. Tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy."

Này Bhaggava, khi được nói vậy, lõa thể Pàtikaputta tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.

2.2. ‘And Pāṭikaputta said: “I’m coming, friend, I’m coming”, but wriggle as he might, he [21] could not get up from his seat... 

♦ 25. “yadā kho so, bhaggava, licchavimahāmatto aññāsi — ‘parābhūtarūpo ayaṃ acelo pāthikaputto āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti. atha taṃ parisaṃ āgantvā evamārocesi — ‘parābhūtarūpo, bho {parābhūtarūpo (sī. pī.), parābhūtarūpo ayaṃ (syā.)}, acelo pāthikaputto āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti. evaṃ vutte, ahaṃ, bhaggava, taṃ parisaṃ etadavocaṃ — ‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya. sace pāyasmantānaṃ licchavīnaṃ evamassa — mayaṃ acelaṃ pāthikaputtaṃ varattāhi {yāhi varattāhi (syā. ka.)} bandhitvā goyugehi āviñcheyyāmāti {āviñjeyyāmāti (syā.), āvijjheyyāmāti (sī. pī.)}, tā varattā chijjeyyuṃ pāthikaputto vā. abhabbo pana acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.

3. Này Bhaggava, khi vị đại thần Licchavi biết được lõa thể Pàtikaputta này đã bị thảm bại, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền đến Hội chúng ấy báo tin:

"- Lõa thể Pàtikaputta đã thảm bại, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy."

Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Hội chúng ấy:

"- Này các Hiền giả, lõa thể Pàtikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy... thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.

Nếu quí vị Licchavi nghĩ rằng: "Chúng ta hãy cột lõa thể Pàtikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây, Pàtikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy.

Lõa thể Pàtikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy..." Nếu ông ấy nghĩ rằng: "Ta không từ bỏ lời nói ấy...", thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan."

2.3. ‘So the minister returned to the assembly and reported on the situation.

Then I said:

“Pāṭikaputta, is not capable of meeting me ... Even if the good Licchavis were to think: ‘Let us bind him with thongs and try to drag him with yoked oxen!’ he would burst the thongs.

He is not capable of meeting me face to face ... ”[22]

♦ 26. “atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī uṭṭhāyāsanā taṃ parisaṃ etadavoca — ‘tena hi, bho, muhuttaṃ tāva āgametha, yāvāhaṃ gacchāmi; appeva nāma ahampi sakkuṇeyyaṃ acelaṃ pāthikaputtaṃ imaṃ parisaṃ ānetun”ti.

4. Này Bhaggava, lúc ấy Jàliya, đệ tử của Dàrupatti, từ chỗ ngồi đứng dậy và nói với Hội chúng ấy:

"- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi xem có thể đưa lõa thể Pàtikaputta đến Hội chúng này hay không?"

2.4. ‘Then Jāliya, a pupil of the wooden bowl ascetic, (747) rose from his seat...,

♦ “atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṃ pāthikaputtaṃ etadavoca — ‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantaṃ te seyyo. abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṃ nisinno. bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṃ parisati vācā — samaṇopi gotamo ñāṇavādo ... pe ... taddiguṇaṃ taddiguṇāhaṃ karissāmīti. abhikkamasseva, kho āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṃ. sabbapaṭhamaṃyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṃ nisinno. bhāsitā kho panesā, āvuso pāthikaputta, samaṇena gotamena parisati vācā — abhabbo acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya. sace pāyasmantānaṃ licchavīnaṃ evamassa — mayaṃ acelaṃ pāthikaputtaṃ varattāhi bandhitvā goyugehi āviñcheyyāmāti. tā varattā chijjeyyuṃ pāthikaputto vā. abhabbo pana acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ āgaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti. abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkamaneneva te jayaṃ karissāma, samaṇassa gotamassa parājayan’ti.

Này Bhaggava, rồi Jàliya, đệ tử của Dàrupatti đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu, gặp mặt lõa thể Pàtikaputta và nói với ông ấy:

"- Này bạn Pàtikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến... Sa môn Gotama nay đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.

Này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesàli như sau: "Sa môn Gotama là người có trí... thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần."

Này Hiền giả Pàtikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.

Này Hiền giả Pàtikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: "Lõa thể Pàtikaputta nếu không từ bỏ lời nói ấy...

Nếu ông ấy nghĩ rằng: "Ta không bỏ lời nói ấy... có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama...", thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan".

Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: "Chúng ta hãy cột lõa thể Pàtikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây", Pàtikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy.

Lõa thể Pàtikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy... đầu của ông ấy sẽ bị bể tan".

Này Hiền giả Pàtikaputta hãy đến. Nếu Hiền giả đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng, và làm cho Sa môn Gotama thất bại."

went to the Tinduka lodging and said to Pāṭikaputta:

“Come along, Pāṭikaputta,... if you come, we will make you the winner and let the ascetic Gotama be defeated.” [23]

♦ “evaṃ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi āvuso, āyāmi āvuso’ti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṃ. atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī acelaṃ pāthikaputtaṃ etadavoca — ‘kiṃ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṃ allīnā, pīṭhakaṃ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṃ? āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṃsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti. evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto “āyāmi āvuso, āyāmi āvuso”ti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātunti.

5. Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pàtikaputta, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy. Này Bhaggava, Jàliya, đệ tử của Dàrupatti nói với lõa thể Pàtikaputta:

"- Này Hiền giả Pàtikaputta sao lại vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính vào mông của Hiền giả. Tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy."

Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pàtikaputta, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy."

Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pàtikaputta, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy."

2.5. ‘And Pāṭikaputta said: “I’m coming, friend, I’m coming!” but wriggle as he might, he could not get up from his seat...

♦ 27. “yadā kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī aññāsi — ‘parābhūtarūpo ayaṃ acelo pāthikaputto ‘āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti, atha naṃ etadavoca --

6. Này Bhaggava, khi Jàliya, đệ tử của Dàrupatti biết được lõa thể Pàtikaputta nay đã bị thảm bại, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền nói với ông ấy:

2.6. ‘Then, when Jāliya realised the situation, he said:

♦ ‘bhūtapubbaṃ, āvuso pāthikaputta, sīhassa migarañño etadahosi — yaṃnūnāhaṃ aññataraṃ vanasaṇḍaṃ nissāya āsayaṃ kappeyyaṃ. tatrāsayaṃ kappetvā sāyanhasamayaṃ āsayā nikkhameyyaṃ, āsayā nikkhamitvā vijambheyyaṃ, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokeyyaṃ, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṃ sīhanādaṃ nadeyyaṃ, tikkhattuṃ sīhanādaṃ naditvā gocarāya pakkameyyaṃ. so varaṃ varaṃ migasaṃghe {migasaṃghaṃ (syā. ka.)} vadhitvā mudumaṃsāni mudumaṃsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṃ ajjhupeyyan’ti.

"- Này Hiền giả Pàtikaputta, thuở xưa con sư tử vua các loài thú suy nghĩ: "Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt.

Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử.

Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại".

“Pāṭikaputta, once long ago the lion, king of beasts, thought: ‘Suppose I were to make my lair near a certain jungle.

Then I could emerge in the evening, yawn, survey the four quarters, roar my lion’s roar three times, and then make for the cattle-pasture.

I could then pick out the very best of the herd for my kill and, having had a good feast of tender meat, return to my lair.’

♦ ‘atha kho, āvuso, so sīho migarājā aññataraṃ vanasaṇḍaṃ nissāya āsayaṃ kappesi. tatrāsayaṃ kappetvā sāyanhasamayaṃ āsayā nikkhami, āsayā nikkhamitvā vijambhi, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokesi, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṃ sīhanādaṃ nadi, tikkhattuṃ sīhanādaṃ naditvā gocarāya pakkāmi. so varaṃ varaṃ migasaṅghe vadhitvā mudumaṃsāni mudumaṃsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṃ ajjhupesi.

"Này Hiền giả, con sư tử ấy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử.

Sau khi rống tiếng rống con sư tử, nó đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại.

And he did accordingly. [24]

♦ 28. ‘tasseva kho, āvuso pāthikaputta, sīhassa migarañño vighāsasaṃvaḍḍho jarasiṅgālo {jarasigālo (sī. syā. pī.)} ditto ceva balavā ca. atha kho, āvuso, tassa jarasiṅgālassa etadahosi — ko cāhaṃ, ko sīho migarājā. yaṃnūnāhampi aññataraṃ vanasaṇḍaṃ nissāya āsayaṃ kappeyyaṃ. tatrāsayaṃ kappetvā sāyanhasamayaṃ āsayā nikkhameyyaṃ, āsayā nikkhamitvā vijambheyyaṃ, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokeyyaṃ, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṃ sīhanādaṃ nadeyyaṃ, tikkhattuṃ sīhanādaṃ naditvā gocarāya pakkameyyaṃ. so varaṃ varaṃ migasaṅghe vadhitvā mudumaṃsāni mudumaṃsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṃ ajjhupeyyan’ti.

7. "Này Hiền giả Pàtikaputta, có con chó rừng già kiêu ngạo và mạnh mẽ, thường sống bằng đồ ăn thừa của con sư tử, vua các loài thú. Con chó rừng ấy suy nghĩ: "Ta là ai, và con sư tử, vua các loài thú, là ai? Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt.

Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại, rồi trở về sào huyệt lại."

2.7. “‘Now there was an old jackal who had grown fat on the lion’s leavings, and he was proud and strong. And he thought: ‘What difference is there between me and the lion, king of beasts? Suppose I were to make my lair near the jungle...’

So he chose a lair accordingly and emerging in the evening, he surveyed the four quarters, and then thought: ‘Now I will roar a lion’s roar three times’,

♦ ‘atha kho so, āvuso, jarasiṅgālo aññataraṃ vanasaṇḍaṃ nissāya āsayaṃ kappesi. tatrāsayaṃ kappetvā sāyanhasamayaṃ āsayā nikkhami, āsayā nikkhamitvā vijambhi, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokesi, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṃ sīhanādaṃ nadissāmīti siṅgālakaṃyeva anadi bheraṇḍakaṃyeva {bhedaṇḍakaṃyeva (ka.)} anadi, ke ca chave siṅgāle, ke pana sīhanādeti {sīhanāde (?)}.

"Này Hiền giả, con chó rừng kia ý cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và định ba lần rống tiếng rống con sư tử. Nhưng nó chỉ kêu lên tiếng loại chó rừng, tiếng sủa loại chó rừng.

Ai có thể so sánh tiếng sủa con chó rừng đê tiện với tiếng rống con sư tử?

- and he gave out the howl of his kind, a jackal howl.

For what has the wretched howl of a jackal in common with a lion’s roar?

♦ ‘evameva kho tvaṃ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṃ maññasi. ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṃ arahantānaṃ sammāsambuddhānaṃ āsādanā’ti.

"Cũng vậy, này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Bọn Pàtikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?"

In just the same way, Pāṭikaputta, you live off the achievements of the Well-Farer and feed on the WellFarer’s leavings, imagining you can set yourself up beside the Tathāgatas, Arahants and fully-enlightened Buddhas.

But what have wretched Pāṭikaputtas in common with them?”

♦ 29. “yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī iminā opammena neva asakkhi acelaṃ pāthikaputtaṃ tamhā āsanā cāvetuṃ. atha naṃ etadavoca —

8. Này Bhaggava, Jàliya, đệ tử của Dàrupati dầu có dùng ví dụ ấy cũng không thể khiến lõa thể Pàtikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:

2.8. ‘Then, being unable even with the aid of this parable to get Pāṭikaputta, to rise from his seat, Jāliya uttered this verse: [25]

♦ ‘sīhoti attānaṃ samekkhiyāna,

♦ amaññi kotthu migarājāhamasmi.

♦ tatheva {tameva (syā.)} so siṅgālakaṃ anadi,

♦ ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanāde’ti.

Chó rừng nhìn tự thân,
Tự nghĩ là sư tử.
Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?

“Thinking himself a lion, the jackal says:

‘I’m the king of beasts’, and tries to roar

A lion’s roar, but only howls instead.

Lion is lion and jackal’s jackal still.

♦ ‘evameva kho tvaṃ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṃ maññasi. ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṃ arahantānaṃ sammāsambuddhānaṃ āsādanā’ti.

"Cũng vậy, này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Bọn Pàtikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A lán hán, Chánh Ðẳng Giác?"

In just the same way, Pāṭikaputta, you are living off the achievements of the Well-Farer...”

♦ 30. “yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṃ pāthikaputtaṃ tamhā āsanā cāvetuṃ. atha naṃ etadavoca —

♦ ‘aññaṃ anucaṅkamanaṃ, attānaṃ vighāse samekkhiya.

♦ yāva attānaṃ na passati, kotthu tāva byagghoti maññati.

♦ tatheva so siṅgālakaṃ anadi.

♦ ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanāde’ti.

♦ ‘evameva kho tvaṃ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṃ maññasi. ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṃ arahantānaṃ sammāsambuddhānaṃ āsādanā’ti.

 

2.9. ‘And, being unable even with the aid of this parable to get Pāṭikaputta to rise from his seat, Jāliya uttered this verse:

“Following another’s tracks, and fed

On scraps, his jackal-nature he forgets,

Thinking: ‘I’m a tiger’, tries to roar

A mighty roar, but only howls instead.

Lion is lion and jackal’s jackal still.

In just the same way, Pāṭikaputta, you are living off the achievements of the Well-Farer...”

♦ 31. “yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṃ pāthikaputtaṃ tamhā āsanā cāvetuṃ. atha naṃ etadavoca —

♦ ‘bhutvāna bheke {bhiṅge (ka.)} khalamūsikāyo,

♦ kaṭasīsu khittāni ca koṇapāni {kūṇapāni (syā.)}.

♦ mahāvane suññavane vivaḍḍho,

♦ amaññi kotthu migarājāhamasmi.

♦ tatheva so siṅgālakaṃ anadi.

♦ ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanāde’ti.

♦ ‘evameva kho tvaṃ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṃ maññasi. ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṃ arahantānaṃ sammāsambuddhānaṃ āsādanā’ti.

10. Này Bhaggava, Jàliya, đệ tử của Dàrupatti, dầu có dùng ví dụ ấy cũng không có thể khiến lõa thể Pàtikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:

Ăn cóc, chuột kho thóc,
Ăn xác quăng nghĩa địa,
Sống Ðại lâm, Không lâm,
Tự nghĩ là vua thú.

Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?

"Cũng vậy này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác.

Bọn Pàtikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?"

2.10. ‘And, being unable even with this [26] parable to get Pāṭikaputta, to rise from his seat, Jāliya uttered this verse:

“Gorged on frogs and mice from threshing floors,

And corpses cast aside in charnel-grounds,

In lonely forests wild the jackal thinks:

‘I’m the king of beasts’, and tries to roar

A lion’s roar, but only howls instead.

Lion is lion and jackal’s jackal still.

In just the same way, Pāṭikaputta, you are living off the achievements of the Well-Farer, feeding on the Well-Farer’s leavings, imagine you can set yourself up beside the Tathāgatas, Arahants and full-enlightened Buddhas.

But what have wretched Pāṭikaputtas in common with them?”

♦ 32. “yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṃ pāthikaputtaṃ tamhā āsanā cāvetuṃ. atha taṃ parisaṃ āgantvā evamārocesi — ‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṃsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.

11. Này Bhaggava, Jàliya, đệ tử của Dàrupatti, dầu có dùng ví dụ ấy, cũng không thể khiến lõa thể Pàtikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền về Hội chúng ấy và báo tin:

"- Lõa thể Pàtikaputta đã thảm bại, tuy nói: "Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến", nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy."

2.11. ‘Then, being unable even with this parable to get Pāṭikaputta to rise from his seat, Jāliya returned to the assembly and reported on the situation.
♦ 33. “evaṃ vutte, ahaṃ, bhaggava, taṃ parisaṃ etadavocaṃ — ‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya. sacepāyasmantānaṃ licchavīnaṃ evamassa — mayaṃ acelaṃ pāthikaputtaṃ varattāhi bandhitvā nāgehi {goyugehi (sabbattha) aṭṭhakathā passitabbā} āviñcheyyāmāti . tā varattā chijjeyyuṃ pāthikaputto vā. abhabbo pana acelo pāthikaputto taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṃ āgantuṃ. sacepissa evamassa — ahaṃ taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṃ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.

12. Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với hội chúng ấy:

"- Này các Hiền giả, lõa thể Pàtikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì không có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: "Ta tuy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được", thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.

Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: "Chúng ta hãy cột lõa thể Pàtikaputta với dây thừng và dùng bò kéo ông ấy lại đây". Pàtikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy.

Lõa thể Pàtikaputta không có thể không từ bỏ lời nói ấy... có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: "Ta có thể không từ bỏ lời nói ấy... có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được", thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan."

2.12. ‘Then I said:

“Pāṭikaputtas is not capable of meeting me face to face unless he takes back his words, abandons that thought and gives up that view...

Even if the good Licchavis were to think: ‘Let us bind him with thongs and try to drag him here with yoked oxen’, [27] he would burst the thongs.

He is not capable of meeting me face to face ... If he thinks otherwise, his head will split in pieces.”

♦ 34. “atha khvāhaṃ, bhaggava, taṃ parisaṃ dhammiyā kathāya sandassesiṃ samādapesiṃ samuttejesiṃ sampahaṃsesiṃ, taṃ parisaṃ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṃsetvā mahābandhanā mokkhaṃ karitvā caturāsītipāṇasahassāni mahāviduggā uddharitvā tejodhātuṃ samāpajjitvā sattatālaṃ vehāsaṃ abbhuggantvā aññaṃ sattatālampi acciṃ {aggiṃ (syā.)} abhinimminitvā pajjalitvā dhūmāyitvā {dhūpāyitvā (sī. pī.)} mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ paccuṭṭhāsiṃ.

13. Này Bhaggava, rồi Ta giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp

Sau khi giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp, Ta khiến cho họ giải thoát đại kiết sử, cứu vớt tám vạn bốn ngàn chúng sanh thoát khỏi đại đọa xứ,

Ta nhập thiền quang giới tam muội, bay lên hư không cao đến bảy cây ta-la, phóng hào quang cao đến hơn bảy cây ta-la, khiến cho cháy sáng, rực sáng và Ta hiện ra tại Trùng Các giảng đường ở Ðại Lâm.

2.13. ‘Then, Bhaggava, I instructed, inspired, fired and delighted that assembly with a talk on Dhamma.

And having thereby delivered that company from the great bondage, (748) thus rescuing eighty-four thousand beings from the great path of peril,

I entered into the fire-element (749) and rose into the air to the height of seven palm-trees, and projecting a beam for the height of another seven so that it blazed and shed fragrance, I then reappeared in the Gabled Hall in the Great Forest. (750)

♦ 35. “atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinnaṃ kho ahaṃ, bhaggava, sunakkhattaṃ licchaviputtaṃ etadavocaṃ — ‘taṃ kiṃ maññasi, sunakkhatta, yatheva te ahaṃ acelaṃ pāthikaputtaṃ ārabbha byākāsiṃ, tatheva taṃ vipākaṃ aññathā vā’ti? ‘yatheva me, bhante, bhagavā acelaṃ pāthikaputtaṃ ārabbha byākāsi, tatheva taṃ vipākaṃ, no aññathā’ti.

Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:

"- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải điều Ta nói cho Ngươi về lõa thể Pàtikaputta, đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác?

"- Bạch Thế Tôn, điều Thế Tôn nói cho con về lõa thể Pàtikaputta đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác.

‘And there Sunakkhatta came to me, saluted me and sat down to one side. I said:

“What do you think, Sunakkhatta? Has what I told you about Pāṭikaputta come about, or not?”

“It has, Lord.”

♦ ‘taṃ kiṃ maññasi, sunakkhatta, yadi evaṃ sante kataṃ vā hoti uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ, akataṃ vā’ti? ‘addhā kho, bhante, evaṃ sante kataṃ hoti uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ, no akatan’ti. ‘evampi kho maṃ tvaṃ, moghapurisa, uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karontaṃ evaṃ vadesi — na hi pana me, bhante, bhagavā uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karotīti. passa, moghapurisa, yāvañca te idaṃ aparaddhaṃ’ti.

"- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thì có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện hay không được thực hiện?

"- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, không phải không thực hiện.

- "Này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi lại nói: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông." Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!"

“And has a miracle been performed, or not?”

“It has, Lord.”

“Well then, you foolish man, do you still say to me after I have performed such a [28] miracle: ‘Well, Lord, you have not performed any miracles’? Consider, you foolish man, how far the fault is yours.”

♦ “evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṃ āpāyiko nerayiko.

Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.

And, Bhaggava, at my words Sunakkhatta left this Dhamma and discipline like one condemned to hell.

aggaññapaññattikathā (DN 24)    
♦ 36. “aggaññañcāhaṃ, bhaggava, pajānāmi. tañca pajānāmi {“tañcapajānāmī””ti idaṃ syāpotthakenatthi}, tato ca uttaritaraṃ pajānāmi, tañca pajānaṃ {pajānanaṃ (syā. ka.) aṭṭhakathāsaṃvaṇṇanā passitabbā} na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā, yadabhijānaṃ tathāgato no anayaṃ āpajjati.

14. Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa.

Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không có chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy; chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.

2.14. ‘Bhaggava, I know the first beginning of things, (751) and I know not only that, but what surpasses it in value. (752)

And I am not under the sway of what I know, and not being under its sway I have come to know for myself that quenching, (753) by the realisation of which the Tathāgata cannot fall into perilous paths. (754)

♦ 37. “santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā issarakuttaṃ brahmakuttaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapenti. tyāhaṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi — ‘saccaṃ kira tumhe āyasmanto issarakuttaṃ brahmakuttaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti? te ca me evaṃ puṭṭhā, ‘āmo’ti {āmāti (syā.)} paṭijānanti. tyāhaṃ evaṃ vadāmi — ‘kathaṃvihitakaṃ pana {kathaṃ vihitakaṃno pana (ka.)} tumhe āyasmanto issarakuttaṃ brahmakuttaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti? te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti. tesāhaṃ puṭṭho byākaromi —

Này Bhaggava, có những vị Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên (Issara) tạo ra, do Phạm thiên (Brahma) tạo ra. Ta đến những vị ấy và nói:

"- Có phải chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra?"

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:

"- Vâng!"

Ta nói với quý vị ấy:

"- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo thuyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra"?

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:

There are, Bhaggava, some ascetics and Brahmins who declare as their doctrine that all things began with the creation by a god, (755) or Brahma. I have gone to them and said:

“Reverend sirs, is it true that you declare that all things began with the creation by a god, or Brahma?”

“Yes”, they replied.

Then I asked:

“In that case, how do the reverend teachers declare that this came about?”

But they could not give an answer, and so they asked me in return. And I replied:

♦ 38. ‘hoti kho so, āvuso, samayo yaṃ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṃ loko saṃvaṭṭati. saṃvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṃvattanikā honti. te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṃpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭhanti.

15. "- Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển hoại.

Trong khi thế giới chuyển hoại, phần lớn các loài hữu tình chuyển sanh qua Abhassara (Quang Âm thiên) ở tại đây, những loài hữu tình nào do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài.

2.15.-17. ‘“There comes a time, friends, sooner or later after a long period, when this world contracts...

Beings are born in the Abhassara Brahma world and stay there a long time.

When this world expands, one being falls from there and arises in an empty Brahma palace.

♦ ‘hoti kho so, āvuso, samayo yaṃ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṃ loko vivaṭṭati. vivaṭṭamāne loke suññaṃ brahmavimānaṃ pātubhavati. atha kho {atha (sī. syā. pī.)} aññataro satto āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā suññaṃ brahmavimānaṃ upapajjati . so tattha hoti manomayo pītibhakkho sayaṃpabho antalikkhacaro subhaṭṭhāyī, ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭhati.

Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra nhưng trống không.

Lúc bấy giờ, một loài hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không ấy.

Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài.

 

♦ ‘tassa tattha ekakassa dīgharattaṃ nivusitattā anabhirati paritassanā uppajjati — aho vata aññepi sattā itthattaṃ āgaccheyyunti. atha aññepi sattā āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā brahmavimānaṃ upapajjanti tassa sattassa sahabyataṃ. tepi tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṃpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭhanti.

Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: "Mong sao có các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này!"

Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hãy phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không để làm bạn với vị hữu tình kia.

Các loại hữu tình này ở đây cũng có ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài.

He longs for company, other beings appear, 

♦ 39. ‘tatrāvuso, yo so satto paṭhamaṃ upapanno, tassa evaṃ hoti — ahamasmi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā {sañjitā (sī. pī.), sajjitā (syā. kaṃ.)} vasī pitā bhūtabhabyānaṃ, mayā ime sattā nimmitā. taṃ kissa hetu? mamañhi pubbe etadahosi — aho vata aññepi sattā itthattaṃ āgaccheyyunti; iti mama ca manopaṇidhi. ime ca sattā itthattaṃ āgatāti.

16. "Lúc bấy giờ, này các Hiền giả, vị hữu tình sanh qua đầu tiên nghĩ rằng: "Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh.

Những loài hữu tình ấy do chính ta hóa sanh. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này! Chính do sở nguyện của ta mà những loại hữu tình ấy đến tại chỗ này".

 

♦ ‘yepi te sattā pacchā upapannā, tesampi evaṃ hoti — ayaṃ kho bhavaṃ brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṃ; iminā mayaṃ bhotā brahmunā nimmitā. taṃ kissa hetu? imañhi mayaṃ addasāma idha paṭhamaṃ upapannaṃ; mayaṃ panāmha pacchā upapannāti.

Các loài hữu tình đến sau cùng nghĩ như thế này: "Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh.

Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì chúng ta thấy vị này sanh trước ở đây rồi, còn chúng ta thì sanh sau".

and he and they believe he created them (Sutta 1, verses 2.2-6). [29-30]

♦ 40. ‘tatrāvuso, yo so satto paṭhamaṃ upapanno, so dīghāyukataro ca hoti vaṇṇavantataro ca mahesakkhataro ca. ye pana te sattā pacchā upapannā, te appāyukatarā ca honti dubbaṇṇatarā ca appesakkhatarā ca.

17. "Này các Hiền giả, vị hữu tình sanh ra đầu tiên ấy, sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn, và được nhiều uy quyền hơn.

Còn các loài hữu tình sanh sau thì sống ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn, và được ít uy quyền hơn.

 

♦ ‘ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati, yaṃ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṃ āgacchati. itthattaṃ āgato samāno agārasmā anagāriyaṃ pabbajati. agārasmā anagāriyaṃ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusati, yathāsamāhite citte taṃ pubbenivāsaṃ anussarati; tato paraṃ nānussarati.

Này các Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra.

Một trong các loài hữu tình ấy, sau khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống ấy.

 

♦ ‘so evamāha — yo kho so bhavaṃ brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṃ, yena mayaṃ bhotā brahmunā nimmitā. so nicco dhuvo {sassato dīghāyuko (syā. ka.)} sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṃ tatheva ṭhassati. ye pana mayaṃ ahumhā tena bhotā brahmunā nimmitā, te mayaṃ aniccā addhuvā {addhuvā asassatā (syā. ka.)} appāyukā cavanadhammā itthattaṃ āgatā’ti. evaṃvihitakaṃ no tumhe āyasmanto issarakuttaṃ brahmakuttaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethāti. ‘te evamāhaṃsu — evaṃ kho no, āvuso gotama, sutaṃ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti. “aggaññañcāhaṃ, bhaggava, pajānāmi. tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṃ pajānāmi, tañca pajānaṃ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā. yadabhijānaṃ tathāgato no anayaṃ āpajjati.

Vị ấy nói rằng: "Vị kia là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng Tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh.

Chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường trú, không biến chuyển, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này"!

Này các Hiền giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, là do Phạm thiên tạo ra...?"

Các vị ấy nói như sau:

"- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama nói: "Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới... mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi."

That, Reverend Sirs, is how it comes about that you teach that all things began with the creation by a god, or Brahma.”

And they said: “We have heard this, Reverend Gotama, as you have explained.” But I know the first beginning of things... and not being under the sway of what I know I have come to know that quenching by the realisation of which the Tathāgata cannot fall into perilous ways.

♦ 41. “santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā khiḍḍāpadosikaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapenti. tyāhaṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi — ‘saccaṃ kira tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti? te ca me evaṃ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti. tyāhaṃ evaṃ vadāmi — ‘kathaṃvihitakaṃ pana tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti? te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti, tesāhaṃ puṭṭho byākaromi —

18. Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi dục lạc. Ta đến những vị ấy và nói:

"- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc?"

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:

"- Vâng."

Ta nói với quý vị ấy:

"- Sao chư Hiền giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới truyền thống, là do nhiễm hoặc bởi dục lạc?"

Ðược Ta hỏi như vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:

2.18. ‘There are some ascetics and Brahmins who declare that the beginning of things was due to corruption by pleasure. I went to them and asked them if this was their view.

“Yes”, they replied. [31]

I asked them how this came about,

and when they could not explain,

♦ 42. ‘santāvuso, khiḍḍāpadosikā nāma devā. te ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā {hasakhiḍḍāratidhammasamāpannā (ka.)} viharanti. tesaṃ ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṃ viharataṃ sati sammussati, satiyā sammosā {satiyā sammosāya (syā.)} te devā tamhā kāyā cavanti.

"- Này các Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc.

I said: “There are, friends, certain devas called Corrupted by Pleasure. They spend an excessive amount of time addicted to merriment... their mindfulness lapses, and  they fall away (Sutta 1, verses 2.7 — 9).

♦ ‘ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati, yaṃ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṃ āgacchati, itthattaṃ āgato samāno agārasmā anagāriyaṃ pabbajati, agārasmā anagāriyaṃ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusati, yathāsamāhite citte taṃ pubbenivāsaṃ anussarati; tato paraṃ nānussarati.

Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm.

Do thất niệm, chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể của họ. Sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy.

 

♦ ‘so evamāha — ye kho te bhonto devā na khiḍḍāpadosikā te na ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharanti. tesaṃ nātivelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṃ viharataṃ sati na sammussati, satiyā asammosā te devā tamhā kāyā na cavanti, niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṃ tatheva ṭhassanti. ye pana mayaṃ ahumhā khiḍḍāpadosikā te mayaṃ ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharimhā, tesaṃ no ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṃ viharataṃ sati sammussati, satiyā sammosā evaṃ {sammosā eva (sī. pī.) sammosā te (syā. ka.)} mayaṃ tamhā kāyā cutā, aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṃ āgatāti. evaṃvihitakaṃ no tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti. ‘te evamāhaṃsu — evaṃ kho no, āvuso gotama, sutaṃ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti. “aggaññañcāhaṃ, bhaggava, pajānāmi ... pe ... yadabhijānaṃ tathāgato no anayaṃ āpajjati.

Vị ấy nói: "Những vị Thiên không bị nhiễm hoặc vì dục lạc, họ sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm.

Nhờ không thất niệm, nên Chư thiên ấy không thác sanh, không từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi.

Còn chúng ta đã bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì chúng ta sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc nên bị thất niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến chỗ này".

Này các Tôn giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc có phải không?"

Các vị ấy nói như sau:

"- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: "Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới,... mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi".

That, [32] Reverend Sirs, is how it comes about that you teach that the beginning of things was due to corruption by pleasure.”

And they said: “We have heard this, Reverend Gotama, as you have explained.”

♦ 43. “santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā manopadosikaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapenti. tyāhaṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi — ‘saccaṃ kira tumhe āyasmanto manopadosikaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti? te ca me evaṃ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti. tyāhaṃ evaṃ vadāmi — ‘kathaṃvihitakaṃ pana tumhe āyasmanto manopadosikaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti? te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti. tesāhaṃ puṭṭho byākaromi —

19. Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí. Ta đến những vị ấy và nói:

"- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?"

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:

- "Vâng".

Ta nói với quý vị ấy:

"- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?"

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:

2.19. ‘There are some ascetics and Brahmins who declare that the beginning of things was due to corruption of mind. I went to them and asked them if this was their view.

“Yes”, they replied.

I asked them how this came about, and when they could not explain, I said: 

♦ 44. ‘santāvuso, manopadosikā nāma devā. te ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyanti. te ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsenti. te aññamaññaṃ paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. te devā tamhā kāyā cavanti.

"- Chư Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Manopadosikà (nhiễm hoặc bởi tâm trí.) Họ sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ oán ghét lẫn nhau.

“There are, friends, certain devas called Corrupted in Mind. They spend an excessive amount of time regarding each other with envy... their minds become corrupted, and they fall away (Sutta 1, verses 2.10 — 13). [33]

♦ ‘ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati, yaṃ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṃ āgacchati. itthattaṃ āgato samāno agārasmā anagāriyaṃ pabbajati. agārasmā anagāriyaṃ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusati, yathāsamāhite citte taṃ pubbenivāsaṃ anussarati, tato paraṃ nānussarati.

Vì tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân họ mệt mỏi, tâm họ mệt mỏi.

Các hạng chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân này của họ. Các Hiền giả, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia, khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến cõi này. Khi sanh đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống ấy.

 

♦ ‘so evamāha — ye kho te bhonto devā na manopadosikā te nātivelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyanti. te nātivelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni nappadūsenti. te aññamaññaṃ appaduṭṭhacittā akilantakāyā akilantacittā. te devā tamhā {akilantacittā tamhā (ka.)} kāyā na cavanti, niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṃ tatheva ṭhassanti. ye pana mayaṃ ahumhā manopadosikā, te mayaṃ ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyimhā. te mayaṃ ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsimhā {padosiyimhā (syā.), padūsayimhā (?)}. te mayaṃ aññamaññaṃ paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. evaṃ mayaṃ {kilantacittāeva mayaṃ (sī. pī.), kilantacittā (ka.)} tamhā kāyā cutā, aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṃ āgatāti. evaṃvihitakaṃ no tumhe āyasmanto manopadosikaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti. ‘te evamāhaṃsu — evaṃ kho no, āvuso gotama, sutaṃ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti. “aggaññañcāhaṃ, bhaggava, pajānāmi ... pe ... yadabhijānaṃ tathāgato no anayaṃ āpajjati.

Vị ấy nói rằng: "Chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, họ sống lâu ngày không bị nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ không oán ghét nhau. Vì tâm trí họ không oán ghét nhau, nên thân họ không mệt mỏi, tâm họ không mệt mỏi.

Hạng chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi.

Còn chúng ta bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi.

Chúng thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này".

Như vậy, này các Hiền giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên của thế giới theo truyền thống là do bị nhiễm hoặc bởi tâm trí."

Họ trả lời như sau:

"- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: "Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên của thế giới... mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi."

That, Reverend Sirs, is how it comes about that you teach that the beginning of things was due to corruption of mind.”

And they said: “We have heard this, Reverend Gotama, as you have explained.”

♦ 45. “santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapenti. tyāhaṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi — ‘saccaṃ kira tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti? te ca me evaṃ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti. tyāhaṃ evaṃ vadāmi — ‘kathaṃvihitakaṃ pana tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti? te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti. tesāhaṃ puṭṭho byākaromi —

20. Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh. Ta đến những vị ấy và nói:

"- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh?"

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:

"- Vâng".

Ta nói với quý vị ấy:

"- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truền thống là do vô nhân sanh?"

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:

2.20. ‘There are, Bhaggava, some ascetics and Brahmins who declare that the beginning of things was due to chance. I went to them and asked them if this was their view.

“Yes”, they replied.

I asked them how this came about, and when they could not explain, I said:

♦ 46. ‘santāvuso, asaññasattā nāma devā. saññuppādā ca pana te devā tamhā kāyā cavanti.

"- Chư Hiền giả, có những chư Thiên gọi là Vô tưởng hữu tình. Khi một tưởng niệm khởi lên, thời chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên của mình.

“There are, friends, certain devas called Unconscious. As soon as a perception arises in them, those devas fall from that realm ...

♦ ‘ṭhānaṃ kho panetaṃ, āvuso, vijjati. yaṃ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṃ āgacchati. itthattaṃ āgato samāno agārasmā anagāriyaṃ pabbajati. agārasmā anagāriyaṃ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusati, yathāsamāhite citte taṃ {idaṃ padaṃ brahmajālasutte na dissati. evaṃ (pī. ka.)} saññuppādaṃ anussarati, tato paraṃ nānussarati.

Chư Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra. Một trong loài hữu tình ấy, khi thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên ấy của mình, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhiệt tâm... nên tâm nhập định. Vị ấy nhớ đến khi tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ xa hơn nữa.

remembering nothing (Sutta, 1, verse 2.31) they think: ‘Now from non-being I have been brought to being.’ [34]

♦ ‘so evamāha — adhiccasamuppanno attā ca loko ca. taṃ kissa hetu? ahañhi pubbe nāhosiṃ, somhi etarahi ahutvā santatāya {sattakāya (sī. pī.), sattāya (ka. sī.)} pariṇatoti. evaṃvihitakaṃ no tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṃ ācariyakaṃ aggaññaṃ paññapethā’ti? ‘te evamāhaṃsu — evaṃ kho no, āvuso gotama, sutaṃ yathevāyasmā gotamo āhā’ti. “aggaññañcāhaṃ, bhaggava, pajānāmi tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṃ pajānāmi, tañca pajānaṃ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā. yadabhijānaṃ tathāgato no anayaṃ āpajjati.

Vị ấy nói: "Bản ngã về thế giới do vô nhân sanh. Tại sao vậy? Vì rằng: Tôi trước kia không có, nay có. Từ nơi trạng thái không có, tôi trở thành loại hữu tình".

Như vậy, này các Tôn giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh có phải như vậy không?"

Họ trả lời:

"- Này Hiền giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: "Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa.

Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy. Chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi".

That, Reverend Sirs, is how it comes about that you teach that the beginning of things was due to chance.”

And they said: “We have heard this, Reverend Gotama, as you have explained.” But I know the first beginning of things, and I know not only that, but what surpasses it in value.

And I am not under the sway of what I know, and not being under its sway I have come to know for myself that quenching, by the realisation of which the Tathāgata cannot fall into perilous paths.

♦ 47. “evaṃvādiṃ kho maṃ, bhaggava, evamakkhāyiṃ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti — ‘viparīto samaṇo gotamo bhikkhavo ca. samaṇo gotamo evamāha — yasmiṃ samaye subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja viharati, sabbaṃ tasmiṃ samaye asubhantveva {asubhanteva (sī. syā. pī.)} pajānātī’ti {sañjānātīti (sī. pī.)}. na kho panāhaṃ, bhaggava, evaṃ vadāmi — ‘yasmiṃ samaye subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja viharati, sabbaṃ tasmiṃ samaye asubhantveva pajānātī’ti. evañca khvāhaṃ, bhaggava, vadāmi — ‘yasmiṃ samaye subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja viharati, subhantveva tasmiṃ samaye pajānātī’ti.

21. Này Bhaggava, Ta tuyên bố như vậy, Ta quan niệm như vậy. Nhưng một số Sa môn, Bà la môn lại bài xích Ta một cách không thật, trống không, hư ngụy, giả dối: "Sa môn Gotama và các vị Tỷ kheo là điên đảo.

Sa môn Gotama đã tuyên bố: "Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh".

Nhưng này Bhaggava, Ta không có nói như vậy: "Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh." Này Bhaggava, Ta nói như sau: "Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là thanh tịnh"

2.21. ‘And I, Bhaggava, who teach this and declare this am wrongly, vainly, lyingly and falsely accused by some ascetics and Brahmins who say: “The ascetic Gotama is on the wrong track, (756) and so are his monks.

He has declared that whoever has attained to the stage of deliverance called ‘the Beautiful’ (757) finds everything repulsive.”

But I do not say this. What I say is that whenever anyone has attained to the stage of deliverance called “the Beautiful”, he knows that it is beautiful.’

♦ “te ca, bhante, viparītā, ye bhagavantaṃ viparītato dahanti bhikkhavo ca. evaṃpasanno ahaṃ, bhante, bhagavati. pahoti me bhagavā tathā dhammaṃ desetuṃ, yathā ahaṃ subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja vihareyyan”ti.

- Bạch Thế Tôn, chính họ là điên đảo khi họ chỉ trích Thế Tôn và các Tỷ kheo là điên đảo.

Con tin tưởng hoan hỷ đối với Thế Tôn khiến con tin rằng Thế Tôn có thể dạy cho con đến thanh tịnh giải thoát.

‘Indeed, Lord, they are on the wrong track themselves who accuse the Lord and his monks of error.

I am so delighted with the Lord [35] that I think the Lord is able to teach me to attain and remain in the deliverance called “the Beautiful”.’ 

♦ 48. “dukkaraṃ kho etaṃ, bhaggava, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja viharituṃ. iṅgha tvaṃ, bhaggava, yo ca te ayaṃ mayi pasādo, tameva tvaṃ sādhukamanurakkhā”ti. “sace taṃ, bhante, mayā dukkaraṃ aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja viharituṃ. yo ca me ayaṃ, bhante, bhagavati pasādo, tamevāhaṃ sādhukamanurakkhissāmī”ti. idamavoca bhagavā. attamano bhaggavagotto paribbājako bhagavato bhāsitaṃ abhinandīti.

pāthikasuttaṃ {pāṭikasuttantaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)} niṭṭhitaṃ paṭhamaṃ.

- Này Bhaggava, thật khó cho Ngươi khi Ngươi theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác để có thể đạt được thanh tịnh, giải thoát.

Này Bhaggava, hãy đặt nặng lòng tin ở nơi Ta, hãy khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy.

- Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con, khi con theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác, để có thể đạt được thanh tịnh giải thoát,

thời Bạch Thế Tôn, ít nhất con cũng đặt nặng lòng tin vào Thế Tôn, và con sẽ khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy, du sĩ Bhaggava hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn.

‘It is hard for you, Bhaggava, holding different views, being of different inclinations and subject to different influences, following a different discipline and having had a different teacher, to attain and remain in the deliverance called “the Beautiful”.

You must strive hard, putting your trust in me, Bhaggava.’

‘Lord, even if it is hard for me to attain and remain in the deliverance called “the Beautiful”,

still I will place my trust in the Lord.’ (758)

Thus the Lord spoke, and Bhaggava the wanderer was delighted and rejoiced at the Lord’s words.

 

Notes: The numbers in square brackets [ ] in the actual text refer to the page number of the Dīgha Nikāya of the Pali Text Society's edition in Pali.

 

(732). With this Sutta, the third and final division of the Nikaya starts. It is curious that this division is named after one of the poorest texts in the whole Nikaya, but this probably has little significance other than mnemonic. But the Sutta itself is misnamed, since its ‘anti-hero’ (if that dubious distinction does not rather belong to the wretched Sunakkhatta!) is actually referred to as Patikaputta or ‘Patika’s son’, and his own name is unrecorded. Perhaps Pāṭikasutta stands, by a kind of haplology, for *Pāṭikaputtasutta.

(733). Ārāma: lit. ‘pleasure’, hence a pleasure-park. It came to be used for such parks as were presented to the Buddha, or to other ‘ascetics and Brahmins’. Hence its modern sense of ‘temple-complex, monastery-complex’.

(734). First mentioned at DN 6.5. His name, most inappropriately, means ‘born under a lucky star’.

(735). His personal name was Channa, but the Buddha addresses him by his ‘surname’ (cf. n.179). His clan seem to have been potters.

(736). Cf. DN 11.5, where the performance of ‘miracles’ is condemned by the Buddha (as it is here too, though he text goes on to contradict the Master’s words). On the significance of this for dating the Sutta, RD’s wise words should be noted (p. 3): ‘We are not entitled on these facts to suppose that the Patika Suttanta was either later or earlier than the Kevaddha ... The editors may have been tolerant of whichever of the opposing views they did not share.’ Those who seek to establish chronological criteria should bear such considerations in mind.

(737). Takkara: ‘the so-doer’.

(738). Hīnāy’ āvatto.

(739). The name is doubtful. RD has ‘Bumus’. I follow DA.

(740). A dog-ascetic like Seniya in MN 57, who was told by the Buddha that if he persisted in this practice he would be reborn either in hell or ‘in the company of dogs’.

(741). Alasakena. RD has ‘of epilepsy’, for which there seems to be no evidence. The sub-commentary and Buddhadatta’s dictionary suggest ‘indigestion’, which seems not unreasonable.

(742). See n.512. The Kalakañjas, described as ‘terrible to see’, are mentioned in DN 20.12.

(743). The form of this name is doubtful. RD has Kandaramasuka. Again, I follow DA.

(744). For these, see DN 16.3.2 and notes there.

(745). See DN 3.1.20 and n.150 there.

(746). A home for wanderers which had been charitably donated near some Tinduka trees.

(747). Cf. DN 6.15 and DN 7, which is named after him.

(748). DA seems to imply that he brought them all to Arahantship: more modestly, one might settle for the ‘opening of the Dhamma-eye’ (see n.140).

(749). Tejo-dhātuṁ samāpajjitvā: RD translates ‘entered on jhāna by the method of flame’ with no comment, and DA, more remarkably, is silent. Could this peculiarly unnecessary miracle have been inserted later?

(750). All this despite the Buddha’s expressed dislike of miracles. But see n.736.

(751). Aggañña. See DN 27 for a full development of the theme of ‘beginnings’ — not, of course, in the sense of an absolute first cause, for which Buddhism has no use.

(752). Or ‘goes beyond it’ — even to omniscience, says DA, not quite correctly.

(753). Nibbuti: a term associated with Nibbāna, though actually from a different root.

(754). Anaya: ‘wrong leading’, i.e. into suffering or trouble.

(755). Issara (Skt. Īśvara): ‘God as creator and ruler’, now often the Christian God.

(756). Viparīto: ‘reversed, changed’.

(757). Cf. DN 15.35.

(758). RD says: ‘Buddhaghosa judges that this was merely affected appreciation. But we are not told anything of the later history of this man.’ DA does, however, add that the Buddha’s words ‘made an impression on him in the future’. Could it be that Bhaggava’s allegedly dubious reaction is DA’s coded way of expressing doubts about this Sutta? Not only is the main part inferior and contradictory, if humorous, but it concludes, first with an appendix (2.14ff.) on the beginning of things which is clumsily tacked on, doubtless in response to Sunakkhatta’s remarks at 1.5 (which were adequately answered there), and then (2.21) with an even more irrelevant appendix to that appendix. Another curious feature is that it is probably the only Sutta in the Canon which consists almost entirely of a narrative (as opposed to a discourse) related by the Buddha to a third party (and, at that, an obscure character not owing him any allegiance).

 

---oOo---

 

Nguồn (Source):
Vietnamese:
khemarama.net
Pāḷi - English:
 digitalpalireader.online

Những tập kinh khác:

DN 1: Brahmajāla – Kinh Phạm Võng – The All-embracing Net of Views

DN 2: Sāmannaphala sutta – Kinh Sa Môn Quả – The Fruits of the Contemplative Life

DN 3: Ambaṭṭhasuttaṃ – Kinh Ambaṭṭha (A-Ma-Trú) – A Young Brahman’s Rudeness And An Old One’s Faith

DN 4: Soṇadaṇḍasuttaṃ – Kinh Chủng Đức – The Qualities Of The True Brahman

DN 5: Kūṭadantasuttaṃ – Kinh Cứu La Đàn Đầu – About Kūṭadanta – A Bloodless Sacrifice

DN 6: Mahālisuttaṃ – Kinh Mahāli – About Mahāli

DN 7: Jāliyasuttaṃ – Kinh Jāliya – About Jāliya

DN 8: Mahāsīhanādasuttaṃ – Kinh Ca-diếp Sư tử hống – The Great Lion’s Roar (The Lion’s Roar to Kassapa)

DN 9: Poṭṭhapādasuttaṃ – Kinh Bố-Sá-Bà-Lâu – About Poṭṭhapāda (States of Consciousness)

DN 10: Subhasuttaṃ – Kinh Tu Ba – About Subha (Morality, Concentration, Wisdom)

DN 11: Kevaṭṭasuttaṃ – Kinh Kiên Cố – About Kevaddha (What Brahma Didn’t Know)

DN 12: Lohiccasuttaṃ – Kinh Lô Hi Gia – About Lohicca (Good and Bad Teachers)

DN 13: Tevijjasuttaṃ – Kinh Tam Minh – The Threefold Knowledge (The Way to Brahmā)

DN 14: Mahāpadānasuttaṃ – Kinh Đại Bổn – The Great Discourse on the Lineage

DN 15: Mahānidānasuttaṃ – Kinh Đại Duyên – The Great Discourse on Origination

DN 16: Mahāparinibbānasuttaṃ – Kinh Đại Bát-Niết-Bàn – The Great Passing (The Buddha’s Last Days)

DN 17: Mahāsudassanasuttaṃ – Kinh Ðại Thiện Kiến Vương – The Great Splendour (A King’s Renunciation)

DN 18: Janavasabhasuttaṃ – Kinh Xà-ni-sa – About Janavasabha (Brahmā Addresses the Gods)

DN 19: Mahāgovindasuttaṃ – Kinh Ðại Ðiển Tôn – The Great Steward (A Past Life of Gotama)

DN 20: Mahāsamayasuttaṃ – Kinh Đại Hội – The Mighty Gathering (Devas Come to See the Buddha)

DN 21: Sakkapañhasuttaṃ – Kinh Đế-Thích Sở Vấn – Sakka’s Questions (A God Consults the Buddha)

DN 22: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ – Kinh Đại Niệm Xứ – The Greater Discourse on the Foundations of Mindfulness

DN 23: Pāyāsisuttaṃ – Kinh Kệ-Túc – About Pāyāsi (Debate with a Sceptic)

DN 24: Pāthikasuttaṃ – Kinh Ba-lê – About Pāṭikaputta (The Charlatan)

DN 25: Udumbarikasuttaṃ – Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử Hống – The Great Lion’s Roar to the Udumbarikans

DN 26: Cakkavattisuttaṃ – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư tử Hống – The Lion’s Roar on the Turning of the Wheel

DN 27: Aggaññasuttaṃ – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn – On Knowledge of Beginnings

DN 28: Sampasādanīyasuttaṃ – Kinh Tự Hoan Hỷ – Serene Faith

DN 29: Pāsādikasuttaṃ – Kinh Thanh Tịnh – The Delightful Discourse

DN 30: Lakkhaṇasuttaṃ – Kinh Tướng – The Marks of a Great Man

DN 31: Siṅgālasuttaṃ – Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt – To Sigālaka (Advice to Lay People)

DN 32: Āṭānāṭiyasuttaṃ – Kinh A-sá-nang-chi – The Āṭānātā Protective Verses

DN 33: Saṅgītisuttaṃ – Kinh Phúng Tụng – The Chanting Together

DN 34: Dasuttarasuttaṃ – Kinh Thập Thượng – Expanding Decades

Những bộ Kinh khác :