DN 22: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ – Kinh Đại Niệm Xứ – The Greater Discourse on the Foundations of Mindfulness

Sunday January 14, 2024

 

 

MAHĀSATIPAṬṬHĀNASUTTAṂ

KINH ĐẠI NIỆM XỨ

(Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu)

THE GREATER DISCOURSE ON THE FOUNDATIONS OF MINDFULNESS

(English Translation from Pāli: Maurice Walshe)

uddeso (DN 22)    
♦ 372. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṃ nāma kurūnaṃ nigamo. tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi — “bhikkhavo”ti. “bhaddante”ti {bhadanteti (sī. syā. pī.)} te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. bhagavā etadavoca —

Tôi nghe như vậy.

1. Một thời, Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu lâu), tại Kammàssadhamma (Kiềm ma sắt đàm) - đô thị của xứ Kuru.

Rồi Thế Tôn gọi các vị Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo." Các Tỷ kheo trả lời Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn." Thế Tôn nói như sau:

[290] 1. THUS HAVE I HEARD. (624) Once the Lord was staying among the Kurus. There is a market-town of theirs called Kammāsadhamma. (625)

And there the Lord addressed the monks: ‘Monks!’ ‘Lord’, they replied, and the Lord said: 

♦ 373. “ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā, sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā.

- Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ.

‘There is, monks, this one way (626) to the purification of beings, for the overcoming of sorrow and distress, for the disappearance of pain and sadness, (627) for the gaining of the right path, (628) for the realisation of Nibbāna: - that is to say the four foundations of mindfulness. (629)

♦ “katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

uddeso niṭṭhito.

Thế nào là bốn? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo

sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;

sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;

sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;

sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.

‘What are the four? Here, monks, a monk (630) abides

contemplating body as body, (631) ardent, clearly aware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world; (632)

he abides contemplating feelings as feelings (633) ... ;

he abides contemplating mind as mind (634)... ;

he abides contemplating mind-objects as mind-objects, (635) ardent, clearly aware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world.’ [291]

kāyānupassanā ānāpānapabbaṃ (DN 22) (Quán thân) (CONTEMPLATION OF THE BODY)
(1. Mindfulness of Breathing)

♦ 374. “kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati? idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. so satova assasati, satova passasati. dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti. rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti. ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati. ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati.

2. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán thân trên thân?

Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt.

Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài";

hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn";

hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn";

"Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập;

"Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập;

"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập;

"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

2. ‘And how, monks, does a monk abide contemplating the body as body?

Here a monk, having gone into the forest, or to the root of a tree, or to an empty place, (636) sits down cross-legged, holding his body erect, having established mindfulness before him. (637)

Mindfully he breathes in, mindfully he breathes out. (638) Breathing in a long breath, he knows that he breathes in a long breath, (639) and breathing out a long breath, he knows that he breathes out a long breath.

Breathing in a short breath, he knows that he breathes in a short breath,

and breathing out a short breath, he knows that he breathes out a short breath.

He trains himself, thinking: “I will breathe in, conscious of the whole body.” (640)

He trains himself, thinking: “I will breathe out, conscious of the whole body.”

He trains himself, thinking: “I will breathe in, calming the whole bodily process.” (641)

He trains himself, thinking: “I will breathe out, calming the whole bodily process.”

♦ “seyyathāpi, bhikkhave, dakkho bhamakāro vā bhamakārantevāsī vā dīghaṃ vā añchanto ‘dīghaṃ añchāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā añchanto ‘rassaṃ añchāmī’ti pajānāti evameva kho, bhikkhave, bhikkhu dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti. ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati. iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. evampi kho {evampi (sī. syā. pī.)}, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

ānāpānapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

Này các tỷ kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay tuệ tri thiện xảo, khi quay dài, tuệ tri rằng: "Tôi quay dài"; hay khi quay ngắn, tuệ tri rằng: "Tôi quay ngắn."

Cũng vậy, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo thở vô dài, tuệ tri: "Tôi thở vô dài";

hay thở ra dài tuệ tri: "Tôi thở ra dài";

hay thở vô ngắn, tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn";

hay thở ra ngắn, tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn";

"Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập;

"Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập;

"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập;

"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

Như vậy, vị ấy sống, quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân;

hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân.

"Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước vật gì ở trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

Just as a skilled turner, or his assistant, in making a long turn, knows that he is making a long turn, or in making a short turn, knows that he is making a short turn,

so too a monk, in breathing in a long breath, knows that he breathes in a long breath...

and so trains himself, thinking: “I will breathe out, calming the whole bodily process.”’[292]

(INSIGHT)

‘So he abides contemplating body as body internally, (642) contemplating body as body externally, contemplating body as body both internally and externally.

He abides contemplating arising phenomena (643) in the body, he abides contemplating vanishing phenomena (644) in the body, he abides contemplating both arising and vanishing phenomena in the body.

Or else, mindfulness that “there is body” is present to him just to the extent necessary for knowledge and awareness. (645)

And he abides independent, not clinging to anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating body as body.’

kāyānupassanā iriyāpathapabbaṃ (DN 22)   (2. The Four Postures)

♦ 375. “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu gacchanto vā ‘gacchāmī’ti pajānāti, ṭhito vā ‘ṭhitomhī’ti pajānāti, nisinno vā ‘nisinnomhī’ti pajānāti, sayāno vā ‘sayānomhī’ti pajānāti, yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti, tathā tathā naṃ pajānāti. iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

iriyāpathapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

3. Lại nữa, này các Tỷ keo,

Tỷ kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi";

hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng";

hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi";

hay nằm , tuệ tri: "Tôi nằm".

Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân như thế ấy.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.

Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

3. ‘Again, a monk,

when walking, knows that he is walking,

when standing, knows that he is standing,

when sitting, knows that he is sitting,

when lying down, knows that he is lying down.

In whatever way his body is disposed, he knows that that is how it is.

‘So he abides contemplating body as body internally, externally, and both internally and externally...

And he abides independent, not clinging to anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating body as body.’

kāyānupassanā sampajānapabbaṃ (DN 22)   (3. Clear Awareness)

♦ 376. “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.

4. Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo,

khi bước tới, bước lui, biết rõ việc mình đang làm.

Khi ngó tới, ngó lui, biết rõ việc mình đang làm.

Khi co tay khi duỗi tay biết rõ việc mình đang làm.

Khi mang áo Sanghàti (Tăng-già-lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm.

Khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm.

Khi đi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm.

Khi đi, đứng, ngồi, nằm, biết rõ việc mình đang làm.

4. ‘Again, a monk,

when going forward or back, is clearly aware of what he is doing, (646)

in looking forward or back he is clearly aware of what he is doing,

in bending and stretching he is clearly aware of what he is doing,

in carrying his inner and outer robe and his bowl he is clearly aware of what he is doing,

in eating, drinking, chewing and savouring he is clearly aware of what he is doing,

in passing excrement or urine he is clearly aware of what he is doing,

in walking, standing, sitting, falling asleep and waking up,

in speaking or in staying silent, he isclearly aware of what he is doing. [293]

iti ajjhattaṃ vā ... pe ... evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

sampajānapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.

Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

‘So he abides contemplating body as body internally, externally, and both internally and externally...

And he abides independent, not clinging to anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating body as body.’

kāyānupassanā paṭikūlamanasikārapabbaṃ (DN 22)   (4. Reflection on the Repulsive: Parts of the Body)

♦ 377. “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ uddhaṃ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṃ pūraṃ nānappakārassa asucino paccavekkhati — ‘atthi imasmiṃ kāye kesā lomā nakhā dantā taco, maṃsaṃ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ vakkaṃ, hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphāsaṃ, antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ {karīsaṃ matthaluṅgaṃ (ka.)}, pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo, assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttan’ti.

5. Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt:

"Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da,

thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng,

phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu."

5. ‘Again, a monk reviews (647) this very body from the soles of the feet upwards and from the scalp downwards, enclosed by the skin and full of manifold impurities:

“In this body there are head-hairs, body hairs, nails, teeth, skin, (648)

flesh, sinews, bones, bone-marrow, kidneys, heart, liver, pleura, spleen, lungs, mesentery, bowels, stomach,

excrement, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, tallow, saliva, snot, synovic fluid, urine.′′ (649)

♦ “seyyathāpi, bhikkhave, ubhatomukhā putoḷi {mūtoḷī (syā.), mutoli (pī.)} pūrā nānāvihitassa dhaññassa, seyyathidaṃ sālīnaṃ vīhīnaṃ muggānaṃ māsānaṃ tilānaṃ taṇḍulānaṃ. tamenaṃ cakkhumā puriso muñcitvā paccavekkheyya — ‘ime sālī, ime vīhī ime muggā ime māsā ime tilā ime taṇḍulā’ti. evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ uddhaṃ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṃ pūraṃ nānappakārassa asucino paccavekkhati — ‘atthi imasmiṃ kāye kesā lomā ... pe ... muttan’ti.

Này các Tỷ kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi.

Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quan sát: "Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu đỏ, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi."

Cũng vậy, này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt:

"Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu."

Just as if there were a bag, open at both ends, full of various kinds of grain such as hill-rice, paddy, green gram, (650) kidney-beans, sesame, husked rice,

and a man with good eyesight were to open the bag and examine them, saying: “This is hill-rice, this is paddy, this is green gram, these are kidney-beans, thisis sesame, this is husked rice”,

so too a monk reviews this very body: “In this body there are head-hairs,...[294] urine.”

♦ iti ajjhattaṃ vā ... pe ... evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

paṭikūlamanasikārapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.

Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

‘So he abides contemplating body as body internally, externally, and both internally and externally...

And he abides independent, not clinging to anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating body as body.’

kāyānupassanā dhātumanasikārapabbaṃ (DN 22)   (5. The Four Elements)

♦ 378. “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ yathāṭhitaṃ yathāpaṇihitaṃ dhātuso paccavekkhati — ‘atthi imasmiṃ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.

6. Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo quán sát thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại."

6. ‘Again, a monk reviews this body, however it may be placed or disposed, in terms of the elements: “There are in this body the earth-element, the water- element, the fire-element, the air- element.′′ (651)

♦ “seyyathāpi, bhikkhave, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṃ vadhitvā catumahāpathe bilaso vibhajitvā nisinno assa, evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ yathāṭhitaṃ yathāpaṇihitaṃ dhātuso paccavekkhati — ‘atthi imasmiṃ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.

Này các Tỷ kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường.

Cũng vậy này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo quán sát thân nay về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại."

Just as if a skilled butcher or his assistant, having slaughtered a cow, (652) were to sit at a crossroads with the carcass divided into portions,

so a monk reviews this very body... in terms of the elements: “There are in this body the earth-element, the water-element, the fire-element, the air-element.”

♦ “iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati ... pe ... evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

dhātumanasikārapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.

Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm,

và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ keo sống quán thân trên thân.

‘So he abides contemplating body as body internally... [295]

And he abides independent, not clinging to anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating body as body.’

kāyānupassanā navasivathikapabbaṃ (DN 22)   (6. The Nine Charnel-Ground Contemplations)

♦ 379. “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ ekāhamataṃ vā dvīhamataṃ vā tīhamataṃ vā uddhumātakaṃ vinīlakaṃ vipubbakajātaṃ. so imameva kāyaṃ upasaṃharati — ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti.

7. Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo, như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra.

Tỷ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy."

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.

Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

7. ‘Again, a monk, as if he were to see a corpse thrown aside in a charnel-ground, (653) one, two or three days dead, bloated, discoloured, festering,

compares this body with that, thinking: “This body is of the same nature, it will become like that, it is not exempt from that fate.”

‘So he abides contemplating body as body internally, externally, and both internally and externally.

And he abides independent, not clinging to anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating body as body.

♦ “iti ajjhattaṃ vā ... pe ... evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

 

 

♦ “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ kākehi vā khajjamānaṃ kulalehi vā khajjamānaṃ gijjhehi vā khajjamānaṃ kaṅkehi vā khajjamānaṃ sunakhehi vā khajjamānaṃ byagghehi vā khajjamānaṃ dīpīhi vā khajjamānaṃ siṅgālehi vā {gijjhehi vā khajjamānaṃ, suvānehi vā khajjamānaṃ, sigālehi vā khajjamānaṃ, (syā. pī.)} khajjamānaṃ vividhehi vā pāṇakajātehi khajjamānaṃ. so imameva kāyaṃ upasaṃharati — ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti.

8. Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó ăn; hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn.

Tỷ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy."

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thên trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.

Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm

và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

8. ‘Again, a monk, as if he were to see a corpse in a charnel-ground, thrown aside, eaten by crows, hawks or vultures, by dogs or jackals, or various other creatures,

compares this body with that, thinking: “This body is of the same nature, it will become like that, it is not exempt from that fate.” [296]

♦ “iti ajjhattaṃ vā ... pe ... evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

 

 

♦ “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ aṭṭhikasaṅkhalikaṃ samaṃsalohitaṃ nhārusambandhaṃ ... pe ... aṭṭhikasaṅkhalikaṃ nimaṃsalohitamakkhitaṃ nhārusambandhaṃ ... pe ... aṭṭhikasaṅkhalikaṃ apagatamaṃsalohitaṃ nhārusambandhaṃ ... pe ... aṭṭhikāni apagatasambandhāni {apagatanhārusambandhāni (syā.)} disā vidisā vikkhittāni, aññena hatthaṭṭhikaṃ aññena pādaṭṭhikaṃ aññena gopphakaṭṭhikaṃ {“aññena gopphakaṭṭhikan””ti idaṃ sī. syā. pī. potthakesu natthi} aññena jaṅghaṭṭhikaṃ aññena ūruṭṭhikaṃ aññena kaṭiṭṭhikaṃ {aññena kaṭaṭṭhikaṃ aññena piṭṭhaṭṭhikaṃ aññena kaṇḍakaṭṭhikaṃ aññena phāsukaṭṭhikaṃ aññena uraṭṭhikaṃ aññena aṃsaṭṭhikaṃ aññena bāhuṭṭhikaṃ (syā.)} aññena phāsukaṭṭhikaṃ aññena piṭṭhiṭṭhikaṃ aññena khandhaṭṭhikaṃ {aññena kaṭaṭṭhikaṃ aññena piṭṭhaṭṭhikaṃ aññena kaṇḍakaṭṭhikaṃ aññena phāsukaṭṭhikaṃ aññena uraṭṭhikaṃ aññena aṃsaṭṭhikaṃ aññena bāhuṭṭhikaṃ (syā.)} aññena gīvaṭṭhikaṃ aññena hanukaṭṭhikaṃ aññena dantaṭṭhikaṃ aññena sīsakaṭāhaṃ. so imameva kāyaṃ upasaṃharati — ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti.

9. Này các Tỷ kheo, lại nữa Tỷ kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa;

với các xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cốt lại;

với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại,

với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại;

chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu,...

Tỷ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.

Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

9. ‘Again, a monk, as if he were to see a corpse in a charnel-ground,

thrown aside, a skeleton with flesh and blood, connected by sinews,...

a fleshless skeleton smeared with blood, connected by sinews,...

a skeleton detached from the flesh and blood, connected by sinews,...

randomly connected bones, scattered in all directions, a hand-bone here, a foot bone there, a shin-bone here, a thigh bone there, a hip-bone here, [297] a spine here, a skull there, compares this body with that...

♦ “iti ajjhattaṃ vā ... pe ... viharati.

 

 

♦ “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ aṭṭhikāni setāni saṅkhavaṇṇapaṭibhāgāni ... pe ... aṭṭhikāni puñjakitāni terovassikāni ... pe ... aṭṭhikāni pūtīni cuṇṇakajātāni. so imameva kāyaṃ upasaṃharati — ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti. iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

navasivathikapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

cuddasa kāyānupassanā niṭṭhitā.

10. Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa,

chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm... chỉ còn là xương thối trở thành bột.

Tỷ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy."

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.

Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

10. ‘Again, a monk, as if he were to see a corpse in a charnel-ground,

thrown aside, the bones whitened, looking like shells ..., the bones piled up, a year old..., the bones rotted away to a powder, compares this body with that, thinking:

“This body is of the same nature, will become like that, is not exempt from that fate.′′′

(INSIGHT)

‘So he abides contemplating body as body internally, contemplating body as body externally, abides contemplating body [298] as body both internally and externally.

He abides contemplating arising phenomena in the body, contemplating vanishing phenomena in the body, he abides contemplating both arising and vanishing phenomena in the body. Or else, mindfulness that “there is body” is present to him just to the extent necessary for knowledge and awareness.

And he abides independent, not clinging to anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating body as body.’

vedanānupassanā (DN 22) (Quán thọ) (CONTEMPLATION OF FEELINGS)

♦ 380. “kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu vedanāsu vedanānupassī viharati? idha, bhikkhave, bhikkhu sukhaṃ vā vedanaṃ vedayamāno ‘sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti . dukkhaṃ vā vedanaṃ vedayamāno ‘dukkhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. adukkhamasukhaṃ vā vedanaṃ vedayamāno ‘adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. sāmisaṃ vā sukhaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘sāmisaṃ sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti, nirāmisaṃ vā sukhaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘nirāmisaṃ sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. sāmisaṃ vā dukkhaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘sāmisaṃ dukkhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti, nirāmisaṃ vā dukkhaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘nirāmisaṃ dukkhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. sāmisaṃ vā adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘sāmisaṃ adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti, nirāmisaṃ vā adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘nirāmisaṃ adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. iti ajjhattaṃ vā vedanāsu vedanānupassī viharati, bahiddhā vā vedanāsu vedanānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā vedanāsu vedanānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā vedanāsu viharati, vayadhammānupassī vā vedanāsu viharati, samudayavayadhammānupassī vā vedanāsu viharati. ‘atthi vedanā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. evampi kho, bhikkhave, bhikkhu vedanāsu vedanānupassī viharati.

vedanānupassanā niṭṭhitā.

11. Này các Tỷ kheo, như thế nào Tỷ kheo sống quán thọ trên các thọ?

Này các Tỷ kheo, ở nơi đây Tỷ kheo

khi cảm giác lạc thọ, biết rằng: "Tôi cảm giác lạc thọ";

khi cảm giác khổ thọ, biết rằng: "Tôi cảm giác khổ thọ";

khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, biết rằng: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ".

Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất biết rằng: "Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất".

Hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: "Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất".

Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, biết rằng: "Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất".

Hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, biết rằng: "Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất".

Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, biết rằng: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất".

Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất".

Như vậy vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên cả các nội thọ, ngoại thọ.

Hay sống quán tánh sanh khởi trên các thọ; hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. "Có thọ đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thọ trên các thọ.

11. ‘And how, monks, does a monk abide contemplating feelings as feelings? (654)

Here, a monk

feeling a pleasant feeling knows that he feels a pleasant feeling; (655)

feeling a painful feeling he knows that he feels a painful feeling; (656)

feeling a feeling that is neither-painful-nor-pleasant he knows that he feels a feeling that is neither-painful norpleasant; (657)

feeling a pleasant sensual feeling he knows that he feels a pleasant sensual feeling; (658)

feeling a pleasant non-sensual feeling he knows that he feels a pleasant non sensual feeling; (659)

feeling a painful sensual feeling...;

feeling a painful non-sensual feeling ... ;

feeling a sensual feeling that is neither-painful-norpleasant... ;

feeling a non-sensual feeling that is neither-painful-nor-pleasant, he knows that he feels a non-sensual feeling that is neither painful-nor-pleasant.’

(INSIGHT)

‘So he abides contemplating feelings as feelings internally. He abides contemplating feelings as feelings externally (660) ...

He abides contemplating arising phenomena in the feelings, vanishing phenomena and both arising and vanishing phenomena in the feelings [299] Or else, mindfulness that “there is feeling” is present to him just to the extent necessary for knowledge and awareness.

And he abides independent, not clinging to anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating feelings as feelings.’

cittānupassanā (DN 22) (Quán tâm) (CONTEMPLATION OF MIND)

♦ 381. “kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu citte cittānupassī viharati? idha, bhikkhave, bhikkhu sarāgaṃ vā cittaṃ ‘sarāgaṃ cittan’ti pajānāti, vītarāgaṃ vā cittaṃ ‘vītarāgaṃ cittan’ti pajānāti. sadosaṃ vā cittaṃ ‘sadosaṃ cittan’ti pajānāti, vītadosaṃ vā cittaṃ ‘vītadosaṃ cittan’ti pajānāti. samohaṃ vā cittaṃ ‘samohaṃ cittan’ti pajānāti, vītamohaṃ vā cittaṃ ‘vītamohaṃ cittan’ti pajānāti. saṅkhittaṃ vā cittaṃ ‘saṅkhittaṃ cittan’ti pajānāti, vikkhittaṃ vā cittaṃ ‘vikkhittaṃ cittan’ti pajānāti. mahaggataṃ vā cittaṃ ‘mahaggataṃ cittan’ti pajānāti, amahaggataṃ vā cittaṃ ‘amahaggataṃ cittan’ti pajānāti. sauttaraṃ vā cittaṃ ‘sauttaraṃ cittan’ti pajānāti, anuttaraṃ vā cittaṃ ‘anuttaraṃ cittan’ti pajānāti. samāhitaṃ vā cittaṃ ‘samāhitaṃ cittan’ti pajānāti, asamāhitaṃ vā cittaṃ ‘asamāhitaṃ cittan’ti pajānāti. vimuttaṃ vā cittaṃ ‘vimuttaṃ cittan’ti pajānāti. avimuttaṃ vā cittaṃ ‘avimuttaṃ cittan’ti pajānāti. iti ajjhattaṃ vā citte cittānupassī viharati, bahiddhā vā citte cittānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā citte cittānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā cittasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā cittasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā cittasmiṃ viharati, ‘atthi cittan’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati . evampi kho, bhikkhave, bhikkhu citte cittānupassī viharati.

cittānupassanā niṭṭhitā.

12. Này các Tỷ kheo, như thế nào Tỷ kheo sống quán tâm trên tâm?

Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo:

"Với tâm có tham, biết rằng tâm có tham";

hay "Với tâm không tham, biết rằng tâm không tham";

hay "Với tâm có sân, biết rằng tâm có sân";

hay "Với tâm không sân, biết rằng tâm không sân";

hay "Với tâm có si, biết rằng tâm có si";

hay "Với tâm không si, biết rằng tâm không si";

hay "Với tâm thâu nhiếp, biết rằng tâm được thâu nhiếp";

hay "Với tâm tán loạn, biết rằng tâm bị tán loạn";

hay "Với tâm quảng đại, biết rằng tâm được quảng đại";

hay "Với tâm không quảng đại, biết rằng tâm không được quảng đại";

hay "Với tâm hữu hạn, biết rằng tâm hữu hạn";

hay "Với tâm vô thượng, biết rằng tâm vô thượng";

hay "Với tâm có định, biết rằng tâm có định";

hay "Với tâm không định, biết rằng tâm không định";

hay "Với tâm giải thoát, biết rằng tâm có giải thoát";

hay "Với tâm không giải thoát, biết rằng tâm không giải thoát".

Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm.

Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo sống quán tâm trên tâm.

12. ‘And how, monks, does a monk abide contemplating mind as mind? (661)

Here, a monk knows

a lustful mind as lustful, a mind free from lust as free from lust;

a hating mind as hating, a mind free from hate as free from hate;

a deluded mind as deluded, an undeluded mind as undeluded;

a contracted mind as contracted, (662) a distracted mind as distracted; (663)

a developed mind as developed, (664) an undeveloped mind as undeveloped; (665)

a surpassed mind as surpassed, (666) an unsurpassed mind as unsurpassed; (667)

a concentrated mind as concentrated, (668) an unconcentrated mind as unconcentrated; (669)

a liberated mind as liberated, (670) an unliberated mind as unliberated.’

(INSIGHT)

‘So he abides contemplating mind as mind internally. He abides contemplating mind as mind externally (671) ...

He abides contemplating arising phenomena in the mind... Or else, mindfulness that “there is mind” is present [300] just to the extent necessary for knowledge and awareness.

And he abides detached, not grasping at anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating mind as mind.’

dhammānupassanā nīvaraṇapabbaṃ (DN 22) (Quán pháp) (CONTEMPLATION OF MIND-OBJECTS)

♦ 382. “kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati? idha, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu nīvaraṇesu. kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu nīvaraṇesu?

13. Này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp?

Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái?

13. ‘And how, monks, does a monk abide contemplating mind-objects as mind-objects?′ (672)

♦ “idha, bhikkhave, bhikkhu santaṃ vā ajjhattaṃ kāmacchandaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ kāmacchando’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ kāmacchandaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ kāmacchando’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa kāmacchandassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa kāmacchandassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa kāmacchandassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo,

nội tâm có tham dục, tuệ tri: "Nội tâm tôi có tham dục"; hay nội tâm không có tham dục, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi không có tham dục".

Và với tham dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy.

Và với tham dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy.

Và với tham dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

(1. The Five Hindrances)

‘Here, a monk abides contemplating mind-objects as mind-objects in respect of the five hindrances. How does he do so?

Here, monks, if sensual desire (673) is present in himself, a monk knows that it is present. If sensual desire is absent in himself, a monk knows that it is absent.

And he knows how unarisen sensual desire comes to arise,

and he knows how the abandonment of arisen sensual desire comes about,

and he knows how the non-arising of the abandoned sensual desire in the future will come about. (674)

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ byāpādaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ byāpādo’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ byāpādaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ byāpādo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa byāpādassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa byāpādassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa byāpādassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi có sân hận"; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi không có sân hận."

Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy.

Và với sân hận đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy.

Và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

 ‘If ill-will (675) is present in himself, a monk knows that it is present...And he knows how the non-arising of the abandoned ill-will in the future will come about.

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ thinamiddhaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ thinamiddhan’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ thinamiddhaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ thinamiddhan’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa thinamiddhassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa thinamiddhassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa thinamiddhassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên"; hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên".

Và với hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy.

Và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy.

Và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

‘If sloth-and-torpor (676) is present in himself, a monk knows that it is present...

And he knows how the non-arising of the abandoned sloth-and-torpor in the future will come about.

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ uddhaccakukkuccaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ uddhaccakukkuccan’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ uddhaccakukkuccaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ uddhaccakukkuccan’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa uddhaccakukkuccassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa uddhaccakukkuccassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa uddhaccakukkuccassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có trạo hối, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi có trạo hối"; hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi không có trạo hối".

Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy.

Và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

‘If worry-and-flurry (677) is present in himself, a [301] monk knows that it is present...

And he knows how the non-arising of the abandoned worry-and-flurry in the future will come about.

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ vicikicchaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ vicikicchā’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ vicikicchaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ vicikicchā’ti pajānāti, yathā ca anuppannāya vicikicchāya uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannāya vicikicchāya pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnāya vicikicchāya āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có nghi, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi có nghi"; hay nội tâm không có nghi, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi không có nghi."

Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy.

Và với nghi đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy,

và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

‘If doubt (678) is present in himself, a monk knows that it is present. If doubt is absent in himself, he knows that it is absent.

And he knows how unarisen doubt comes to arise,

and he knows how the abandonment of arisen doubt comes about,

and he knows how the non-arising of the abandoned doubt in the future will come about.’

♦ “iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati ‘atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu nīvaraṇesu.

nīvaraṇapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên cả các nội pháp, ngoại pháp.

Hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp, đối với năm triền cái.

(INSIGHT)

‘So he abides contemplating mind objects as mind-objects internally...

He abides contemplating arising phenomena in mindobjects (679) ... Or else, mindfulness that “there are mindobjects” is present just to the extent necessary for knowledge and awareness.

And he abides detached, not grasping at anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating mind-objects as mind objects in respect of the five hindrances.’ 

dhammānupassanā khandhapabbaṃ (DN 22)   (2. The Five Aggregates)

♦ 383. “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu upādānakkhandhesu. kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu upādānakkhandhesu? idha, bhikkhave, bhikkhu — ‘iti rūpaṃ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā, iti vedanāya samudayo, iti vedanāya atthaṅgamo; iti saññā, iti saññāya samudayo, iti saññāya atthaṅgamo; iti saṅkhārā, iti saṅkhārānaṃ samudayo, iti saṅkhārānaṃ atthaṅgamo, iti viññāṇaṃ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti, iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati. ‘atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya, anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati . evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu upādānakkhandhesu.

khandhapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

14. Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Năm Thủ uẩn. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Năm Thủ uẩn?

Này các Tỷ kheo, Tỷ kheo suy tư:

"Ðây là sắc, đây là sắc sanh, đây là sắc diệt.

Ðây là thọ, đây là thọ sanh, đây là thọ diệt.

Ðây là tưởng, đây là tưởng sanh, đây là tưởng diệt.

Ðây là hành, đây là hành sanh, đây là hành diệt.

Ðây là thức, đây là thức sanh, đây là thức diệt".

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp;

hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp; hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Năm Thủ uẩn.

14. ‘Again, monks, a monk abides contemplating mindobjects as mind objects in respect of the five aggregates of grasping. (680) How does he do so?

Here, a monk thinks:

“Such is form, (681) such the arising of form, such the disappearance of form;

such is feeling, such the arising of feeling, such the disappearance of feeling;

such is perception, (682) such the arising of perception, such the disappearance of perception;

such are the mental formations, (683) [302] such the arising of the mental formations, such the disappearance of the mental formations;

such is consciousness, (684) such the arising of consciousness, such the disappearance of consciousness.’

(INSIGHT)

‘So he abides contemplating mind objects as mind-objects internally...

And he abides detached, not grasping at anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating mind-objects as mind objects in respect of the five aggregates of grasping.’

dhammānupassanā āyatanapabbaṃ (DN 22)   (3. The Six Internal and External Sense-Bases)

♦ 384. “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu. kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu?

15. Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Sáu Nội Ngoại xứ.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Sáu Nội Ngoại xứ?

15. ‘Again, monks, a monk abides contemplating mindobjects as mind-objects in respect of the six internal and external sense-bases. (685)

How does he do so?

♦ “idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhuñca pajānāti, rūpe ca pajānāti, yañca tadubhayaṃ paṭicca uppajjati saṃyojanaṃ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṃyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṃyojanassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṃyojanassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy;

và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy;

và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy;

và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy...

Here a monk knows the eye, knows sight-objects, (686) and he knows whatever fetter arises dependent on the two. (687)

And he knows how an unarisen fetter comes to arise,

and he knows how the abandonment of an arisen fetter comes about,

and he knows how the non-arising of the abandoned fetter in the future will come about.

♦ “sotañca pajānāti, sadde ca pajānāti, yañca tadubhayaṃ paṭicca uppajjati saṃyojanaṃ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṃyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṃyojanassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṃyojanassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

và tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng...

He knows the ear and knows sounds ...

♦ “ghānañca pajānāti, gandhe ca pajānāti, yañca tadubhayaṃ paṭicca uppajjati saṃyojanaṃ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṃyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṃyojanassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṃyojanassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

và tuệ tri mũi và tuệ tri các hương...

He knows the nose, and knows smells ...

♦ “jivhañca pajānāti, rase ca pajānāti, yañca tadubhayaṃ paṭicca uppajjati saṃyojanaṃ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṃyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṃyojanassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṃyojanassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

và tuệ tri lưỡi và tuệ tri các vị...

He knows the tongue and knows tastes ...

♦ “kāyañca pajānāti, phoṭṭhabbe ca pajānāti, yañca tadubhayaṃ paṭicca uppajjati saṃyojanaṃ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṃyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṃyojanassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṃyojanassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

và tuệ tri thân và tuệ tri các xúc...

He knows the body (688) and knows tangibles ...

♦ “manañca pajānāti, dhamme ca pajānāti, yañca tadubhayaṃ paṭicca uppajjati saṃyojanaṃ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṃyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṃyojanassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṃyojanassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.

và tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy;

và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy;

và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy;

và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

He knows the mind and knows mind-objects, and he knows [303] whatever fetter arises dependent on the two.

And he knows how an unarisen fetter comes to arise,

and he knows how the abandonment of an arisen fetter comes about,

and he knows how the non-arising of the abandoned fetter in the future will come about.’

♦ “iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati. ‘atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya, anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu.

āyatanapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên cả các nội pháp, ngoại pháp;

hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp, đối với Sáu Nội Ngoại xứ.

(INSIGHT)

‘So he abides contemplating mind objects as mind-objects internally...

And he abides detached, not grasping at anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating mind-objects as mind objects in respect of the six internal and external sense-bases.’

dhammānupassanā bojjhaṅgapabbaṃ (DN 22)   (4. The Seven Factors of Enlightenment)

♦ 385. “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati sattasu bojjhaṅgesu. kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati sattasu bojjhaṅgesu? idha, bhikkhave, bhikkhu santaṃ vā ajjhattaṃ satisambojjhaṅgaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ satisambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ satisambojjhaṅgaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ satisambojjhaṅgo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa satisambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa satisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.

16. Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi?

Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo, nội tâm có Niệm Giác chi, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi có Niệm Giác chi", hay nội tâm không có Niệm Giác chi, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi không có Niệm Giác chi";

và với Niệm Giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với Niệm Giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.

16. ‘Again, monks, a monk abides contemplating mindobjects as mind objects in respect of the seven factors of enlightenment. (689)

How does he do so?

Here, monks, if the enlightenment factor of mindfulness is present in himself, a monk knows that it is present. If the enlightenment-factor of mindfulness is absent in himself, he knows that it is absent.

And he knows how the unarisen enlightenment-factor of mindfulness comes to arise,

and he knows how the complete development of the enlightenment-factor of mindfulness comes about.

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ dhammavicayasambojjhaṅgaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ dhammavicayasambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ dhammavicayasambojjhaṅgaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ dhammavicayasambojjhaṅgo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa dhammavicayasambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có Trạch pháp Giác chi...

If the enlightenment-factor of investigation-of-states (690) is present in himself...

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ vīriyasambojjhaṅgaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ vīriyasambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ vīriyasambojjhaṅgaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ vīriyasambojjhaṅgo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa vīriyasambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có Tinh tấn Giác chi...

If the enlightenment-factor of energy (691) is present in himself...

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ pītisambojjhaṅgaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ pītisambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ pītisambojjhaṅgaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ pītisambojjhaṅgo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa pītisambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có Hỷ Giác chi...

If the enlightenment-factor of delight (692) is present in himself...[304]

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ passaddhisambojjhaṅgaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ passaddhisambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ passaddhisambojjhaṅgaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ passaddhisambojjhaṅgo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa passaddhisambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có Khinh an Giác chi...

If the enlightenment-factor of tranquillity (693) is present in himself...

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ samādhisambojjhaṅgaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ samādhisambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ samādhisambojjhaṅgaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ samādhisambojjhaṅgo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa samādhisambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có Ðịnh Giác chi...

If the enlightenment-factor of concentration is present in himself ...

♦ “santaṃ vā ajjhattaṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ ‘atthi me ajjhattaṃ upekkhāsambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhattaṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ ‘natthi me ajjhattaṃ upekkhāsambojjhaṅgo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa upekkhāsambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.

Hay nội tâm có Xả Giác chi; tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi có Xả Giác chi"; hay nội tâm không có Xả Giác chi, tuệ tri rằng: "Nội tâm tôi không có Xả Giác chi."

Và với Xả Giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy;

và với Xả Giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.

If the enlightenment-factor of equanimity is present in himself, a monk knows that it is present. If the enlightenment-factor of equanimity is absent in himself, he knows that it is absent.

And he knows how the unarisen enlightenment-factor of equanimity comes to arise,

and he knows how the complete development of the enlightenment factor of equanimity comes about.’

♦ “iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati ‘atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati sattasu bojjhaṅgesu.

bojjhaṅgapabbaṃ niṭṭhitaṃ. {bojjhaṅgapabbaṃ niṭṭhitaṃ, paṭhamabhāṇavāraṃ (syā.)}

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên cả các nội pháp, ngoại pháp.

Hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây"; vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.

(INSIGHT)

‘So he abides contemplating mind objects as mind-objects internally...

And he abides detached, not grasping at anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating mind-objects as mind objects in respect of the seven factors of enlightenment.’

dhammānupassanā saccapabbaṃ (DN 22)   (5. The Four Noble Truths)

♦ 386. “puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyasaccesu. kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyasaccesu? idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṃ dukkhan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ pajānāti.

paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.

17. Lại nữa này các Tỷ kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Sự thật.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Sự thật? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo

như thật tuệ tri: "Ðây là khổ";

như thật tuệ tri: "Ðây là khổ tập";

như thật tuệ tri: "Ðây là khổ diệt";

như thật tuệ tri: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt".

17. ‘Again, monks, a monk abides contemplating mindobjects as mind-objects in respect of the Four Noble Truths.

How does he do so?

Here, a monk knows as it really is: “This is suffering”;

he knows as it really is: “This is the origin of suffering”;

he knows as it really is: “This is the cessation of suffering”;

he knows as it really is: “This is the way of practice leading to the cessation of suffering.”

dukkhasaccaniddeso (DN 22)    
♦ 387. “katamañca, bhikkhave, dukkhaṃ ariyasaccaṃ? jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇampi dukkhaṃ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, appiyehi sampayogopi dukkho, piyehi vippayogopi dukkho {appiyehi ... pe ... vippayogo dukkhotipāṭho ceva taṃniddeso ca katthaci na dissati, aṭṭhakathāyaṃpi taṃsaṃvaṇṇanā natthi}, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā {pañcupādānakkhandhāpi (ka.)} dukkhā.

18. Và này các Tỷ kheo, thế nào Khổ Thánh đế?

Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ,

sầu, bi. khổ, ưu, não là khổ,

cầu không được là khổ,

tóm lại Năm Thủ uẩn là khổ.

18.  (694) ‘And what, monks, is the Noble Truth of Suffering?

Birth is suffering, ageing is suffering, death is suffering,

sorrow, lamentation, pain, sadness and distress are suffering.

Being attached to the unloved is suffering,

being separated from the loved is suffering,

not getting what one wants is suffering.

In short, the five aggregates of grasping (695) are suffering.

♦ 388. “katamā ca, bhikkhave, jāti? yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṃ pātubhāvo āyatanānaṃ paṭilābho, ayaṃ vuccati, bhikkhave, jāti.

Này các Tỷ kheo thế nào là sanh?

Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sanh, xuất thành, tái sanh của họ, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là sanh.

‘And what, monks, is birth?

In whatever beings, of whatever group of beings, there is birth, coming-to-be, coming forth, the appearance of the aggregates, the acquisition of the sense bases, (696) that, monks, is called birth.

♦ 389. “katamā ca, bhikkhave, jarā? yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṃ pāliccaṃ valittacatā āyuno saṃhāni indriyānaṃ paripāko, ayaṃ vuccati, bhikkhave, jarā.

Này các Tỷ kheo, thế nào là già?

Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới hạn, sự niên lão, sự hủy hoại, trạng thái rụng răng, trạng thái tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn hủy hoại. Này các Tỷ kheo, như vậy là già.

‘And what is ageing?

In whatever beings, of whatever group of beings, there is ageing, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkled skin, shrinking with age, decay of the sense faculties, that, monks, is called ageing.

♦ 390. “katamañca, bhikkhave, maraṇaṃ? yaṃ {aṭṭhakathā oloketabbā} tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṃ maccu maraṇaṃ kālakiriyā khandhānaṃ bhedo kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo, idaṃ vuccati, bhikkhave, maraṇaṃ.

Này các Tỷ kheo, thế nào là chết?

Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần, thân hoại, sự diệt vong, sự chết, sự tử vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất bỏ tử thi. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là chết.

‘And what is death?

In whatever beings, of whatever group of beings, there is a passing-away, a removal, a cutting-off, a disappearance, a death, a dying, an ending, a cutting-off of the aggregates, a discarding of the body, that, monks, is called death.

♦ 391. “katamo ca, bhikkhave, soko? yo kho, bhikkhave, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṃ antosoko antoparisoko, ayaṃ vuccati, bhikkhave, soko.

Này các Tỷ kheo, thế nào gọi là sầu?

Này các Tỷ kheo, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu, sự sầu lo, sự sầu muộn, nội sầu, mọi khổ sầu của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là sầu.

‘And what is sorrow?

Whenever, by any kind of misfortune, [306] anyone is affected by something of a painful nature, sorrow, mourning, distress, inward grief, inward woe, that, monks, is called sorrow.

♦ 392. “katamo ca, bhikkhave, paridevo? yo kho, bhikkhave, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanā paridevanā ādevitattaṃ paridevitattaṃ, ayaṃ vuccati, bhikkhave paridevo.

Này các Tỷ kheo, thế nào là bi?

Này các Tỷ kheo, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác ; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự bi ai, sự bi thảm, sự than van, sự than khóc, sự bi thán, sự bi thống của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là bi.

‘And what is lamentation?

Whenever, by any kind of misfortune, anyone is affected by something of a painful nature and there is crying out, lamenting, making much noise for grief, making great lamentation, that, monks, is called lamentation.

♦ 393. “katamañca, bhikkhave, dukkhaṃ? yaṃ kho, bhikkhave, kāyikaṃ dukkhaṃ kāyikaṃ asātaṃ kāyasamphassajaṃ dukkhaṃ asātaṃ vedayitaṃ, idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhaṃ.

Này các Tỷ kheo, thế nào là khổ?

Này các Tỷ kheo, sự đau khổ về thân, sự không sảng khoái về thân, sự đau khổ do thân cảm thọ, sự không sảng khoái do thân cảm thọ. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là khổ.

‘And what is pain?

Whatever bodily painful feeling, bodily unpleasant feeling, painful or unpleasant feeling results from bodily contact, that, monks, is called pain.

♦ 394. “katamañca, bhikkhave, domanassaṃ? yaṃ kho, bhikkhave, cetasikaṃ dukkhaṃ cetasikaṃ asātaṃ manosamphassajaṃ dukkhaṃ asātaṃ vedayitaṃ, idaṃ vuccati, bhikkhave, domanassaṃ.

Này các Tỷ kheo, thế nào là ưu?

Này các Tỷ kheo, sự đau khổ về tâm, sự không sảng khoái về tâm, sự đau khổ do tâm cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là ưu.

‘And what is sadness? (697)

Whatever mental painful feeling, mental unpleasant feeling, painful or unpleasant sensation results from mental contact, that, monks, is called sadness.

♦ 395. “katamo ca, bhikkhave, upāyāso? yo kho, bhikkhave, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa āyāso upāyāso āyāsitattaṃ upāyāsitattaṃ, ayaṃ vuccati, bhikkhave, upāyāso.

Này các Tỷ kheo, thế nào là não?

Này các Tỷ kheo, với những ai gặp tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự áo não, sự bi não, sự thất vọng, sự tuyệt vọng của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là não.

‘And what is distress?

Whenever, by any kind of misfortune, anyone is affected by something of a painful nature, distress, great distress, affliction with distress, with great distress, that, monks, is called distress. (698)

♦ 396. “katamo ca, bhikkhave, appiyehi sampayogo dukkho? idha yassa te honti aniṭṭhā akantā amanāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā dhammā, ye vā panassa te honti anatthakāmā ahitakāmā aphāsukakāmā ayogakkhemakāmā, yā tehi saddhiṃ saṅgati samāgamo samodhānaṃ missībhāvo, ayaṃ vuccati, bhikkhave, appiyehi sampayogo dukkho.  

‘And what, monks, is being attached to the unloved?

Here, whoever has unwanted, disliked, unpleasant sightobjects, sounds, smells, tastes, tangibles or mind-objects, or whoever encounters ill-wishers, wishers of harm, of discomfort, of insecurity, with whom they have concourse, intercourse, connection, union, that, monks, is called being attached to the unloved.

♦ 397. “katamo ca, bhikkhave, piyehi vippayogo dukkho? idha yassa te honti iṭṭhā kantā manāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā dhammā, ye vā panassa te honti atthakāmā hitakāmā phāsukakāmā yogakkhemakāmā mātā vā pitā vā bhātā vā bhaginī vā mittā vā amaccā vā ñātisālohitā vā, yā tehi saddhiṃ asaṅgati asamāgamo asamodhānaṃ amissībhāvo, ayaṃ vuccati, bhikkhave, piyehi vippayogo dukkho.  

‘And what is being separated from the loved?

Here, whoever has what is wanted, liked, pleasant sightobjects, sounds, smells, tastes, tangibles or mind-objects, or whoever encounters well-wishers, wishers of good, of comfort, of security, mother or father or brother or sister or younger kinsmen or friends or colleagues or blood-relations, and then is deprived of such concourse, intercourse, connection, or union, that, monks, is called being separated from the loved. [307]

♦ 398. “katamañca, bhikkhave, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ? jātidhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati — ‘aho vata mayaṃ na jātidhammā assāma, na ca vata no jāti āgaccheyyā’ti. na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ. jarādhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati — ‘aho vata mayaṃ na jarādhammā assāma, na ca vata no jarā āgaccheyyā’ti. na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ. byādhidhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati ‘aho vata mayaṃ na byādhidhammā assāma, na ca vata no byādhi āgaccheyyā’ti. na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ. maraṇadhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati ‘aho vata mayaṃ na maraṇadhammā assāma, na ca vata no maraṇaṃ āgaccheyyā’ti. na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ. sokaparidevadukkhadomanass-upāyāsadhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati ‘aho vata mayaṃ na sokaparidevadukkhadomanass-upāyāsadhammā assāma, na ca vata no sokaparidevadukkhadomanass-upāyāsadhammā āgaccheyyun’ti. na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ.

Này các Tỷ kheo, thế nào là cầu bất đắc khổ?

Này các Tỷ kheo, chúng sanh bị sanh chi phối, khởi sự mong cầu: "Mong rằng ta khỏi bị sanh chi phối, mong rằng ta khỏi phải đi thác sanh".

Lời cầu mong ấy không được thành tựu. Như vậy gọi là cầu bất đắc khổ!

Này các Tỷ kheo, chúng sanh bị già chi phối... chúng sanh bị bệnh chi phối... chúng sanh bị chết chi phối.. chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối, khởi sự mong cầu: "Mong rằng ta khỏi bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối!

Mong rằng ta khỏi đương chịu sầu, bi, khổ, ưu, não". Lời mong cầu ấy không được thành tựu. Như vậy là cầu bất đắc khổ.

‘And what is not getting what one wants

In beings subject to birth, monks, this wish arises: “Oh that we were not subject to birth, that we might not come to birth!”

But this cannot be gained by wishing. That is not getting what one wants.

In beings subject to ageing, to disease, (699) to death, to sorrow, lamentation, pain, sadness and distress this wish arises: “Oh that we were not subject to ageing... distress, that we might not come to these things!”

But this cannot be gained by wishing. That is not getting what one wants.

♦ 399. “katame ca, bhikkhave, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā? seyyathidaṃ — rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhaṃ ariyasaccaṃ.

Này các Tỷ kheo, như thế nào là tóm lại, Năm Thủ uẩn là khổ?

Như Sắc thủ uẩn,

Thọ thủ uẩn,

Tưởng thủ uẩn,

Hành thủ uẩn,

Thức thủ uẩn.

Này các Tỷ kheo, như vậy tóm lại Năm Thủ uẩn là khổ.

‘And how, monks, in short, are the five aggregates of grasping suffering? They are as follows:

the aggregate of grasping that is form,

the aggregate of grasping that is feeling,

the aggregate of grasping that is perception,

the aggregate of grasping that is the mental formations,

the aggregate of grasping that is consciousness, (700)

These are, in short, the five aggregates of grasping that are suffering.

And that, monks, is called the Noble Truth of Suffering. [308]

samudayasaccaniddeso (DN 22)    

♦ 400. “katamañca, bhikkhave, dukkhasamudayaṃ {dukkhasamudayo (syā.)} ariyasaccaṃ? yāyaṃ taṇhā ponobbhavikā {ponobhavikā (sī. pī.)} nandīrāgasahagatā {nandirāgasahagatā (sī. syā. pī.)} tatratatrābhinandinī, seyyathidaṃ — kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā.

19. Này các Tỷ kheo, thế nào là Khổ tập Thánh đế?

Sự tham ái đưa đến tái sanh,

câu hữu với hỷ và tham,

tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia.

Như dục ái, hữu ái, vô hữu ái.

19. ‘And what, monks, is the Noble Truth of the Origin of Suffering?

It is that craving (701) which gives rise to rebirth, (702)

bound up with pleasure and lust,

finding fresh delight now here, now there:

that is to say sensual craving, craving for existence, and craving for non-existence. (703)

♦ “sā kho panesā, bhikkhave, taṇhā kattha uppajjamānā uppajjati, kattha nivisamānā nivisati? yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Này các Tỷ kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu?

Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

‘And where does this craving arise and establish itself?

Wherever in the world there is anything agreeable and pleasurable, there this craving arises and establishes itself.

♦ “kiñca loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ? cakkhu loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. sotaṃ loke ... pe ... ghānaṃ loke... jivhā loke... kāyo loke... mano loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

‘And what is there in the world that is agreeable and pleasurable?

The eye in the world is agreeable and pleasurable, the ear..., the nose..., the tongue..., the body..., the mind in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving arises and establishes itself.

♦ “rūpā loke... saddā loke... gandhā loke... rasā loke... phoṭṭhabbā loke... dhammā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Ở đời các sắc... ở đời các tiếng... ở đời các hương... ở đời các vị... ở đời các cảm xúc... ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Sights, sounds, smells, tastes, tangibles, mind-objects in the world are agreeable and pleasurable, and there this craving arises and establishes itself.

♦ “cakkhuviññāṇaṃ loke... sotaviññāṇaṃ loke... ghānaviññāṇaṃ loke... jivhāviññāṇaṃ loke... kāyaviññāṇaṃ loke... manoviññāṇaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Ở đời nhãn thức... ở đời nhĩ thức... ở đời tỷ thức... ở đời thiệt thức... ở đời thân thức... ở đời ý thức là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

‘Eye-consciousness, ear-consciousness, noseconsciousness, tongue-consciousness, bodyconsciousness, mind-consciousness in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving arises and establishes itself.

♦ “cakkhusamphasso loke... sotasamphasso loke... ghānasamphasso loke... jivhāsamphasso loke... kāyasamphasso loke... manosamphasso loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Ở đời nhãn xúc... ở đời nhĩ xúc... ở đời tỷ xúc... ở đời thiệt xúc... ở đời thân xúc... ở đời ý xúc là sắc thân ái, à sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

′Eye-contact, (704) ear-contact, nose contact, [309] tonguecontact, body-contact, mind-contact in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving arises and establishes itself

♦ “cakkhusamphassajā vedanā loke... sotasamphassajā vedanā loke... ghānasamphassajā vedanā loke... jivhāsamphassajā vedanā loke... kāyasamphassajā vedanā loke... manosamphassajā vedanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Ở đời nhãn xúc sở sanh thọ... ở đời nhĩ xúc sở sanh thọ... ở đời tỷ xúc sở sanh thọ... ở đời thiệt xúc sở thanh thọ... ở đời thân xúc sở sanh thọ... ở đời ý xúc sở sanh thọ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

‘Feeling born of eye-contact, ear-contact, nose-contact, tongue-contact, body contact, mind-contact in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving arises and establishes itself.

♦ “rūpasaññā loke... saddasaññā loke... gandhasaññā loke... rasasaññā loke... phoṭṭhabbasaññā loke... dhammasaññā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Ở đời sắc tưởng... ở đời thanh tưởng... ở đời hương tưởng... ở đời vị tưởng... ở đời xúc tưởng... ở đời pháp tưởng là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

‘The perception of sights, of sounds, of smells, of tastes, of tangibles, of mind objects in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving arises and establishes itself.

♦ “rūpasañcetanā loke... saddasañcetanā loke... gandhasañcetanā loke... rasasañcetanā loke... phoṭṭhabbasañcetanā loke... dhammasañcetanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Ở đời sắc tư... ở đời thanh tư... ở đời hương tư... ở đời vị tư... ở đời xúc tư... ở đời pháp tư là sắc thân ái, là sắc khả ai. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

‘Volition in regard to sights, sounds, smells, tastes, tangibles, mind-objects in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving arises and establishes itself.

♦ “rūpataṇhā loke... saddataṇhā loke... gandhataṇhā loke... rasataṇhā loke... phoṭṭhabbataṇhā loke... dhammataṇhā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Ở đời sắc ái... ở đời thanh ái... ở đời hương ái... ở đời vị ái... ở đời xúc ái... ở đời pháp ái là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đây.

‘The craving for sights, sounds, smells, tastes, tangibles, mind-objects in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving arises and establishes itself.

♦ “rūpavitakko loke... saddavitakko loke... gandhavitakko loke... rasavitakko loke... phoṭṭhabbavitakko loke... dhammavitakko loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.

Ở đời sắc tầm ... ở đời thanh tầm... ở đời hương tầm... ở đời vị tầm... ở đời xúc tầm... ở đời pháp tầm là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

‘Thinking (705) of sights, sounds, smells, tastes, tangibles, mind-objects in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving arises and establishes itself.

♦ “rūpavicāro loke... saddavicāro loke... gandhavicāro loke... rasavicāro loke... phoṭṭhabbavicāro loke... dhammavicāro loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ.

Ở đời sắc tứ... ở đời thanh tứ... ở đời hương tứ... ở đời vị tứ... ở đời xúc tứ... ở đời pháp tứ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ tập Thánh đế.

‘Pondering (706) on sights, sounds, smells, tastes, tangibles and mind-objects in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving [310] arises and establishes itself. And that, monks, is called the Noble Truth of the Origin of Suffering. 

nirodhasaccaniddeso (DN 22)    

♦ 401. “katamañca, bhikkhave, dukkhanirodhaṃ {dukkhanirodho (syā.)} ariyasaccaṃ? yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.

20. Này các Tỷ kheo, và thế nào là Khổ diệt Thánh đế?

Sự diệt tận không còn luyến tiếc tham ái ấy, sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm (tham ái ấy).

20. ‘And what, monks, is the Noble Truth of the Cessation of Suffering?

It is the complete fading-away and extinction of this craving, its forsaking and abandonment, liberation from it, detachment from it. (707) And how does this craving come to be abandoned, how does its cessation come about?

♦ “sā kho panesā, bhikkhave, taṇhā kattha pahīyamānā pahīyati, kattha nirujjhamānā nirujjhati? yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Này các Tỷ kheo, sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đâu, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đâu? Ở đời các sắc gì thân, các sắc gì ái, sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

‘Wherever in the world there is anything agreeable and pleasurable, there its cessation comes about. And what is there in the world that is agreeable and pleasurable?

♦ “kiñca loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ? cakkhu loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati. sotaṃ loke ... pe ... ghānaṃ loke... jivhā loke... kāyo loke... mano loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Ở đời sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

Ở đời lỗ tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

‘The eye in the world is agreeable and pleasurable,

the ear ..., the nose..., the tongue..., the body..., the mind in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving comes to be abandoned, there its cessation comes about:

♦ “rūpā loke... saddā loke... gandhā loke... rasā loke... phoṭṭhabbā loke... dhammā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Ở đời các sắc... ở đời các tiếng... ở đời các mùi hương... ở đời các vị.. ở đời các xúc... ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

 

♦ “cakkhuviññāṇaṃ loke... sotaviññāṇaṃ loke... ghānaviññāṇaṃ loke... jivhāviññāṇaṃ loke... kāyaviññāṇaṃ loke... manoviññāṇaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Ở đời nhãn thức... ở đời nhĩ thức... ở đời tỷ thức... ở đời thiệt thức... ở đời ý thức là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

‘Eye-consciousness, ear-consciousness, noseconsciousness, tongue-consciousness, bodyconsciousness, mind-consciousness in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving comes to be abandoned, there its cessation comes about.

♦ “cakkhusamphasso loke... sotasamphasso loke... ghānasamphasso loke... jivhāsamphasso loke... kāyasamphasso loke... manosamphasso loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Ở đời nhãn xúc... ở đời nhĩ xúc... ở đời tỷ xúc... ở đời thiệt xúc... ở đời thân xúc... ở đời ý xúc là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy. ‘Sights, sounds, smells, tastes, tangibles, mind-objects in the world are agreeable and pleasurable, and there this craving comes to be abandoned, there its cessation comes about.

♦ “cakkhusamphassajā vedanā loke... sotasamphassajā vedanā loke ... ghānasamphassajā vedanā loke... jivhāsamphassajā vedanā loke... kāyasamphassajā vedanā loke... manosamphassajā vedanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Ở đời nhãn xúc sở sanh thọ... ở đời nhĩ xúc sở sanh thọ... ở đời tỷ xúc sở sanh thọ... ở đời thiệt xúc sở sanh thọ... ở đời thân xúc sở sanh thọ.. ở đời ý xúc sở sanh thọ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

Eye-contact, ear-contact, nose-contact, tongue-contact, body-contact, mind contact ... ; [311]

♦ “rūpasaññā loke... saddasaññā loke... gandhasaññā loke... rasasaññā loke... phoṭṭhabbasaññā loke... dhammasaññā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Ở đời sắc tưởng... ở đời thanh tưởng... ở đời hương tưởng... ở đời vị tưởng... ở đời xúc tưởng... ở đời pháp tưởng là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

the perception of sights, sounds, smells, tastes, tangibles, mind-objects...;

♦ “rūpasañcetanā loke... saddasañcetanā loke... gandhasañcetanā loke... rasasañcetanā loke... phoṭṭhabbasañcetanā loke... dhammasañcetanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Ở đời sắc tư... ở đời thanh tư... ở đời hương tư... ở đời vị tư... ở đời xúc tư... ở đời pháp tư là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

volition in regard to sights, sounds, smells, tastes, tangibles, mind-objects...;

♦ “rūpataṇhā loke... saddataṇhā loke... gandhataṇhā loke... rasataṇhā loke... phoṭṭhabbataṇhā loke... dhammataṇhā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Ở đời sắc ái... ở đời thanh ái... ở đời hương ái... ở đời vị ái... ở đời xúc ái... ở đời pháp ái là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

craving for sights, sounds, smells, tastes, tangibles, mindobjects...;

♦ “rūpavitakko loke... saddavitakko loke... gandhavitakko loke... rasavitakko loke... phoṭṭhabbavitakko loke... dhammavitakko loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.

Ở đời sắc tầm... ở đời thanh tầm... ở đời hương tầm... ở đời vị tầm... ở đời xúc tầm... ở đời pháp tàm là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

thinking of sights, sounds, smells, tastes, tangibles, mindobjects...;

♦ “rūpavicāro loke... saddavicāro loke... gandhavicāro loke... rasavicāro loke... phoṭṭhabbavicāro loke... dhammavicāro loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati. idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ.

Ở đời sắc tứ... ở đời thanh tứ... ở đời hương tứ... ở đời vị tứ... ở đời xúc tứ... ở đời pháp tứ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.

Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ diệt Thánh đế.

pondering on sights, sounds, smells, tastes, tangibles and mind-objects in the world is agreeable and pleasurable, and there this craving comes to an end, there its cessation comes about.

And that, monks, is called the Noble Truth of the Cessation of Suffering.

maggasaccaniddeso (DN 22)    

♦ 402. “katamañca, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ? ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.

21. Này các Tỷ kheo, thế nào là Khổ diệt đạo Thánh đế.

Ðó là bát chi Thánh đạo, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tin tấn, Chánh niệm, Chánh định.

21. ‘And what, monks, is the Noble Truth of the Way of Practice Leading to the Cessation of Suffering?

It is just this Noble Eightfold Path, namely: — Right View, Right Thought; Right Speech, Right Action, Right Livelihood; Right Effort Right Mindfulness, Right Concentration.

♦ “katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi? yaṃ kho, bhikkhave, dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ, ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammādiṭṭhi.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Này các Tỷ kheo, tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tri kiến.

‘And what, monks, is Right View? (708) [312]

It is, monks, the knowledge of suffering, the knowledge of the origin of suffering, the knowledge of the cessation of suffering, and the knowledge of the way of practice leading to the cessation of suffering.

This is called Right View.

♦ “katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo? nekkhammasaṅkappo abyāpādasaṅkappo avihiṃsāsaṅkappo, ayaṃ vuccati bhikkhave, sammāsaṅkappo.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Này các tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tư duy.

‘And what, monks, is Right Thought? (709)

The thought of renunciation, the thought of non-ill-will, the thought of harmlessness.

This, monks, is called Right Thought.

♦ “katamā ca, bhikkhave, sammāvācā? musāvādā veramaṇī {veramaṇi (ka.)} pisuṇāya vācāya veramaṇī pharusāya vācāya veramaṇī samphappalāpā veramaṇī, ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvācā.

Này các Tỷ kheo thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh ngữ.

‘And what, monks, is Right Speech?

Refraining from lying, refraining from slander, refraining from harsh speech, refraining from frivolous speech.

This is called Right Speech.

♦ “katamo ca, bhikkhave, sammākammanto? pāṇātipātā veramaṇī adinnādānā veramaṇī kāmesumicchācārā veramaṇī, ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammākammanto.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh nghiệp.

‘And what, monks, is Right Action?

Refraining from taking life, refraining from taking what is not given, refraining from sexual misconduct.

This is called Right Action.

♦ “katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo? idha, bhikkhave, ariyasāvako micchāājīvaṃ pahāya sammāājīvena jīvitaṃ kappeti, ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāājīvo.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh mạng? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh mạng.

‘And what, monks, is Right Livelihood?

Here, monks, the Ariyan disciple, having given up wrong livelihood, keeps himself by right livelihood.

♦ “katamo ca, bhikkhave, sammāvāyāmo? idha, bhikkhave, bhikkhu anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati; uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati; anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati; uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvāyāmo.

Này các Tỷ kheo, và thế nào là Chánh tinh tấn? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt, vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tinh tấn.

‘And what, monks, is Right Effort?

Here, monks, a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to prevent the arising of unarisen evil unwholesome mental states.

He rouses his will... and strives to overcome evil unwholesome mental states that have arisen. He rouses his will... and strives to produce unarisen wholesome mental states.

He rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind [313] and strives to maintain wholesome mental states that have arisen, not to let them fade away, to bring them to greater growth, to the full perfection of development.

This is called Right Effort.

♦ “katamā ca, bhikkhave, sammāsati? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsati.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh niệm? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; trên các cảm thọ... trên các tâm... quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh niệm.

‘And what, monks, is Right Mindfulness?

Here, monks, a monk abides contemplating body as body, ardent, clearlyaware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world;

he abides contemplating feelings as feelings...; he abides contemplating mind as mind...; he abides contemplating mind-objects as mind objects, ardent, clearly aware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world.

This is called Right Mindfulness.

♦ “katamo ca, bhikkhave, sammāsamādhi? idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsamādhi. idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh định? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ kheo ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ kheo ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tỷ kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh định.

Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ diệt đạo thánh đế.

‘And what, monks, is Right Concentration?

Here, a monk, detached from sense desires, detached from unwholesome mental states, enters and remains in the first jhāna, which is with thinking and pondering, born of detachment, filled with delight and joy.

And with the subsiding of thinking and pondering, by gaining inner tranquillity and oneness of mind, he enters and remains in the second jhāna, which is without thinking and pondering, born of concentration, filled with delight and joy.

And with the fading away of delight, remaining imperturbable, mindful and clearly aware, he experiences in himself the joy of which the Noble Ones say: “Happy is he who dwells with equanimity and mindfulness”, he enters the third jhāna.

And, having given up pleasure and pain, and with the disappearance of former gladness and sadness, he enters and remains in the fourth jhāna, which is beyond pleasure and pain, and purified by equanimity and mindfulness.

This is called Right Concentration.

And that, monks, is called the way of practice leading to the cessation of suffering.’

♦ 403. “iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati. ‘atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyasaccesu.

♦ saccapabbaṃ niṭṭhitaṃ.

♦ dhammānupassanā niṭṭhitā.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp.

Hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.

(INSIGHT)

‘So he abides contemplating mind objects as mind-objects internally, [314] contemplating mind-objects as mind-objectsexternally, contemplating mind-objects as mind-objects both internally and externally.

He abides contemplating arising phenomena in mindobjects, he abides contemplating vanishing-phenomena in mind-objects, he abides contemplating both arising and vanishing phenomena in mind-objects. Or else, mindfulness that “there are mind-objects” is present just to the extent necessary for knowledge and awareness.

And he abides detached, not grasping at anything in the world.

And that, monks, is how a monk abides contemplating mind-objects as mind objects in respect of the Four Noble Truths.’

♦ 404. “yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya sattavassāni, tassa dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ diṭṭheva dhamme aññā; sati vā upādisese anāgāmitā.

22. Này các Tỷ kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại; hai là nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn.

(CONCLUSION)

22. ‘Whoever, monks, should practise these four foundations of mindfulness for just seven years may expect one of two results:

either Arahantship in this life or, if there should be some substrate left, the state of a Non-Returner.

♦ “tiṭṭhantu, bhikkhave, sattavassāni. yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya cha vassāni ... pe ... pañca vassāni... cattāri vassāni... tīṇi vassāni... dve vassāni... ekaṃ vassaṃ... tiṭṭhatu, bhikkhave, ekaṃ vassaṃ. yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya sattamāsāni, tassa dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ diṭṭheva dhamme aññā; sati vā upādisese anāgāmitā.

Này các Tỷ kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong sáu năm... trong năm năm... trong bốn năm... trong ba năm... trong hai năm... trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại; hai là nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Let alone seven years —

whoever should practise them for just six years ..., five years..., four years... three years..., two years..., one year may expect one of two results...; one of two results...;

let alone one year —

♦ “tiṭṭhantu, bhikkhave, satta māsāni. yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya cha māsāni ... pe ... pañca māsāni... cattāri māsāni... tīṇi māsāni ... dve māsāni... ekaṃ māsaṃ... aḍḍhamāsaṃ... tiṭṭhatu, bhikkhave, aḍḍhamāso. yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya sattāhaṃ, tassa dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ diṭṭheva dhamme aññā; sati vā upādisese anāgāmitāti.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong sáu tháng... trong năm tháng... trong bốn tháng... trong ba tháng... trong hai tháng... trong một tháng... trong nửa tháng... vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

whoever should practise them for just seven months..., six months..., five months . . . , four months..., three months..., two months..., [315] one month..., half a month may expect one of two results...;

let alone half a month — whoever should practise these four foundations of mindfulness for just one week may expect one of two results: either Arahantship in this life or, if there should be some substrate left, the state of a NonReturner.

♦ 405. “ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānāti. iti yaṃ taṃ vuttaṃ, idametaṃ paṭicca vuttan”ti. idamavoca bhagavā. attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.

mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ niṭṭhitaṃ navamaṃ.

Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến sự thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh lý, chứng ngộ Niết Bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

Thế Tôn thuyết pháp đã xong. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

‘It was said: “There is, monks, this one way to the purification of beings, for the overcoming of sorrow and distress, for the disappearance of pain and sadness, for the gaining of the right path, for the realisation of Nibbāna: — that is to say the four foundations of mindfulness”, and it is for this reason that it was said.’

Thus the Lord spoke, and the monks rejoiced and were delighted at his words.

 

Notes: The numbers in square brackets [ ] in the actual text refer to the page number of the Dīgha Nikāya of the Pali Text Society's edition in Pali.

 

(624). This is generally regarded as the most important Sutta in the entire Pali Canon. It recurs verbatim at MN 10 as the Satipatthana Sutta, with the omission of verses 18-21. The text (or that of MN 10) has been separately translated a number of times, notably by Soma Thera as The Way of Mindfulness (2nd ed. Colombo 1949, 3rd ed. BPS 1967). The important book The Heart of Buddhist Meditation by Nyāṇaponika Mahāthera  (Colombo 1954, London 1973 and later) is essentially based on this Sutta and contains a translation, not only of this but of other relevant texts from the Pali Canon and from Mahayana sources (especially Santideva’s Sikṣāsamuccaya). The author’s remark in the Introduction (p. 14) should also be noted: ‘Among the Mahayana schools of the Far East, it is chiefly the Chinese Ch’an and Japanese Zen that are closest to the spirit of Satipaṭṭhāna. Notwithstanding the differences in method, aim and basic philosophical conceptions, the connecting links with Satipaṭṭhāna are close and strong, and it is regrettable that they have hardly been stressed or noticed.’ It should however be mentioned that since those words were written, the realisation has begun to dawn that Zen has much in common with Theravāda in general, and the Satipaṭṭhāna method in particular — somewhat to the surprise of some who have overstressed the ‘uniqueness’ of Zen. The cross-headings in this Sutta correspond closely to those used by the Ven. Ñāṇamoli for MN 10.

(625). Or Kammāsadhamma. For explanation of the construction, see DN 15, n.319.

(626). Ekāyano maggo. Sometimes translated ‘the only way’ or ‘the one and only way’ with, on occasion, a slightly triumphalist connotation. DA in fact offers a number of possibilities, thus showing that the old commentators were not entirely sure of the exact meaning. Ekāyana can be literally rendered ‘one-going’, which is ambiguous. Ñāṇamoli has ‘a path that goes one way only’. In any case it should not be confused with the term sometimes found in Buddhist Sanskrit ekāyana ‘one vehicle’ or ‘career’.

(627). Domanassa: in this context usually translated ʹgriefʹ, but cf. DN 21, n.609.

(628). Ñāya: ‘leading, guiding’ (sometimes = ʹlogicʹ). Here = ‘the right path’.

(629). Satipaṭṭhānā. It is probably a compound of sati + upaṭṭhāna (lit. ‘placing near’), as in the old Sanskrit version (Smṛty-upasthāna Sūtra). ‘Foundations’, though used by Nyānaponika and others, is really a makeshift translation. In any case, whatever the etymology, the meaning emerges clearly enough from the instructions that follow.

Sati (Skt. smṛti) originally meant ‘memory’ (and still, rarely, does in Pali). The rendering ‘mindfulness’ by RD was a brilliant one which is almost universally used (though ‘recollection’ or ‘recollectedness’ is occasionally found). The use of ‘self-possession’ by A.K. Warder in his otherwise excellent Indian Buddhism is regrettable. It should perhaps be mentioned that Buddhist Sanskrit smṛti is clearly used in a different sense from the Hindu smṛti ‘oral tradition’.

(630). Bhikkhu: but here used, according to DA, for anyone who does this practice.

(631). Kāye kāyânupassī viharati: lit. ‘contemplating the body in the body’, and with similar repetitive formulations for the other three ‘foundations’. ‘Why is the word “body” used twice in the phrase: “Contemplating the body in the body”? For determining the object and isolating it.’ (DA). Ñāṇamoli paraphrases: ‘This means not confusing, during meditation, body with feeling, mind, etc. The body is contemplated just as body, feelings just as feelings, etc.´

(632). I have tried to get away from the usual rendering ‘coveting and grief’ in order to bring out the true meaning. The theme is fully developed in verse 19.

(633). Vedanā is feeling (physical or mental) in its most basic sense of ‘sensation’, pleasant, painful or neutral. It is regrettable that Warder (as n.629) has chosen ‘emotion’ for this word, which is precisely what it does not mean!

(634). Citta: ‘mind’ or, metaphorically, ‘heart’. See verse 12.

(635). Dhammā (plural): one of the standard meanings of this term (see BDic).

(636). Or ‘an empty room’.

(637). I.e. on the breath in front of him, as DA. Nyāṇaponika paraphrases ‘keeping...his mindfulness alert’. Readers of F.L. Woodward’s somewhat dated Some Sayings of the Buddha should note that there is no basis for his footnote ‘Concentrating between the eyebrows’.

(638). This is the probable meaning of assasati, passasati, though it is just possible that the terms should be reversed. Ñāṇamoli’s footnote: ‘The exercise described is one in mental observation not in bodily development or breath control as in Hatha-yoga’ may be a necessary reminder to some.

(639). Lit. ‘He knows: “I breathe in a long breath”’, etc. Pali regularly uses direct speech in such cases.

(640). This is taken to mean ‘the whole body of breath’ (cf. n.337). “‘Making known, making clear to myself the beginning, middle and end of the whole body of breathings in...”’ (DA, transl. Soma Thera).

(641). Kāya-sankhāra. This calming process may lead to the development of jhāna, but this is not the primary object here.

(642). Internally means ‘one’s own body’ and externally means ‘someone else’s body’.

(643). Samudaya-dhammā. Samudaya is, perhaps significantly, the word used for the ‘origin’ of suffering in the Second Noble Truth. Awareness of how phenomena (body, etc.) come to be is meant. Ñāṇamoli has ‘contemplating the body in its arising factors’.

(644). Vaya-dhammā: cf. n.457. Ñāṇamoli has ‘contemplating the body in its vanishing factors’.

(645). Just holding the thought in mind without speculating, mind-wandering, etc.

(646). Sampajāna-kārī hoti: ‘Is acting in a clearly conscious way’ (Horner). RD’s rendering of ‘self-possession’ for sampajañña (adopted, even more ridiculously, for sati by Warder (n.629)) breaks down here.

(647). Paccavekkhati. The same verb-stem is used in paccavekkhaṇa-ñāṇa ‘reviewing-knowledge’: see n.213.

(648). These first five are given as a standard meditation for novices.

(649). With the addition of ‘brain’ these 32 parts of the body are included as a meditation-subject: cf. VM 8.42ff.

(650). Phaseolus mungo: sometimes sold in the West as ‘mung beans’.

(651). Cf. n.70.

(652). An unpleasant image, heightened for the modern reader when the hygienic aspect is considered! It shows that there were no ‘sacred cows’ in the Buddha’s day.

(653). ‘Cemetery’, favoured by some translators, conveys a totally false impression: it is a place of rotting corpses just thrown down — splendid for this kind of meditation!

(654). Cf. n.633, also, for repetition, n.631.

(655). Sukhaṁ vedanaṁ: this can be bodily or mental.

(656). Dukkhaṁ vedanaṁ: this too can be bodily or mental.

(657). Adukkhamasukhaṁ vedanaṁ: this is mental only. In all cases one is simply aware that a feeling is present.

(658). Sâmisaṁ sukham vedanaṁ. Sâmisa = sa-āmisa: lit. ‘with flesh’, thus approximating to the sense of ‘carnal’.

(659). Nirāmisaṁ sukhaṁ vedanaṁ: ‘non-carnal’ or ‘spiritual’ (a word Buddhists tend to avoid owing to possibly misleading connotations). In MN 137 sâmisa and nirāmisa are referred to the ‘household’ life and to that of renunciation respectively.

(660). He infers, or knows telepathically, the feelings of others, and then contemplates his own feelings and those of others alternately.

(661). Citta: also rendered ‘thought’ or ‘consciousness’. From what follows it is clear that various states of mind are meant. As with feelings, one is at this stage simply aware that certain states of mind are, or are not, present.

(662). Sankhittaṁ cittaṁ (from the verb sankhipati: cf. sankhittena ‘in brief’): a mind that is ‘contracted’ or ‘shrunken’ by sloth-and-torpor (verse 13) and the like.

(663). Vikhittaṁ cittaṁ: a mind distracted by worry-andflurry (verse 13).

(664). Mahaggataṁ: ‘grown great’ through the lower or higher jhānas.

(665). ‘Not grown great’, not developed by the jhānas.

(666). Sa-uttaraṁ: ‘having (other mental states) surpassing it’, is synonymous with the ‘undeveloped’ mind.

(667). An-uttaraṁ: ‘having no other states surpassing it’, might seem to refer to transcendental consciousness, but is referred by DA to mundane states, therefore in effect synonymous with the ‘developed’ mind. In view of the tautology involved in the last two cases, one might wonder whether the commentarial explanation is correct. But see n.670.

(668). Samāhitaṁ: having attained samādhi, i.e. jhānic absorption.

(669). Not having attained such absorption, thus as in nn.665 — 6.

(670). Vimuttaṁ. This is stated by DA to mean the mind that is temporarily ‘freed’ either by insight or by jhāna, which suppresses the defilements. Neither is, of course, true and permanent liberation. ‘There is no occasion here for the liberations by cutting-off, final stilling (paṭipassaddhi) and final escape (nissaraṇa)’: in other words, we are here dealing purely with the mundane world of the beginner in meditation.

(671). As in n.660.

(672). Dhammā (cf. n.635). The question is sometimes asked concerning the relation of the four foundations of mindfulness to the schema of the five aggregates (khandhas). The point is explained here by DA as follows: contemplation of body is concerned with the aggregate of materiality or form (rūpakkhandha); contemplation of feelings is concerned with the aggregate of feeling (vedanākkhandha); contemplation of mind is concerned with the aggregate of consciousness (viññāṇa-kkhandha); and contemplation of mind-objects concerns itself with the aggregates of perception and mental formations (saññā-, sankhāra-kkhandha).

(673). Kāma-cchanda. The terminology is different from the first statement in verse 12, which refers to a lustful mind (sarāgaṁ cittaṁ), but there is little difference in meaning. Both refer to sensual desire in general, including but by no means confined to sexual desire. It arises, according to DA, from wrong reflection on an object that is agreeable to the senses. In verse 12 the exercise was simply to note the presence of such a state of mind, if it was present. Here one goes further, and investigates how such a state arises, and how it can be got rid of, etc.

(674). DA lists six methods for getting rid of sensuality: (1) ‘Right reflection’ on an unpleasing (asubha) object; (2) Developing jhāna, whereby the hindrance is suppressed; (3) Guarding the senses; (4) Moderation in eating; (5) The support of ‘good friends’ (kalyāṇa-mittatā); (6) Helpful conversation (sappāyakathā).

(675). Vyāpādā.

(676). Thīna-midha. The principal cure for this is the ‘perception of light’.

(677). Uddhacca-kukkucca.

(678). Vicikicchā. This includes doubt of the Buddha, the Dhamma, the Sangha, and also inability to distinguish that which is good from that which is not, etc. (cf. DN 1.2.24), i.e. both scepsis and vacillation.

(679). The factors productive of the hindrances and of their disappearance. On these hindrances, see Nyāṇaponika Thera, The Five Mental Hindrances, Wheel Publ., BPS 1961.

(680). Pañc’upādāna-kkhandhā: ‘The 5 aspects in which the Buddha has summed up all the physical and mental phenomena of existence, and which appear to the ignorant man as his Ego, or personality, to wit: (1) the Corporeality group (rūpa-kkhandha) [here called ‘Form’], (2) the Feeling (vedanā), (3) the Perception (saññā), (4) the MentalFormation (sankhāra), (5) the Consciousness-group (viññāṇa-kkhandha)’ (BDic).

(681). Rūpa: cf. n.337. Briefly defined in SN 22.56 as ‘The four Great Elements [cf. n-70] and corporeality depending on them.’

(682). Saññā. Defined at SN 22.79 as ‘distinguishing a thing by its marks’.

(683). Sankhāra-kkhandha. The term sankhāra has various meanings and as many translations (cf. n-529). Here, it applies to the group of mental formations. Conventionally fifty in number, they embrace various factors including what we term the emotions (i.e. karmic reactions, wholesome or otherwise). The most important one is volition (cetanā), the basis of kamma.

(684). Viññāṇa: which is subdivided according to the six senses, mind being the sixth.

(685). For fuller details see BDic under āyatana. They consist, as appears from the following, of sense-base (e.g. eye, mind) and its object (sight-objects, mind-objects).

(686). Rūpe (acc. pl. of rūpa in this specific sense): ‘visible forms, sight-objects’.

(687). Ten fetters are listed, which differ slightly from those given in connection with attaining to Stream-Entry, etc., being found in the Abhidhamma. They are: Sensuality, resentment (paṭigha), pride (māna), (wrong) views (diṭṭhi), doubt (vicikicchā), desire for becoming (bhavarāga), attachment to rites and rituals (sīlabbata-parāmāsa), jealousy (issa), avarice (macchariya) and ignorance.

(688). Here ‘body’ is kāya in the specific sense of ‘bodyorgan’, i.e. the base of tactile contact. See BDic for further details.

(689). Described in detail at, e.g. MN 118.

(690). Dhamma-vicaya: sometimes taken to mean ‘investigation of the Doctrine’, but the meaning is rather ‘investigation of bodily and mental phenomena’.

(691). Viriya. This corresponds to Right Effort in the Noble Eightfold Path.

(692). Pīti: a term variously translated. See n.81.

(693). Passaddhi.

(694). Verses 18 — 21 are not in the parallel version at MN 10.

(695). Cf. n.680.

(696). Ayatanānaṁ paṭilābho. According to the formula of dependent origination, these six sense-bases arise dependent on mind-and-body.

(697). Domanassa. See n.627.

(698). Upāyāsa: usually translated ‘despair’, which does not at all agree with the definition given here or in PED. ‘Despair’ means giving up hope, which is not stated here.

(699). Vyādhi: omitted in most MSS from the definition at the beginning of this verse, though as disease is such an obvious cause of suffering and occurs in other contexts, the omission is probably accidental, perhaps reflecting a lapse in the tradition of the Digha reciters (bhāṇakas), such as is doubtless responsible for the omission of the six sensebases in DN 15. See n.323 there.

(700). Cf. n.680.

(701). Taṇhā.

(702). Ponobhavikā: lit. ‘causing again-becoming’.

(703). Vibhava-taṇhā. Vibhava means (1) ‘power, success, wealth’, and some translators have wrongly taken this meaning here; (2) ‘ceasing to become’ i.e. extinction. This is undoubtedly the meaning here. But the vibhava meant in this sense is not the higher ‘cessation’ of Nibbāna, but the materialists’ ‘extinction’ at death (cf. the Freudian ‘deathwish’).

(704). Cakkhu-samphassa: the making contact by the eye with its (sight-) object.

(705). Vitakka: cf. n.611.

(706). Vicāra: cf. n.611.

(707). Interestingly, it is left to the commentary to point out that the positive meaning of this is Nibbāna.

(708). Sammā-diṭṭhi. This, or ‘Right Seeing’ is the literal rendering (‘Right Vision’ would be an unwise rendering, because liable to be misleading!). Diṭṭhi here is a singular, and denotes ‘seeing things as they really are’, whereas ‘views’ in the plural are always wrong. It should be noted that when not prefixed with the word sammā, diṭṭhi means ‘speculative opinions’, and the like, which are not based on ‘seeing things as they really are’. The formal opposite of sammā-diṭṭhi is micchā-diṭṭhi, a term generally reserved for especially pernicious views (cf. n.245). Sammā-diṭṭhi and the rest are sometimes rendered ‘Perfect View’, and so on, but this only refers to the supramundane path as described in MN 117.

(709). Sammā-sankappa: variously rendered as ‘right aspiration, right motive’, etc.

---oOo---

 

Nguồn (Source):
Vietnamese:
khemarama.net
Pāḷi - English:
 digitalpalireader.online

Những tập kinh khác:

DN 1: Brahmajāla – Kinh Phạm Võng – The All-embracing Net of Views

DN 2: Sāmannaphala sutta – Kinh Sa Môn Quả – The Fruits of the Contemplative Life

DN 3: Ambaṭṭhasuttaṃ – Kinh Ambaṭṭha (A-Ma-Trú) – A Young Brahman’s Rudeness And An Old One’s Faith

DN 4: Soṇadaṇḍasuttaṃ – Kinh Chủng Đức – The Qualities Of The True Brahman

DN 5: Kūṭadantasuttaṃ – Kinh Cứu La Đàn Đầu – About Kūṭadanta – A Bloodless Sacrifice

DN 6: Mahālisuttaṃ – Kinh Mahāli – About Mahāli

DN 7: Jāliyasuttaṃ – Kinh Jāliya – About Jāliya

DN 8: Mahāsīhanādasuttaṃ – Kinh Ca-diếp Sư tử hống – The Great Lion’s Roar (The Lion’s Roar to Kassapa)

DN 9: Poṭṭhapādasuttaṃ – Kinh Bố-Sá-Bà-Lâu – About Poṭṭhapāda (States of Consciousness)

DN 10: Subhasuttaṃ – Kinh Tu Ba – About Subha (Morality, Concentration, Wisdom)

DN 11: Kevaṭṭasuttaṃ – Kinh Kiên Cố – About Kevaddha (What Brahma Didn’t Know)

DN 12: Lohiccasuttaṃ – Kinh Lô Hi Gia – About Lohicca (Good and Bad Teachers)

DN 13: Tevijjasuttaṃ – Kinh Tam Minh – The Threefold Knowledge (The Way to Brahmā)

DN 14: Mahāpadānasuttaṃ – Kinh Đại Bổn – The Great Discourse on the Lineage

DN 15: Mahānidānasuttaṃ – Kinh Đại Duyên – The Great Discourse on Origination

DN 16: Mahāparinibbānasuttaṃ – Kinh Đại Bát-Niết-Bàn – The Great Passing (The Buddha’s Last Days)

DN 17: Mahāsudassanasuttaṃ – Kinh Ðại Thiện Kiến Vương – The Great Splendour (A King’s Renunciation)

DN 18: Janavasabhasuttaṃ – Kinh Xà-ni-sa – About Janavasabha (Brahmā Addresses the Gods)

DN 19: Mahāgovindasuttaṃ – Kinh Ðại Ðiển Tôn – The Great Steward (A Past Life of Gotama)

DN 20: Mahāsamayasuttaṃ – Kinh Đại Hội – The Mighty Gathering (Devas Come to See the Buddha)

DN 21: Sakkapañhasuttaṃ – Kinh Đế-Thích Sở Vấn – Sakka’s Questions (A God Consults the Buddha)

DN 22: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ – Kinh Đại Niệm Xứ – The Greater Discourse on the Foundations of Mindfulness

DN 23: Pāyāsisuttaṃ – Kinh Kệ-Túc – About Pāyāsi (Debate with a Sceptic)

DN 24: Pāthikasuttaṃ – Kinh Ba-lê – About Pāṭikaputta (The Charlatan)

DN 25: Udumbarikasuttaṃ – Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử Hống – The Great Lion’s Roar to the Udumbarikans

DN 26: Cakkavattisuttaṃ – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư tử Hống – The Lion’s Roar on the Turning of the Wheel

DN 27: Aggaññasuttaṃ – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn – On Knowledge of Beginnings

DN 28: Sampasādanīyasuttaṃ – Kinh Tự Hoan Hỷ – Serene Faith

DN 29: Pāsādikasuttaṃ – Kinh Thanh Tịnh – The Delightful Discourse

DN 30: Lakkhaṇasuttaṃ – Kinh Tướng – The Marks of a Great Man

DN 31: Siṅgālasuttaṃ – Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt – To Sigālaka (Advice to Lay People)

DN 32: Āṭānāṭiyasuttaṃ – Kinh A-sá-nang-chi – The Āṭānātā Protective Verses

DN 33: Saṅgītisuttaṃ – Kinh Phúng Tụng – The Chanting Together

DN 34: Dasuttarasuttaṃ – Kinh Thập Thượng – Expanding Decades

Những bộ Kinh khác :