DN 20: Mahāsamayasuttaṃ – Kinh Đại Hội – The Mighty Gathering (Devas Come to See the Buddha)

Wednesday December 13, 2023

 

 

MAHĀSAMAYASUTTAṂ

KINH ĐẠI HỘI

(Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu)

THE MIGHTY GATHERING (DEVAS COME TO SEE THE BUDDHA)

(English Translation from Pāli: Maurice Walshe)

[unnamed] (DN 20)    
♦ 331. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṃ mahāvane mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi sabbeheva arahantehi; dasahi ca lokadhātūhi devatā yebhuyyena sannipatitā honti bhagavantaṃ dassanāya bhikkhusaṅghañca. atha kho catunnaṃ suddhāvāsakāyikānaṃ devatānaṃ {devānaṃ (sī. syā. pī.)} etadahosi — “ayaṃ kho bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṃ mahāvane mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi sabbeheva arahantehi; dasahi ca lokadhātūhi devatā yebhuyyena sannipatitā honti bhagavantaṃ dassanāya bhikkhusaṅghañca. yaṃnūna mayampi yena bhagavā tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā bhagavato santike paccekaṃ gāthaṃ {paccekagāthaṃ (sī. syā. pī.), paccekagāthā (ka. sī.)} bhāseyyāmā”ti.

1. Như vậy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú tại bộ lạc Sakka (Thích-ca), thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở Ðại Lâm (Mahàvana), cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế giới phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.

2. Lúc bấy giờ, bốn vị Tịnh Cư thiên (Suddhàvàsa) suy nghĩ như sau: "Thế Tôn nay trú tại bộ lạc Sakka, thành Kapilavatthu, ở Ðại Lâm, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều là bậc A-la-hán.

Và chư Thiên ở mười phương thế giới phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo. Vậy chúng ta hãy đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong mỗi chúng ta sẽ đọc một bài kệ dâng lên Thế Tôn".

[253] 1. THUS HAVE I HEARD. (564) Once the Lord was staying among the Sakyans in the Great Forest at Kapilavatthu, with a large company of some five hundred monks, all Arahants.

And devas from ten world-systems (565) frequently came there to visit the Lord and his order of monks.

2. And it occurred to four devas of the Pure Abodes: (566) ‘The Blessed Lord is staying at Kapilavatthu, with a large company of some five hundred monks, all Arahants. What if we were to approach him, and each recite a verse?’

♦ 332. atha kho tā devatā seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, evameva suddhāvāsesu devesu antarahitā bhagavato purato pāturahesuṃ. atha kho tā devatā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. ekamantaṃ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi —

3. Rồi chư Thiên ấy, nhanh như nhà lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co cánh tay duỗi ra, biến mất từ Tịnh Cư thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn. Chư Thiên ấy đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, một vị Thiên đọc bài kệ trước Thế Tôn:

3. Then those devas, as swiftly as a strong man might stretch his flexed arm, or flex it again, [254] vanished from the Pure Abodes and appeared before the Lord. Then they saluted him and stood to one side, and one of them recited this verse:

♦ “mahāsamayo pavanasmiṃ, devakāyā samāgatā.

♦ āgatamha imaṃ dhammasamayaṃ, dakkhitāye aparājitasaṅghan”ti.

♦ atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi —

♦ “tatra bhikkhavo samādahaṃsu, cittamattano ujukaṃ akaṃsu {ujukamakaṃsu (sī. syā. pī.)}.

♦ sārathīva nettāni gahetvā, indriyāni rakkhanti paṇḍitā”ti.

♦ atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi —

♦ “chetvā khīlaṃ chetvā palighaṃ, indakhīlaṃ ūhacca {uhacca (ka.)} manejā.

♦ te caranti suddhā vimalā, cakkhumatā sudantā susunāgā”ti.

♦ atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi —

♦ “yekeci buddhaṃ saraṇaṃ gatāse, na te gamissanti apāyabhūmiṃ.

♦ pahāya mānusaṃ dehaṃ, devakāyaṃ paripūressantī”ti.

Ðại hội tại Ðại Lâm
Chư Thiên đồng tụ tập.
Chúng con đến Pháp hội
Ðảnh lễ chúng Bất Thắng.

Rồi một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:

Tại đây chúng Tỷ-kheo
Thiền định, tâm chánh trực.
Như chủ xe nắm cương,
Bậc trí hộ các căn.

Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:

Như khóa gãy, chốt tháo,
Cửa trụ bị đào lên.
Sống thanh tịnh, có mắt
Như voi khéo điều phục.

Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:

Những ai quy y Phật,
Sẽ không đọa ác thú,
Sau khi bỏ thân người,
Sẽ sanh làm chư Thiên.

‘Great the assembly in the forest here, the devas have met

And we are here to see the unconquered brotherhood.’

Another said:

‘The monks with concentrated minds are straight:

They guard their senses as the driver does his reins.’

Another said:

‘Bars and barriers broken, the threshold-stone of lust torn up,

Unstained the spotless seers go, like well-trained elephants.’ [255]

And another said:

‘Who takes refuge in the Buddha, no downward path will go:

Having left the body he’ll join the deva hosts.’

devatāsannipātā (DN 20)    
♦ 333. atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi — “yebhuyyena, bhikkhave, dasasu lokadhātūsu devatā sannipatitā honti {( ) sī. ipotthakesu natthi}, tathāgataṃ dassanāya bhikkhusaṅghañca . yepi te, bhikkhave, ahesuṃ atītamaddhānaṃ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṃ etaṃparamāyeva {etaparamāyeva (sī. syā. pī.)} devatā sannipatitā ahesuṃ seyyathāpi mayhaṃ etarahi. yepi te, bhikkhave, bhavissanti anāgatamaddhānaṃ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṃ etaṃparamāyeva devatā sannipatitā bhavissanti seyyathāpi mayhaṃ etarahi. ācikkhissāmi, bhikkhave, devakāyānaṃ nāmāni; kittayissāmi, bhikkhave, devakāyānaṃ nāmāni; desessāmi, bhikkhave, devakāyānaṃ nāmāni. taṃ suṇātha, sādhukaṃ manasikarotha, bhāsissāmī”ti. “evaṃ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ.

4. Rồi Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, phần lớn chư Thiên mười phương thế giới tụ họp để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, những vị nào trong thời quá khứ đã là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những vị này được một Thiên chúng tối thắng tụ hội xung quanh, như Ta hiện nay vậy. Này các Tỷ-kheo, những vị nào trong thời vị lai sẽ là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những vị này cũng sẽ được một Thiên chúng tối thắng tụ hội xung quanh, như Ta hiện nay vậy.

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ tuyên bố danh tánh của chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ cáo tri danh tánh của chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng danh tánh của chư Thiên. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn! - Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn.

4. Then the Lord said to his monks:

‘Monks, it has often happened that the devas from ten world-systems have come to see the Tathāgata and his order of monks.

So it has been with the supreme Buddhas of the past, and so it will be with those of the future, as it is with me now.

I will detail for you the names of the groups of devas, announce them and teach them to you. Pay close attention, and I will speak.’

‘Yes, Lord’, said the monks,

♦ 334. bhagavā etadavoca —

♦ “silokamanukassāmi, yattha bhummā tadassitā.

♦ ye sitā girigabbharaṃ, pahitattā samāhitā.

♦ “puthūsīhāva sallīnā, lomahaṃsābhisambhuno.

♦ odātamanasā suddhā, vippasannamanāvilā” {vippasannāmanāvilā (pī. ka.)}.

♦ bhiyyo pañcasate ñatvā, vane kāpilavatthave.

♦ tato āmantayī satthā, sāvake sāsane rate.

♦ “devakāyā abhikkantā, te vijānātha bhikkhavo”.

♦ te ca ātappamakaruṃ, sutvā buddhassa sāsanaṃ.

♦ tesaṃ pāturahu ñāṇaṃ, amanussānadassanaṃ.

♦ appeke satamaddakkhuṃ, sahassaṃ atha sattariṃ.

♦ sataṃ eke sahassānaṃ, amanussānamaddasuṃ.

♦ appekenantamaddakkhuṃ, disā sabbā phuṭā ahuṃ.

♦ tañca sabbaṃ abhiññāya, vavatthitvāna {vavakkhitvāna (sī. syā. pī.), avekkhitvāna (ṭīkā)} cakkhumā.

♦ tato āmantayī satthā, sāvake sāsane rate.

♦ “devakāyā abhikkantā, te vijānātha bhikkhavo.

♦ ye vohaṃ kittayissāmi, girāhi anupubbaso.

5. Thế Tôn giảng như sau:

Bài kệ Ta sẽ giảng
Chư Thiên trú Thiên giới,
Những vị trú hang núi,
Tâm tịnh, an thiền định.

Như sư tử, tuy nằm
Làm hoảng sợ quần sanh,
Tâm tư thuần tịnh bạch,
Trong sáng, không cấu uế.

Biết hơn năm trăm vị,
Họp tại Ca-tỳ-la
Bậc Ðạo Sư thuyết giảng
Chúng đệ tử thích nghe:

"Các Tỷ-kheo, hãy xem
Chư Thiên chúng đến gần".
Nghe lời dạy đức Phật
Ðại chúng nhiệt tình xem.

6.

Và hiện ra trước chúng
Thấy rõ hàng phi nhân
Kẻ thấy trăm thiên thần,
Ngàn thần, và hơn nữa.

Kẻ thấy bảy mươi ngàn
Toàn các bậc phi nhân.
Kẻ thấy vô lượng vị,
Cùng khắp mọi phương hướng.

Với pháp nhãn thấy rõ
Và phân biệt tất cả
Bậc Ðạo Sư thuyết giảng,
Chúng đệ tử thích nghe:

"Các Tỷ-kheo hãy xem,
Chư Thiên chúng đến gần".
Ta sẽ theo thứ lớp
Thuyết kệ cho người nghe.

and the Lord said:

5. ‘I’ll tell you them in verse: to which realm each belongs.

But those who dwell composed and resolute

Like lions in mountain-caves, have overcome

Hair-raising fear and dread, their minds

White and pure, unstained and calm.’ (567) [256]

In Kapilavatthu’s wood the Lord perceived

Five hundred of his Arahants and more,

Lovers of his word. To them he said:

‘Monks, observe the deva-host approach!’

And the monks strove eagerly to see.

6. With superhuman vision thus arising,

Some saw a hundred gods, a thousand some.

While some saw seventy thousand, others saw

Gods innumerable, all around.

And He-Who-Knows-with-Insight was aware

Of all that they could see and understand.

And to the lovers of his word the Lord,

Turning said: ‘The deva-hosts approach.

Look and seek to know them, monks, in turn,

As I declare their names to you in verse!’ (568)

♦ 335.“sattasahassā te yakkhā, bhummā kāpilavatthavā.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “chasahassā hemavatā, yakkhā nānattavaṇṇino.

♦ iddhimanto jutīmanto {jutīmanto (sī. pī.)}, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “sātāgirā tisahassā, yakkhā nānattavaṇṇino.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “iccete soḷasasahassā, yakkhā nānattavaṇṇino.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “vessāmittā pañcasatā, yakkhā nānattavaṇṇino.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “kumbhīro rājagahiko, vepullassa nivesanaṃ.

♦ bhiyyo naṃ satasahassaṃ, yakkhānaṃ payirupāsati.

♦ kumbhīro rājagahiko, sopāgā samitiṃ vanaṃ.

7.

Bảy ngàn loại Dạ-xoa
Trú tại Ca-tỳ-la,
Có thần lực hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,

Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
Sáu ngàn từ Tuyết Sơn
Dạ-xoa đủ sắc mặt

Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo

Ba ngàn từ Sàtà,
Dạ-xoa đủ sắc mặt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,

Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

Như vậy mười sáu ngàn
Dạ-xoa đủ sắc mặt,

Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

8.

Năm trăm từ Vessà
Dạ-xoa đủ sắc mặt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,

Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
Kumbhira, Vương Xá,
Trú tại Vepulla,

Hơn trăm ngàn Dạ-xoa,
Hầu hạ vây xung quanh.
Kumbhira, Vương Xá
Cũng đến họp rừng này.

7. ‘Seven thousand yakkhas of Kapila’s realm,

Well-endowed with power and mighty skills,

Fair to see, with splendid train have come

Rejoicing to this wood to see such monks.

And six thousand yakkhas from Himālaya,

Of varied hue, and well-endowed with powers,

Fair to see, with splendid train have come

Rejoicing to this wood to see such monks.

From Sāta’s Mount three thousand yakkhas more

Of varied hue...

The sum is sixteen thousand yakkhas all,

Of varied hue... [257]

8. Of Vessāmitta’s host five hundred more

Of varied hue...

Kumbhira too from Rājagaha comes

(Whose dwelling-place is on Vepulla’s slopes):

A hundred thousand yakkhas follow him.

♦ 336.“purimañca disaṃ rājā, dhataraṭṭho pasāsati.

♦ gandhabbānaṃ adhipati, mahārājā yasassiso.

♦ “puttāpi tassa bahavo, indanāmā mahabbalā.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “dakkhiṇañca disaṃ rājā, virūḷho taṃ pasāsati {tappasāsati (syā.)}.

♦ kumbhaṇḍānaṃ adhipati, mahārājā yasassiso.

♦ “puttāpi tassa bahavo, indanāmā mahabbalā.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “pacchimañca disaṃ rājā, virūpakkho pasāsati.

♦ nāgānañca adhipati, mahārājā yasassiso.

♦ “puttāpi tassa bahavo, indanāmā mahabbalā.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “uttarañca disaṃ rājā, kuvero taṃ pasāsati.

♦ yakkhānañca adhipati, mahārājā yasassiso.

♦ “puttāpi tassa bahavo, indanāmā mahabbalā.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “purimaṃ disaṃ dhataraṭṭho, dakkhiṇena virūḷhako.

♦ pacchimena virūpakkho, kuvero uttaraṃ disaṃ.

♦ “cattāro te mahārājā, samantā caturo disā.

♦ daddallamānā {daddaḷhamānā (ka.)} aṭṭhaṃsu, vane kāpilavatthave.

9.

Vua Dhatarattha (Trì Quốc Thiên vương)
Trị vì tại phương Ðông,
Chúa tể Càn-thát-bà
Bậc đại vương danh tiếng.

Vị này có nhiều con,
Ðại lực, tên Indra
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

Quốc vương Virùlha (Tăng Trưởng Thiên vương).
Trị vì tại phương Nam,
Chúa tể Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)
Bậc đại vương danh tiếng,
Vị này có nhiều con,
Ðại lực, tên Indra
Có thần lực, hào quang.
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

Vua Virùpakkha, (Quảng Mục Thiên vương)
Trị vì tại phương Tây,
Chúa tể loài Nàgà
Bậc đại vương danh tiếng.
Vị này có nhiều con
Ðại lực, tên Indra,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

Quốc vương Kuvera, (Ða Văn Thiên vương)
Trị vì tại phương Bắc,
Chúa tể, loài Dạ-xoa,
Bậc đại vương, danh tiếng.
Vị này có nhiều con,
Ðại lực, tên Indra,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

Trì Quốc vương, phương Ðông
Tăng Trưởng vương, phương Nam
Quảng Mục vương, phương Tây,
Ða Văn vương, phương Bắc,
Bốn bậc đại vương này,
Khắp cả bốn phương trời,
Cùng đứng, chói hào quang,
Khắp rừng Ca-tỳ-la.

9. King Dhatarattha, (569) ruler of the East,

The gandhabbas’ Lord, a mighty king,

Has come with retinue. Many sons

Are his, who all bear Indra’s name,

All well-endowed with mighty skills...

King Virūḷha, ruler of the South,

The Kumbaṇḍhas’ lord, a mighty king...

Virūpakkha, ruler of the West,

Lord of nāgas and a mighty king...

King Kuvera, ruler of the North,

Lord of yakkhas and a mighty king... [258]

From the East King Dhatarattha shone,

From South Virūḷhaka, and from the West

Virūpakkha, Kuvera from the North:

Thus ranged in Kapilavatthu’s wood

The Four Great Kings in all their splendour stood.’

♦ 337.“tesaṃ māyāvino dāsā, āguṃ {āgū (syā.), āgu (sī. pī.) evamuparipi} vañcanikā saṭhā.

♦ māyā kuṭeṇḍu viṭeṇḍu {veṭeṇḍu (sī. syā. pī.)}, viṭucca {viṭū ca (syā.)} viṭuṭo saha.

♦ “candano kāmaseṭṭho ca, kinnighaṇḍu {kinnughaṇḍu (sī. syā. pī.)} nighaṇḍu ca.

♦ panādo opamañño ca, devasūto ca mātali.

♦ “cittaseno ca gandhabbo, naḷorājā janesabho {janosabho (syā.)}.

♦ āgā pañcasikho ceva, timbarū sūriyavaccasā {suriyavaccasā (sī. pī.)}.

♦ “ete caññe ca rājāno, gandhabbā saha rājubhi.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

10.

Cũng đến các bộ hạ,
Giả dối và xảo quyệt,
Màyà, Kutendu, Vetandu, Vitu,
Vituca, Candana, Kàmasettha,
Kinnughandu,
Nighandu chín vị đến.
Panàda, Opamanna, Màtdi,
(người đánh xe chư Thiên).
Càn-thát-bà Cittasena;
Vua Nala, Janesabha
Pancasikha, Timbarù,
Suriyavaccasà cũng đến.
Như vậy cả vua chúa,
Cùng với Càn-thát-bà,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo!

10. With them came their vassals versed in guile,

Skilled deceivers all: Kutendu first,

Then Vetendu, Vitu and Vitucca,

Candana and Kāmaseṭṭha next,

Kinnughandu and Nighaṇḍu, these,

Panāda, Opamañña, Mātali

(Who was the devas’ charioteer), Nala,

Cittasena of the gandhabbas,

Rājā, Janesabha, Pañcasikha,

Timbarū with Suriyavaccasā

His daughter — these, and more, rejoicing came

To that wood to see the Buddha’s monks.

♦ 338.“athāguṃ nāgasā nāgā, vesālā sahatacchakā.

♦ kambalassatarā āguṃ, pāyāgā saha ñātibhi.

♦ “yāmunā dhataraṭṭhā ca, āgū nāgā yasassino.

♦ erāvaṇo mahānāgo, sopāgā samitiṃ vanaṃ.

♦ “ye nāgarāje sahasā haranti, dibbā dijā pakkhi visuddhacakkhū.

♦ vehāyasā {vehāsayā (sī. pī.)} te vanamajjhapattā, citrā supaṇṇā iti tesa nāmaṃ.

♦ “abhayaṃ tadā nāgarājānamāsi, supaṇṇato khemamakāsi buddho.

♦ saṇhāhi vācāhi upavhayantā, nāgā supaṇṇā saraṇamakaṃsu buddhaṃ.

11.

Từ Nàbhasa, Vesàli, Tacchakà,
Các Nàgà cũng đến.
Kambala, Assatara, Pàyàgà,
Cũng đến với quyến thuộc.
Các Nàgà có danh tiếng,
Dhatarattha và Yàmunà cũng đến.
Eravana, Long vương,
Cũng đến tại ngôi rừng.
Những thiên điểu nhị sanh,
Với cặp mắt thanh tịnh,
Mãnh liệt chống Long vương,
Nay bay đến ngôi rừng.
Tên chúng là Citrà,
Và tên Supannà.
Long vương không sợ hãi,
Nhờ ơn Phật an toàn
Với những lời nhẹ nhàng,
Chúng tự khuyên bảo nhau,
Nàgà, Supannà (Kim Sí điểu)
Ðều đến quy y Phật.

11. From Nabhasa, Vesāli, Tacchaka

Came Nāgas, Kambalas, Assataras,

Payāgas with their kin. From Yamunā

Dhatarattha came with splendid host,

Erāvana too, the mighty nāga chief (570)

To the forest meeting-place has come.

And the twice-born, (571) winged and clear of sight,

Fierce garuda birds (the nāgas’ foes) have come [259]

Flying here — Citra and Supaṇṇā.

But here the nāga kings are safe: the Lord

Has imposed a truce. With gentle speech

They and the nāgas share the Buddha’s peace.

♦ 339.“jitā vajirahatthena, samuddaṃ asurāsitā.

♦ bhātaro vāsavassete, iddhimanto yasassino.

♦ “kālakañcā mahābhismā {kālakañjā mahābhiṃsā (sī. pī.)}, asurā dānaveghasā.

♦ vepacitti sucitti ca, pahārādo namucī saha.

♦ “satañca baliputtānaṃ, sabbe verocanāmakā.

♦ sannayhitvā balisenaṃ {balīsenaṃ (syā.)}, rāhubhaddamupāgamuṃ.

♦ samayodāni bhaddante, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

12.

Asura ở biển,
Bị sét Kim Cang thủ,
Anh của Vàsava,
Có thần lực danh xưng.
Kàlakanjà, dị hình, (Tu-la)
Dànaveghasà, Vepacitti
Cùng với Sucitti,
Với Pahàràda, ác quỷ Namucì.
Cùng con của Bali,
Ðặt tên Veroca.
Huy động toàn quân lực,
Dâng cho vị thủ lãnh.
Ràhu nói: "Mong thay
Pháp hội được an toàn.
Phó hội chúng Tỷ-kheo
Ðều đến tại rừng này".

12. Asuras too, whom Indra’s hand (572) once struck,

Ocean-dwellers now, in magic skilled,

Vāsava’s replendent brothers came,

The Kālakañjas, terrible to see,

Dānaveghasas, Vepacitti,

Sucitti and Pahārādha too,

Fell Namuci, and Bali’s hundred sons

(Who all were called Veroca) with a band

Of warriors who joined their master Rāhu,

Who had come to wish their meeting well.

♦ 340.“āpo ca devā pathavī, tejo vāyo tadāgamuṃ.

♦ varuṇā vāraṇā {vāruṇā (syā.)} devā, somo ca yasasā saha.

♦ “mettā karuṇā kāyikā, āguṃ devā yasassino.

♦ dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.

♦ “iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “veṇḍudevā sahali ca {veṇhūca devā sahalīca (sī. pī.)}, asamā ca duve yamā.

♦ candassūpanisā devā, candamāguṃ purakkhatvā.

♦ “sūriyassūpanisā {suriyassūpanisā (sī. syā. pī.)} devā, sūriyamāguṃ purakkhatvā.

♦ nakkhattāni purakkhatvā, āguṃ mandavalāhakā.

♦ “vasūnaṃ vāsavo seṭṭho, sakkopāgā purindado.

♦ dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.

♦ “iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “athāguṃ sahabhū devā, jalamaggisikhāriva.

♦ ariṭṭhakā ca rojā ca, umāpupphanibhāsino.

♦ “varuṇā sahadhammā ca, accutā ca anejakā.

♦ sūleyyarucirā āguṃ, āguṃ vāsavanesino.

♦ dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.

♦ “iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “samānā mahāsamanā, mānusā mānusuttamā.

♦ khiḍḍāpadosikā āguṃ, āguṃ manopadosikā.

♦ “athāguṃ harayo devā, ye ca lohitavāsino.

♦ pāragā mahāpāragā, āguṃ devā yasassino.

♦ dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.

♦ “iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “sukkā karambhā {karumhā (sī. syā. pī.)} aruṇā, āguṃ veghanasā saha.

♦ odātagayhā pāmokkhā, āguṃ devā vicakkhaṇā.

♦ “sadāmattā hāragajā, missakā ca yasassino.

♦ thanayaṃ āga pajjunno, yo disā abhivassati.

♦ “dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “khemiyā tusitā yāmā, kaṭṭhakā ca yasassino.

♦ lambītakā lāmaseṭṭhā, jotināmā ca āsavā.

♦ nimmānaratino āguṃ, athāguṃ paranimmitā.

♦ “dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.

♦ iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino.

♦ modamānā abhikkāmuṃ, bhikkhūnaṃ samitiṃ vanaṃ.

♦ “saṭṭhete devanikāyā, sabbe nānattavaṇṇino.

♦ nāmanvayena āgacchuṃ {āgañchuṃ (sī. syā. pī.)}, ye caññe sadisā saha.

♦ “‘pavuṭṭhajātimakhilaṃ {pavutthajātiṃ akhilaṃ (sī. pī.)}, oghatiṇṇamanāsavaṃ.

♦ dakkhemoghataraṃ nāgaṃ, candaṃva asitātigaṃ’.

13.

Thần nước, đất, lửa, gió,
Cũng đến Varunà,
Với thủy tộc, Soma,
Cả Yasa cũng đến.
Chư Thiên Từ Bi sanh
Có danh xưng cũng đến
Mười vị thiên tộc này
Dung mạo thật dị biệt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

14.

Venhù, Sahali,
Asamà, Yamà,
Chư Thiên thuộc Nguyệt tộc,
Vị thủ lãnh cũng đến.
Chư Thiên thuộc Nhật tộc
Vân thần tên Manda,
Quần tinh vị thủ lãnh
Vàsava, Vasù
Thần Sakka cũng đến.
Mười vị Thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng.
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

15.

Sahavhù cũng đến,
Với đầu lửa đỏ rực,
Aritthakà, Rojà,
Như bông hoa Ummà
Varunà, Sahadhammà,
Accutà, Anejakà
Sùleyya-rucirà,
Vàsavanesi cũng đến.
Mười vị Thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

16.

Samànà, Mahàsamànà,
Mànusà, Mànusuttamà,
Khiddà-padùsikà, Mano-padùsikà
Harayo, Lohita-vàsino,
Pàragà, Mahà-Pàragà
Có danh xưng cũng đến.
Mười vị Thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

17.

Sukkà, Karumhà,
Arunà, Veghanasà
Odàta-gayhà,
Vicakkhanà cũng đến,
Sadàmattà, Hàragaja,
Missakà có danh xưng cũng đến.
Pajjunna thần sét,
Làm mưa khắp mọi phương.
Mười vị Thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt,
Có thần lực hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

18.

Khemiyà, Tusità, Yamà,
Danh xưng Katthakà, Lambitakà,
Thủ lãnh các Làmà,
Jotinàmà, Asava,
Tha Hóa Tự Tại thiên,
Hóa Lạc thiên cũng đến.
Mười vị thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.

19.

Sáu mươi Thiên chúng này,
Với diện mạo dị biệt,
Theo danh tộc chúng đến,
Cũng nhiều vị khác nữa.
Nói rằng: "Sanh đã tận,
Then cài không còn nữa.
Bộc lưu đã vượt qua,
Ðã thành bậc Vô Lậu.
Chúng con thấy vị ấy,
Như voi vượt bộc lưu,
Như trăng thoát mây tối".

13. Gods of water, earth, and fire, and wind,

The Varunas and their retainers. Soma

And Yasa too. Devas born of love

And compassion, with a splendid train,

These ten, with tenfold varied hosts,

Endowed with mighty powers, and fair to see,

Rejoicing came to see the Buddha’s monks.

14. Veṇhu (573) too with his Sahalis came,

The Asamas, the Yama twins, and those

Devas who attend on moon and sun,

Constellation-gods, sprites of clouds, [260]

Sakka the Vasus’ lord, ancient giver, (574)

These ten, with tenfold varied hosts...

15. The Sahabhus, radiant, bright, came next,

Fiery-crested. The Aritthakas,

The Rojas, cornflower-blue, with Varuṇā

And Sahadhamma, Accuta, Anejaka,

Sūleyya, Rucira, the Vasavanesis,

These ten, with tenfold varied hosts...

16. The Samanas and Mahā-Samānas both,

Beings manlike and more than manlike came,

The ‘Pleasure-corrupted’ and ‘Mind-corrupted’ gods, (575)

Green devas, and the red ones too,

Paragas, Mahā-Pāragas with train,

These ten, with tenfold varied hosts...

17. Sukkas, Karumhas, Arunas, Veghanasas,

Follow in the Odatagayhas’ wake.

Vicakkhanas, Sadamattas, Haragajas,

Those gods called ‘Mixed in Splendour’, and Pajunna

The Thunderer, who also causes rain,

These ten, with tenfold varied hosts... [261]

18. The Khemiyas, the Tusitas and Yamas,

The Katthakas with train, Lambitakas,

The Lama chiefs, and the gods of flame

(The Asavas), those who delight in shapes

They’ve made, and those who seize on others’ work, (576)

These ten, with tenfold varied hosts...

19. These sixty deva-hosts, of varied kinds,

All came arranged in order of their groups,

And others too, in due array. They said:

‘He who’s transcended birth, he for whom

No obstacle remains, who’s crossed the flood,

Him, cankerless, we’ll see, the Mighty One,

Traversing free without transgression, as

It were the moon that passes through the clouds.’ 

♦ 341.“subrahmā paramatto ca {paramattho ca (ka.)}, puttā iddhimato saha.

♦ sanaṅkumāro tisso ca, sopāga samitiṃ vanaṃ.

♦ “sahassaṃ brahmalokānaṃ, mahābrahmābhitiṭṭhati.

♦ upapanno jutimanto, bhismākāyo yasassiso.

♦ “dasettha issarā āguṃ, paccekavasavattino.

♦ tesañca majjhato āga, hārito parivārito.

20.

Subrahmà, Paramatta,
Con các vị thần lực,
Sanamkumàra Tissa,
Ðến hội tại ngôi rừng.
Ðại Phạm thiên, chúa tể,
Ngự trị ngàn Phạm giới,
Thác sanh có hào quang,
Dị hình có danh xưng,
Mười đấng Tự Tại đến,
Ngự trị mỗi mỗi cõi,
Giữa vị này Hàrita,
Cũng đến với đồ chúng.

20. Subrahma next, and with him Paramatta,

Sanankumara, Tissa, who were sons

Of the Mighty One, these also came.

Mahā-Brahmā, who ruled a thousand worlds,

In the Brahmā-world supreme, arisen there,

Shining bright, and terrible to see,

With all his train. Ten lords of his who each

Rule a Brahmā-world, and in their midst

Harita, who ruled a hundred thousand.

♦ 342.“te ca sabbe abhikkante, sainde {sinde (syā.)} deve sabrahmake.

♦ mārasenā abhikkāmi, passa kaṇhassa mandiyaṃ.

♦ “‘etha gaṇhatha bandhatha, rāgena baddhamatthu vo.

♦ samantā parivāretha, mā vo muñcittha koci naṃ’.

♦ “iti tattha mahāseno, kaṇho senaṃ apesayi.

♦ pāṇinā talamāhacca, saraṃ katvāna bheravaṃ.

♦ “yathā pāvussako megho, thanayanto savijjuko. +

♦ tadā so paccudāvatti, saṅkuddho asayaṃvase {asayaṃvasī (sī. pī.)}.

21.

Tất cả đều cùng đến,
Với Indra, Phạm thiên,
Ma quân cũng tiến đến,
Xem Hắc quỷ ngu si.
"Hãy đến và bắt trói,
Những ai bị tham triền,
Hãy bao vây bốn phía,
Chớ để ai thoát ly!"
Như vậy Ðại Tướng quân,
Truyền lệnh đoàn Hắc quỷ,
Với bàn tay vỗ đất,
Tiếng dội vang khiếp đảm.
Như trong cơn giông tố,
Sấm chớp và mưa rào,
Nó liền thối quân lui,
Phẫn nộ nhưng bất lực.

21. And when all these had come in vast array,

With Indra and the hosts of Brahma too,

Then too came Mara’s hosts, and now observe

That Black One’s folly. (577) [262] For he said:

‘Come on, seize and bind them all! With lust

We’ll catch them all! Surround them all about,

Let none escape, whoever he may be!’

Thus the war-lord urged his murky troops.

With his palm he struck the ground, and made

A horrid din, as when a storm-cloud bursts

With thunder, lightning and with heavy rain—

And then— shrank back, enraged, but powerless!

♦ 343. tañca sabbaṃ abhiññāya, vavatthitvāna cakkhumā.

♦ tato āmantayī satthā, sāvake sāsane rate.

♦ “mārasenā abhikkantā, te vijānātha bhikkhavo.

♦ te ca ātappamakaruṃ, sutvā buddhassa sāsanaṃ.

♦ vītarāgehi pakkāmuṃ, nesaṃ lomāpi iñjayuṃ.

♦ “‘sabbe vijitasaṅgāmā, bhayātītā yasassino.

♦ modanti saha bhūtehi, sāvakā te janesutā”ti.

mahāsamayasuttaṃ niṭṭhitaṃ sattamaṃ.

22.

Với pháp nhãn thấy rõ,
Và phân biệt tất cả,
Bậc Ðạo Sư thuyết giảng,
Chúng đệ tử thích nghe:
"Ma quân đã tiến đến;
Tỷ-kheo hãy biết chúng".
Nghe lời dạy đức Phật,
Ðại chúng tâm nhiệt tình.
Kẻ thù đã bỏ đi,
Xa vô tham, vô úy.
Tất cả đều chiến thắng,
Vô úy và vô xưng!
Ðệ tử những vị này,
Danh xưng, tâm hoan hỷ.

22. And He-Who-Knows-by-Insight saw all this

And grasped its meaning. To his monks he said:

‘The hosts of Mara come, monks — pay good heed!’

They heard the Buddha’s words, and stayed alert.

And Mara’s hosts drew back from those on whom

Neither lust nor fear could gain a hold.

‘Victorious, transcending fear, they’ve won:

His followers rejoice with all the world!′ (578)

 

Notes: The numbers in square brackets [ ] in the actual text refer to the page number of the Dīgha Nikāya of the Pali Text Society's edition in Pali.

 

(564). This is another curious document, doubtless an example of what RD calls ‘a mnemonic doggrel as was found useful in other cases also by the early Buddhists, who had no books, and were compelled to carry their dictionaries and works of reference in their heads.’ A Sanskrit version from Central Asia has been published, with English translation, by E. Waldschmidt in LEBT, pp. 149-162, and there are also Chinese and Tibetan versions, all of which are quite close to the Pali in general. RD considers the poem (if such we can call it) ‘almost unreadable now’, because ‘the long list of strange names awakes no interest.’ That was in 1910. Possibly modern readers who know their Tolkien may think otherwise. At any rate I have not felt it necessary to try to follow up all the allusions, some of which remain obscure or dubious.

(565). RD has, wrongly, ‘ten thousand world-systems’. The Sanskrit confirms the lower figure.

(566). The realm where Non-Returners dwell before gaining final Nibbana. The Sanskrit has deities (devatā - rendered ʹgoddessesʹ(!) by Waldschmidt) from the Brahma world.

(567). As RD remarks, ‘the connexion of the various clauses of this stanza is obscure’. It is not clear where the Buddha’s actual words are supposed to begin. The verse seems to have been badly joined to the introductory section.

(568). Here begins the mnemonic ʹdoggrelʹ.

(569). The name is the same as that of the ironically-named King Dhṛtarāṣṭra ‘whose empire is firm’ in the Mahābhārata. In verse 11 another Dhatarattha, a Naga king, is mentioned, and the name also occurs elsewhere. Cf. DN 19.1.36.

(570). Indra’s three-headed elephant. The nagas were both snakes and elephants.

(571). Birds, like Brahmins, are ‘twice-born’ - first laid as eggs, then hatched!

(572). Cf. DN n.512. Indra, the champion of the gods, had defeated them.

(573). This is the Pali form of Visnu, and the Sanskrit text has indeed Visnu here, though that great god came into his own only after the Buddha’s time.

(574). Purindada: ‘the generous giver in former births’ (RD), deliberately altered from Purandara (which the Sanskrit version has!) ‘destroyer of cities’. RD thinks the change was made to distinguish Sakka from the Vedic god, but perhaps it is rather a change to make him more Buddhistically ‘respectable’.

(575). See DN 1.2.7ff.

(576). The Nimmanarati and Paranimmita devas: see Introduction, p. 42.

(577). Kaṇha: ‘black’, but not connected with the Kanha mentioned in DN 3.1.23.

(578). RD says: ‘We have followed the traditional interpretation in ascribing these last four lines to Mara. They may quite as well, or better, be a statement by the author himself.’ I have had the courage of his convictions, and made it so.

 

---oOo---

 

Nguồn (Source):
Vietnamese:
khemarama.net
Pāḷi - English:
 digitalpalireader.online

Những tập kinh khác:

DN 1: Brahmajāla – Kinh Phạm Võng – The All-embracing Net of Views

DN 2: Sāmannaphala sutta – Kinh Sa Môn Quả – The Fruits of the Contemplative Life

DN 3: Ambaṭṭhasuttaṃ – Kinh Ambaṭṭha (A-Ma-Trú) – A Young Brahman’s Rudeness And An Old One’s Faith

DN 4: Soṇadaṇḍasuttaṃ – Kinh Chủng Đức – The Qualities Of The True Brahman

DN 5: Kūṭadantasuttaṃ – Kinh Cứu La Đàn Đầu – About Kūṭadanta – A Bloodless Sacrifice

DN 6: Mahālisuttaṃ – Kinh Mahāli – About Mahāli

DN 7: Jāliyasuttaṃ – Kinh Jāliya – About Jāliya

DN 8: Mahāsīhanādasuttaṃ – Kinh Ca-diếp Sư tử hống – The Great Lion’s Roar (The Lion’s Roar to Kassapa)

DN 9: Poṭṭhapādasuttaṃ – Kinh Bố-Sá-Bà-Lâu – About Poṭṭhapāda (States of Consciousness)

DN 10: Subhasuttaṃ – Kinh Tu Ba – About Subha (Morality, Concentration, Wisdom)

DN 11: Kevaṭṭasuttaṃ – Kinh Kiên Cố – About Kevaddha (What Brahma Didn’t Know)

DN 12: Lohiccasuttaṃ – Kinh Lô Hi Gia – About Lohicca (Good and Bad Teachers)

DN 13: Tevijjasuttaṃ – Kinh Tam Minh – The Threefold Knowledge (The Way to Brahmā)

DN 14: Mahāpadānasuttaṃ – Kinh Đại Bổn – The Great Discourse on the Lineage

DN 15: Mahānidānasuttaṃ – Kinh Đại Duyên – The Great Discourse on Origination

DN 16: Mahāparinibbānasuttaṃ – Kinh Đại Bát-Niết-Bàn – The Great Passing (The Buddha’s Last Days)

DN 17: Mahāsudassanasuttaṃ – Kinh Ðại Thiện Kiến Vương – The Great Splendour (A King’s Renunciation)

DN 18: Janavasabhasuttaṃ – Kinh Xà-ni-sa – About Janavasabha (Brahmā Addresses the Gods)

DN 19: Mahāgovindasuttaṃ – Kinh Ðại Ðiển Tôn – The Great Steward (A Past Life of Gotama)

DN 20: Mahāsamayasuttaṃ – Kinh Đại Hội – The Mighty Gathering (Devas Come to See the Buddha)

DN 21: Sakkapañhasuttaṃ – Kinh Đế-Thích Sở Vấn – Sakka’s Questions (A God Consults the Buddha)

DN 22: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ – Kinh Đại Niệm Xứ – The Greater Discourse on the Foundations of Mindfulness

DN 23: Pāyāsisuttaṃ – Kinh Kệ-Túc – About Pāyāsi (Debate with a Sceptic)

DN 24: Pāthikasuttaṃ – Kinh Ba-lê – About Pāṭikaputta (The Charlatan)

DN 25: Udumbarikasuttaṃ – Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử Hống – The Great Lion’s Roar to the Udumbarikans

DN 26: Cakkavattisuttaṃ – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư tử Hống – The Lion’s Roar on the Turning of the Wheel

DN 27: Aggaññasuttaṃ – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn – On Knowledge of Beginnings

DN 28: Sampasādanīyasuttaṃ – Kinh Tự Hoan Hỷ – Serene Faith

DN 29: Pāsādikasuttaṃ – Kinh Thanh Tịnh – The Delightful Discourse

DN 30: Lakkhaṇasuttaṃ – Kinh Tướng – The Marks of a Great Man

DN 31: Siṅgālasuttaṃ – Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt – To Sigālaka (Advice to Lay People)

DN 32: Āṭānāṭiyasuttaṃ – Kinh A-sá-nang-chi – The Āṭānātā Protective Verses

DN 33: Saṅgītisuttaṃ – Kinh Phúng Tụng – The Chanting Together

DN 34: Dasuttarasuttaṃ – Kinh Thập Thượng – Expanding Decades

Những bộ Kinh khác :