DN 11: Kevaṭṭasuttaṃ – Kinh Kiên Cố – About Kevaddha (What Brahma Didn’t Know)

Thursday October 5, 2023

 

 

KEVAṬṬASUTTAṂ

KINH KIÊN CỐ

(Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu)

ABOUT KEVADDHA (WHAT BRAHMA DIDN’T KNOW)

(English Translation from Pāli: Maurice Walshe)

Kevaṭṭagahapatiputtavatthu (DN 11)    
♦ 481. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā nāḷandāyaṃ viharati pāvārikambavane. atha kho kevaṭṭo gahapatiputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho kevaṭṭo gahapatiputto bhagavantaṃ etadavoca — “ayaṃ, bhante, nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā bhagavati abhippasannā. sādhu, bhante, bhagavā ekaṃ bhikkhuṃ samādisatu, yo uttarimanussadhammā, iddhipāṭihāriyaṃ karissati; evāyaṃ nāḷandā bhiyyoso mattāya bhagavati abhippasīdissatī”ti. evaṃ vutte, bhagavā kevaṭṭaṃ gahapatiputtaṃ etadavoca — “na kho ahaṃ, kevaṭṭa, bhikkhūnaṃ evaṃ dhammaṃ desemi — etha tumhe, bhikkhave, gihīnaṃ odātavasanānaṃ uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karothā”ti.

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Nalandà trong vườn Pavàrikampa.

Lúc bấy giờ cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa.

Nhờ vậy Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa.

Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha:

- Kevaddha, Ta không dạy cho các Tỷ-kheo pháp này: "Này các Tỷ-kheo các Ngươi hãy thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa cho các cư sĩ áo trắng".

[211] 1. THUS HAVE I HEARD. Once the Lord was staying at Nālandā, in Pāvārika’s mango grove.

And the householder Kevaddha (230) came to the Lord, prostrated himself before him, and sat down to one side. He then said:

‘Lord, this Nālandā is rich, prosperous, populous, and full of people who have faith in the Lord. It would be well if the Lord were to cause some monk to perform superhuman
feats and miracles.

In this way Nālandā would come to have even more faith in the Lord.’

The Lord replied: ‘Kevaddha, this is not the way I teach Dhamma to the monks, by saying:

“Go, monks, and perform superhuman feats and miracles for the white-clothed lay-people! ’

♦ 482. dutiyampi kho kevaṭṭo gahapatiputto bhagavantaṃ etadavoca — “nāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ dhaṃsemi; api ca, evaṃ vadāmi — ‘ayaṃ, bhante, nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā bhagavati abhippasannā. sādhu, bhante, bhagavā ekaṃ bhikkhuṃ samādisatu, yo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissati; evāyaṃ nāḷandā bhiyyoso mattāya bhagavati abhippasīdissatī’”ti. dutiyampi kho bhagavā kevaṭṭaṃ gahapatiputtaṃ etadavoca — “na kho ahaṃ, kevaṭṭa, bhikkhūnaṃ evaṃ dhammaṃ desemi — etha tumhe, bhikkhave, gihīnaṃ odātavasanānaṃ uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karothā’”ti.

2. Lần thứ hai, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con không muốn phiền nhiễu Thế Tôn. Con chỉ nói: "Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa.

Nhờ vậy Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa".

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha:

- Này Kevaddha, Ta không dạy cho các Tỷ-kheo pháp này: "Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa cho các cư sĩ áo trắng".

2. For a second time Kevaddha said:

‘Lord, I would not be importunate, but I still say: “This Nālandā is rich, prosperous ... [212]

and would come to have even more faith in the Lord.”’

And the Lord replied as before.

♦ tatiyampi kho kevaṭṭo gahapatiputto bhagavantaṃ etadavoca — “nāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ dhaṃsemi; api ca, evaṃ vadāmi — ‘ayaṃ, bhante, nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā bhagavati abhippasannā. sādhu, bhante, bhagavā ekaṃ bhikkhuṃ samādisatu, yo uttarimanussadhammā iddhipāṭihāriyaṃ karissati. evāyaṃ nāḷandā bhiyyoso mattāya bhagavati abhippasīdissatī’ti.

3. Lần thứ ba, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha Bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con không muốn phiền nhiễu Thế Tôn. Con chỉ nói: "Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa.

Nhờ vậy Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa".

3. When Kevaddha repeated his request for a third time, the Lord said:

Iddhipāṭihāriyaṃ (DN 11)    
♦ 483. “tīṇi kho imāni, kevaṭṭa, pāṭihāriyāni mayā sayaṃ abhiññā sacchikatvā paveditāni. katamāni tīṇi? iddhipāṭihāriyaṃ, ādesanāpāṭihāriyaṃ, anusāsanīpāṭihāriyaṃ.

- Này Kevaddha, có ba pháp thần thông này Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là ba? Tức là

biến hóa thần thông,

tha tâm thần thông,

giáo hóa thần thông.

‘Kevaddha, there are three kinds of miracle that I have declared, having realised them by my own insight. Which three?

The miracle of psychic power, (231)

the miracle of telepathy, (232)

the miracle of instruction. (233)

♦ 484. “katamañca, kevaṭṭa, iddhipāṭihāriyaṃ? idha, kevaṭṭa, bhikkhu anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti. ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṃ karoti seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi pathaviyaṃ; ākāsepi pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṃ mahiddhike evaṃ mahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti.

4. Này Kevaddha, thế nào là biến hóa thần thông?

Này Kevaddha, ở đời có Tỷ-kheo chứng được các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân;

hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất liền;

ngồi kiết- già đi trên hư không như con chim; với hai bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai thần lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

4. ‘What is the miracle of psychic power?

Here, Kevaddha, a monk displays various psychic powers in different ways. Being one he becomes many, being many he becomes one... (as Sutta 2, verse 87) [213]

and he travels in the body as far as the Brahma world.

♦ “tamenaṃ aññataro saddho pasanno passati taṃ bhikkhuṃ anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhontaṃ — ekopi hutvā bahudhā hontaṃ, bahudhāpi hutvā eko hontaṃ; āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ; tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamānaṃ gacchantaṃ seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṃ karontaṃ seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchantaṃ seyyathāpi pathaviyaṃ; ākāsepi pallaṅkena kamantaṃ seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṃ mahiddhike evaṃ mahānubhāve pāṇinā parāmasantaṃ parimajjantaṃ yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vattentaṃ.

Có người tín thành thấy Tỷ-kheo ấy chứng hiện các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân: hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước,

đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai thần lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

Then someone who has faith and trust sees him doing these things.

♦ “tamenaṃ so saddho pasanno aññatarassa assaddhassa appasannassa āroceti — ‘acchariyaṃ vata, bho, abbhutaṃ vata, bho, samaṇassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. amāhaṃ bhikkhuṃ addasaṃ anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhontaṃ — ekopi hutvā bahudhā hontaṃ, bahudhāpi hutvā eko hontaṃ ... pe ... yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vattentan’ti.

5. Người có lòng tín thành ấy nói với một người không có lòng tín thành: "Này Tôn giả, thật vi diệu thay! Này Tôn giả, thật hy hữu thay, đại thần thông, đại oai đức của vị Sa-môn! Chính tôi đã thấy vị Tỷ-kheo chứng các thần thông, "một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân,... có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên".

5. ‘He tells this to someone else who is sceptical and unbelieving, saying: “It is wonderful, sir, it is marvellous, the great power and skill of that ascetic ...”

And that man might say: “Sir, there is something called the Gandhāra charm. (234) It is by means of this that that monk becomes many...”

♦ “tamenaṃ so assaddho appasanno taṃ saddhaṃ pasannaṃ evaṃ vadeyya — ‘atthi kho, bho, gandhārī nāma vijjā. tāya so bhikkhu anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti — ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti ... pe ... yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vattetī’ti.

Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành: "Này Tôn giả, có một chú thuật gọi là Gandhhàrì. Nhờ chú thuật hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân... có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên".

What do you think, Kevaddha, would not a sceptic say that to a believer?’

‘He would, Lord.’

♦ “taṃ kiṃ maññasi, kevaṭṭa, api nu so assaddho appasanno taṃ saddhaṃ pasannaṃ evaṃ vadeyyā”ti? “vadeyya, bhante”ti. “imaṃ kho ahaṃ, kevaṭṭa, iddhipāṭihāriye ādīnavaṃ sampassamāno iddhipāṭihāriyena aṭṭīyāmi harāyāmi jigucchāmi”.

Này Kevaddha, ngươi nghĩ thế nào? Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành như vậy không?

- Bạch Thế Tôn, có thể nói như vậy.

- Này Kevaddha chính vì ta thấy sự nguy hiểm trong sự biến hóa thần thông mà ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ biến hóa thần thông.

‘And that is why, Kevaddha, seeing the danger of such miracles, I dislike, reject and despise them.

Ādesanāpāṭihāriyaṃ (DN 11)    

♦ 485. “katamañca, kevaṭṭa, ādesanāpāṭihāriyaṃ? idha, kevaṭṭa, bhikkhu parasattānaṃ parapuggalānaṃ cittampi ādisati, cetasikampi ādisati, vitakkitampi ādisati, vicāritampi ādisati — ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.

6. Này Kevaddha, thế nào là tha tâm thần thông?

Này Kevaddha, ở đời có Tỷ-kheo nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác: "Như vậy là ý của Ngươi".

6. ‘And what is the miracle of telepathy?

Here, a monk reads the minds of other beings, of other people, reads their mental states, their thoughts and ponderings, and says: “That is how your mind is, that is how it inclines, that is in your heart.”

♦ “tamenaṃ aññataro saddho pasanno passati taṃ bhikkhuṃ parasattānaṃ parapuggalānaṃ cittampi ādisantaṃ, cetasikampi ādisantaṃ, vitakkitampi ādisantaṃ, vicāritampi ādisantaṃ — ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti. tamenaṃ so saddho pasanno aññatarassa assaddhassa appasannassa āroceti — ‘acchariyaṃ vata, bho, abbhutaṃ vata, bho, samaṇassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. amāhaṃ bhikkhuṃ addasaṃ parasattānaṃ parapuggalānaṃ cittampi ādisantaṃ, cetasikampi ādisantaṃ, vitakkitampi ādisantaṃ, vicāritampi ādisantaṃ — “evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’”ti.

Có người có lòng tín thành thấy Tỷ-kheo nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm và nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác: "Như vậy là ý của Ngươi, thế này là ý của Ngươi, như vậy là tâm của Ngươi".

7. Người có lòng tín thành ấy nói với một người không có lòng tín thành: "Này Tôn giả, thật vi diệu thay! Này Tôn giả, thật hy hữu thay đại thần thông, đại oai đức của vị Sa-môn! Chính tôi đã thấy Tỷ-kheo nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm và nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác: "Như vậy là ý của ngươi, thế này là ý của ngươi, như vậy là tâm của ngươi".

Then someone who has faith and trust sees him doing these things.

7. ‘He tells this to someone else who is sceptical and unbelieving, saying: “It is [214] wonderful, sir, it is marvellous, the great power and skill of that ascetic ...”

And that man might say: “Sir, there is something called the Maṇikā charm. (235) It is by means of this that that monk can read the minds of others ...”

♦ “tamenaṃ so assaddho appasanno taṃ saddhaṃ pasannaṃ evaṃ vadeyya — ‘atthi kho, bho, maṇikā nāma vijjā; tāya so bhikkhu parasattānaṃ parapuggalānaṃ cittampi ādisati, cetasikampi ādisati, vitakkitampi ādisati, vicāritampi ādisati — ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’”ti.

Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành: "Này Tôn giả, có một chú thuật gọi là Maniko, nhờ chú thuật này, Tỷ-kheo nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm, và nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác...

"Thế này là ý của Ngươi, như vậy là tâm của Ngươi".

 

♦ “taṃ kiṃ maññasi, kevaṭṭa, api nu so assaddho appasanno taṃ saddhaṃ pasannaṃ evaṃ vadeyyā”ti ? “vadeyya, bhante”ti. “imaṃ kho ahaṃ, kevaṭṭa, ādesanāpāṭihāriye ādīnavaṃ sampassamāno ādesanāpāṭihāriyena aṭṭīyāmi harāyāmi jigucchāmi”.

Này Kevaddha, Ngươi nghĩ thế nào? Người không có lòng tín thành có thể nói với Ngươi có lòng tín thành như vậy không?

- Bạch Thế Tôn, có thể nói như vậy?

- Này Kevaddha chính Ta thấy sự nguy hiểm trong sự tha tâm thần thông mà Ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ tha tâm thần thông.

And that is why, seeing the danger of such miracles, I... despise them.

Anusāsanīpāṭihāriyaṃ (DN 11)    

♦ 486. “katamañca, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṃ? idha, kevaṭṭa, bhikkhu evamanusāsati — ‘evaṃ vitakketha, mā evaṃ vitakkayittha, evaṃ manasikarotha, mā evaṃ manasākattha, idaṃ pajahatha, idaṃ upasampajja viharathā’ti. idaṃ vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṃ.

8. Này Kevaddha, thế nào là giáo hóa thần thông?

Ở đời có Tỷ-kheo giáo hóa như sau: "Hãy suy tư như thế này, chớ có suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, chớ có tác ý như thế kia; hãy trừ bỏ điều này, hãy chứng đạt và an trú điều kia".

Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.

8. ‘And what is the miracle of instruction?

Here, Kevaddha, a monk gives instruction as follows: “Consider in this way, don’t consider in that, direct your mind this way, not that way, give up that, gain this and persevere in it.”

That, Kevaddha, is called the miracle of instruction.

♦ “puna caparaṃ, kevaṭṭa, idha tathāgato loke uppajjati arahaṃ sammāsambuddho ... pe ... (yathā 190-212 anucchedesu evaṃ vitthāretabbaṃ). evaṃ kho, kevaṭṭa, bhikkhu sīlasampanno hoti ... pe ...

9. Này Kevaddha, nay ở đời đức Như Lai xuất hiện là bậc A-la-hán Chánh Biến Tri... (đoạn kinh 9-43 tương tự như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40 - 74).

9 — 66. ‘Again, Kevaddha, a Tathāgata arises in the world, an Arahant, fully-enlightened Buddha, endowed with wisdom and conduct, Well-Farer, Knower of the worlds, incomparable Trainer of men to be tamed, Teacher of gods and humans, enlightened and blessed.

He, having realised it by his own super knowledge, proclaims this world with its devas, māras and Brahmās, its princes and people.

He preaches the Dhamma which is lovely in its beginning, lovely in its middle, lovely in its ending, in the spirit and in the letter, and displays the fully-perfected and purified holy
life.

A disciple goes forth and practises the moralities (Sutta 2, verses 41 — 63).

paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. idampi vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṃ ... pe ... dutiyaṃ jhānaṃ ... pe ... tatiyaṃ jhānaṃ ... pe ...

44. Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh.

Vị Tỷ-kheo, ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm với tứ.

Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

 

 

45. Này Kevaddha, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt.

Cũng vậy, này Kevaddha, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.

 

catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. idampi vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṃ ... pe ...

50.... chứng và trú thiền thứ tư... (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 77 - 81, trừ câu kết sau chót mỗi chương).

Này Kevaddha như vậy gọi là giáo hóa thần thông.

He guards the sense-doors and attains the four jhānas (Sutta 2, verses 64 — 82);

ñāṇadassanāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti ... pe ... idampi vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṃ ... pe ...

52. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ xử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến... (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 83)...

Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.

he attains various insights (Sutta 2, verses 83-84);

nāparaṃ itthattāyāti pajānāti ... pe ... idampi vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṃ.

53.... sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa... (xem kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 84 - 98), trừ câu kết sau chót của mỗi chương).

Này Kevaddha, như vậy là giáo hóa thần thông.

he realises the Four Noble Truths, the path and the cessation of the corruptions (Sutta 2, verses 85-97), (236) and he knows: “...There is nothing further here.”

That, Kevaddha, is called the miracle of instruction.

♦ “imāni kho, kevaṭṭa, tīṇi pāṭihāriyāni mayā sayaṃ abhiññā sacchikatvā paveditāni”.

67. Này Kevaddha, ba pháp thần thông này, Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết.

67. ‘And I, Kevaddha, have experienced these three miracles by my own super-knowledge.

Bhūtanirodhesakabhikkhuvatthu (DN 11)    
♦ 487. “bhūtapubbaṃ, kevaṭṭa, imasmiññeva bhikkhusaṅghe aññatarassa bhikkhuno evaṃ cetaso parivitakko udapādi — ‘kattha nu kho ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti? Này Kevaddha thuở xưa, chính một Tỷ-kheo có khởi nghi vấn như sau: "Trong Tỷ-kheo chúng này - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?" Once, Kevaddha, in this order of monks the thought occurred to a certain monk: “I wonder where the four great elements — the earth element, the water element, the fire element, the air element — cease without remainder.”

♦ 488. “atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu tathārūpaṃ samādhiṃ samāpajji, yathāsamāhite citte devayāniyo maggo pāturahosi. atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena cātumahārājikā devā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā cātumahārājike deve etadavoca — ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti?

Này Kevaddha, vị Tỷ-kheo ấy nhập định, và trong định tâm, con đường đưa đến Thiên giới hiện ra.

68. Này Kevaddha, lúc bấy giờ vị Tỷ-kheo ấy đi đến Bốn Thiên vương thiên, khi đến xong, liền nói với các vị Bốn Thiên vương thiên: "Này các Hiền giả, bốn đại chủng này: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?".

And that monk attained to such a state of mental
concentration that the way to the deva-realms appeared before him.

68. ‘Then, coming to the Realm of the devas of the Four Great Kings, (237) he asked those devas: “Friends, where do the four great elements -- earth, water, fire and air — cease without remainder?”

♦ “evaṃ vutte, kevaṭṭa, cātumahārājikā devā taṃ bhikkhuṃ etadavocuṃ — ‘mayampi kho, bhikkhu, na jānāma, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti {vāyodhātu. atthi kho (pī. evamuparipi)} . atthi kho {vāyodhātu. atthi kho (pī. evamuparipi)}, bhikkhu, cattāro mahārājāno amhehi abhikkantatarā ca paṇītatarā ca. te kho etaṃ jāneyyuṃ, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy Bốn Thiên vương thiên nói với vị Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn".

Này Tỷ-kheo, có bốn Ðại vương ưu thế hơn và thù thắng hơn chúng tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn.

At this question the devas of the Four Great Kings [216] said to him: “Monk, we don’t know where the four great elements cease without remainder.

But the Four Great Kings are loftier and wiser than we are. They may know where the four great elements cease ... ”

♦ 489. “atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena cattāro mahārājāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā cattāro mahārāje etadavoca — ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti? evaṃ vutte, kevaṭṭa, cattāro mahārājāno taṃ bhikkhuṃ etadavocuṃ — ‘mayampi kho, bhikkhu, na jānāma, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu, āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. atthi kho, bhikkhu, tāvatiṃsā nāma devā amhehi abhikkantatarā ca paṇītatarā ca. te kho etaṃ jāneyyuṃ, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.

69. Này Kevaddha, vị Tỷ-kheo đi đến bốn vị Ðại vương, khi đến xong liền hỏi bốn vị Ðại Thiên vương: "Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, cả bốn vị Ðại vương nói với vị Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này vị Tỷ-kheo, có Ba mươi ba thiên ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn".

69. ‘So that monk went to the Four Great Kings and asked the same question, but they replied:

“We don’t know, but the Thirty-Three Gods may know...”

♦ 490. “atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena tāvatiṃsā devā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tāvatiṃse deve etadavoca — ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti? evaṃ vutte, kevaṭṭa, tāvatiṃsā devā taṃ bhikkhuṃ etadavocuṃ — ‘mayampi kho, bhikkhu, na jānāma, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. atthi kho, bhikkhu, sakko nāma devānamindo amhehi abhikkantataro ca paṇītataro ca. so kho etaṃ jāneyya, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.

70. Này Kevaddha, vị Tỷ-kheo ấy đi đến các vị Ba mươi ba thiên, khi đến xong, liền hỏi các vị Ba mươi ba thiên, "Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, các vị Ba mươi ba thiên nói với vị Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại ... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này Tỷ-kheo, có vị Ðế thích chư thiên tên là Sakka ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn."

70. ‘So that monk went to the Thirty-Three Gods, who said:

“We don’t know, but Sakka, lord of the gods, may know...” [217]

♦ 491. “atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena sakko devānamindo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sakkaṃ devānamindaṃ etadavoca — ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti? evaṃ vutte, kevaṭṭa, sakko devānamindo taṃ bhikkhuṃ etadavoca — ‘ahampi kho, bhikkhu, na jānāmi, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. 

71. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Ðế thích chư thiên tên là Sakka, khi đến xong, liền hỏi Ðế thích chư thiên tên là Sakka: "Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ðế thích chư Thiên tên là Sakka nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có chư Thiên tên là Yàma (Dạ-ma) ưu thế hơn, thù thắng hơn tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn".

71. ‘Sakka, lord of the gods, said:

“The Yāma devas may know ... ”

atthi kho, bhikkhu, yāmā nāma devā ... pe ...

72. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên tên là Yàma (Dạ-ma) xong, liền hỏi chư Thiên Dạ-ma: "Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, chư Thiên Yàma (Dạ-ma) nói với Tỷ-kheo. "Chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này Tỷ-kheo, có Thiên tử tên là Suyàma ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn."

72. ‘The Yāma devas said:

“Suyāma, son of the devas, (238) may know ...

suyāmo nāma devaputto...

73. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Suyàma, sau khi đến liền hỏi Thiên tử Suyàma: "Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?"

Này Kevaddha, được nghe nói vậy Thiên tử Suyàma nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này Tỷ-kheo, có Thiên tử tên là Tusità ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn."

73. ‘Suyāma said:”

“The Tusita [218] devas may know...”

tusitā nāma devā...

74. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Tusità. Khi đến xong, liền hỏi chư Thiên Tusità: "Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nói vậy chư Thiên Tusità nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này Tỷ-kheo, có Thiên tử tên là Santusita ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại ... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn".

74. ‘The Tusita devas said:

“Santusita, son of the devas, may know...”

santussito nāma devaputto...

75. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Santusita. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Santusita: "Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Thiên tử Santusita nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này vị Tỷ-kheo có chư Thiên tên là Nimmànarati (Hóa lạc thiên) ưu thế hơn, thù thắng hơn tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn".

75. ‘Santusita said:

“The Nimmānarati devas may know...”

nimmānaratī nāma devā ...

76. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Nimmànarati. Khi đến xong, liền hỏi chư Thiên Nimmànarati: "Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, chư Thiên Nimmànarati nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này Tỷ-kheo có Thiên tử tên là Sunimmita ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn".

76. [219] ‘The Nimmānarati devas said:

“Sunimmita, son of the devas, may know...”

sunimmito nāma devaputto...

77. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Sunimmita. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Sunimmita. "Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Thiên tử Sunimmita nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này Tỷ-kheo có chư thiên gọi là Paranimmitavasavatti (Tha hóa tự tại thiên) ưu thế hơn, thù thắng hơn tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn".

77. ‘Sunimitta said:

“The Paranimmita-Vasavatti devas may know...”

paranimmitavasavattī nāma devā... vasavattī nāma devaputto amhehi abhikkantataro ca paṇītataro ca. so kho etaṃ jāneyya, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.

78. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Paranimmitavasavatti, khi đến xong, liền hỏi chư Thiên Paranimmitavasavatti (Tha hóa tự tại thiên): "Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy chư Thiên Paranimmitavasavatti nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, tôi không được biết - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này Tỷ-kheo có Thiên tử tên là Vasavatti ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn".

78. ‘The Paranimmita-Vasavatti devas said:

“Vasavatti, son of the devas, may know...”

♦ 492. “atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena vasavattī devaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vasavattiṃ devaputtaṃ etadavoca — ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti? evaṃ vutte, kevaṭṭa, vasavattī devaputto taṃ bhikkhuṃ etadavoca — ‘ahampi kho, bhikkhu, na jānāmi yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. atthi kho, bhikkhu, brahmakāyikā nāma devā amhehi abhikkantatarā ca paṇītatarā ca. te kho etaṃ jāneyyuṃ, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.

79. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Vasavatti. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Vasavatti: "Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Thiên tử Vasavatti nói với Tỷ-kheo ấy. "Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này Tỷ-kheo, có chư Thiên gọi là Brahmà Kayikà ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn".

79. [220] ‘Vasavatti said:

“The devas of Brahmā’s retinue may know ... ”

♦ 493. “atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu tathārūpaṃ samādhiṃ samāpajji, yathāsamāhite citte brahmayāniyo maggo pāturahosi. atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena brahmakāyikā devā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā brahmakāyike deve etadavoca — ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti? evaṃ vutte, kevaṭṭa, brahmakāyikā devā taṃ bhikkhuṃ etadavocuṃ — ‘mayampi kho, bhikkhu, na jānāma, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. atthi kho, bhikkhu, brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṃ amhehi abhikkantataro ca paṇītataro ca. so kho etaṃ jāneyya, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti.

80. Này Kevaddha, lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy nhập định, và trong định tâm, con đường đưa đến Phạm thiên giới hiện ra.

Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Brahmà Kayikà: "Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, chư Thiên Brahmà Kayikà nói với Tỷ-kheo ấy:

"Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

Này Tỷ-kheo, có vị Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Vị này ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi.

Vị này có thể biết bốn đại chủng này địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn".

80. ‘Then that monk, by the appropriate concentration, made the way to the Brahmā world appear before him.

He went to the devas of Brahmā’s retinue and asked them.

They said: “We don’t know.

But there is Brahmā, Great Brahmā, the Conqueror, the Unconquered, the All-Seeing, All-Powerful, the Lord, the Maker and Creator, the Ruler, Appointer and Orderer, Father of All That Have Been and Shall Be.

He is loftier and wiser than we are. He would know where the four great elements cease without remainder.”

♦ “‘kahaṃ panāvuso, etarahi so mahābrahmā’ti? ‘mayampi kho, bhikkhu, na jānāma, yattha vā brahmā yena vā brahmā yahiṃ vā brahmā; api ca, bhikkhu, yathā nimittā dissanti, āloko sañjāyati, obhāso pātubhavati, brahmā pātubhavissati, brahmuno hetaṃ pubbanimittaṃ pātubhāvāya, yadidaṃ āloko sañjāyati, obhāso pātubhavatī’ti. atha kho so, kevaṭṭa, mahābrahmā nacirasseva pāturahosi.

- Này Hiền giả, hiện nay Ðại Phạm thiên ấy ở đâu?

- Này Tỷ-kheo, chúng tôi không biết Phạm thiên ở đâu, vì sao có Phạm thiên và Phạm thiên từ đâu đến. Nhưng này Tỷ-kheo, khi nào triệu tướng hiện, khi nào ánh sáng sanh, khi nào hào quang hiển, thời Phạm thiên xuất hiện.

Ánh sáng xanh, hào quang hiển là tướng Phạm thiên xuất hiện từ trước là như vậy.

“And where, friends, is this Great Brahmā now?”

“Monk, we do not know when, how and where Brahmā will appear. But when the signs are seen — when a light appears and a radiance shines forth — then Brahmā will appear.

Such signs are an indication that he will appear.”

♦ 494. “atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena so mahābrahmā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ mahābrahmānaṃ etadavoca — ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti? evaṃ vutte, kevaṭṭa, so mahābrahmā taṃ bhikkhuṃ etadavoca — ‘ahamasmi, bhikkhu, brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan’ti.

81. Này Kevaddha, không bao lâu, Ðại Phạm thiên xuất hiện. Lúc bấy giờ, này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đến Ðại Phạm thiên. Khi đến xong, liền hỏi Phạm thiên: "Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?"

- Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ðại Phạm thiên nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh".

81. ‘Then it was not long before the Great Brahmā [221] appeared. And that monk went up to him and said: “Friend, where do the four great elements — earth, water, fire, air — cease without remainder?”

to which the Great Brahmā replied: “Monk, I am Brahmā, Great Brahmā, the Conqueror, the Unconquered, the AllSeeing, All-Powerful, the Lord, the Maker and Creator, the Ruler, Appointer and Orderer, Father of All That Have Been and Shall Be.”

♦ “dutiyampi kho so, kevaṭṭa, bhikkhu taṃ mahābrahmānaṃ etadavoca — ‘na khohaṃ taṃ, āvuso, evaṃ pucchāmi — “tvamasi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan”ti. evañca kho ahaṃ taṃ, āvuso, pucchāmi — “kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’”ti?

♦ “dutiyampi kho so, kevaṭṭa, mahābrahmā taṃ bhikkhuṃ etadavoca — ‘ahamasmi, bhikkhu, brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan’ti. tatiyampi kho so, kevaṭṭa, bhikkhu taṃ mahābrahmānaṃ etadavoca — ‘na khohaṃ taṃ, āvuso, evaṃ pucchāmi — “tvamasi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan”ti. evañca kho ahaṃ taṃ, āvuso, pucchāmi — “kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’”ti?

82. Này Kevaddha, lần thứ hai Tỷ-kheo ấy nói với Phạm thiên: "Này Hiền giả, tôi không hỏi: "Ngài có phải là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh".

Này Hiền giả, tôi hỏi: "Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

Này Kevaddha, lần thứ hai, Ðại Phạm thiên ấy nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh".

83. Này Kevaddha, lần thứ ba, Tỷ-kheo ấy nói với Phạm thiên: "Này Hiền giả, tôi không hỏi: "Ngài có phải là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh".

Này Hiền giả, tôi hỏi: "Này Hiền giả, bốn đại chủng ấy, - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

82. ‘A second time the monk said: “Friend, I did not ask if you are Brahmā, Great Brahmā ...

I asked you where the four great elements cease without remainder.”

And a second time the Great Brahmā replied as before.

83. ‘And a third time the monk said: “Friend, I did not ask you that,

I asked where the four great elements — earth, water, fire, air — cease without remainder.” 

♦ 495. “atha kho so, kevaṭṭa, mahābrahmā taṃ bhikkhuṃ bāhāyaṃ gahetvā ekamantaṃ apanetvā taṃ bhikkhuṃ etadavoca — ‘ime kho maṃ, bhikkhu, brahmakāyikā devā evaṃ jānanti, “natthi kiñci brahmuno aññātaṃ, natthi kiñci brahmuno adiṭṭhaṃ, natthi kiñci brahmuno aviditaṃ, natthi kiñci brahmuno asacchikatan”ti. tasmāhaṃ tesaṃ sammukhā na byākāsiṃ. ahampi kho, bhikkhu, na jānāmi yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. tasmātiha, bhikkhu, tuyhevetaṃ dukkaṭaṃ, tuyhevetaṃ aparaddhaṃ, yaṃ tvaṃ taṃ bhagavantaṃ atidhāvitvā bahiddhā pariyeṭṭhiṃ āpajjasi imassa pañhassa veyyākaraṇāya. gaccha tvaṃ, bhikkhu, tameva bhagavantaṃ upasaṅkamitvā imaṃ pañhaṃ puccha, yathā ca te bhagavā byākaroti, tathā naṃ dhāreyyāsī’ti.

Này Kevaddha, khi bấy giờ Ðại Phạm thiên cầm tay Tỷ-kheo ấy, kéo ra một bên rồi nói với Tỷ-kheo: "Này Tỷ-kheo, chư Thiên Brahmà Kayikà xem rằng không có gì Phạm thiên không thấy, không có gì Phạm thiên không hiểu, không có gì Phạm thiên không chứng.

Do vậy, trước mặt chúng, ta không có trả lời: "Này Tỷ-kheo, ta không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn".

Do vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đã làm sai, Ngươi đã lầm lẫn, khi Ngươi bỏ qua Thế Tôn, hướng đến người khác để trả lời câu hỏi ấy.

Này Tỷ-kheo, Ngươi hãy đi đến Thế Tôn hỏi câu hỏi ấy, và hãy thọ trì những gì Thế Tôn trả lời".

Then, Kevaddha, the Great Brahmā took that monk by the arm, led him aside and [222] said: “Monk, these devas believe there is nothing Brahmā does not see, there is nothing he does not know, there is nothing he is unaware of.

That is why I did not speak in front of them. But, monk, I don’t know where the four great elements cease without remainder.

And therefore, monk, you have acted wrongly, you have acted incorrectly by going beyond the Blessed Lord and going in s3earch of an answer to this question elsewhere.

Now, monk, you just go to the Blessed Lord and put this question to him, and whatever answer he gives, accept it.” 

♦ 496. “atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu — seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya evameva brahmaloke antarahito mama purato pāturahosi. atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho, kevaṭṭa, so bhikkhu maṃ etadavoca — ‘kattha nu kho, bhante, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti?

84. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy, như nhà đại lực sĩ duỗi ra cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay đã duỗi ra, biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Ta.

Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng này, - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

84. ‘So that monk, as swiftly as a strong man might flex or unflex his arm, vanished from the Brahma world and appeared in my presence.

He prostrated himself before me, then sat down to one side and said: “Lord, where do the four great elements — the earth element, the water element, the fire element and the air element - cease without remainder?”

Tīradassisakuṇupamā (DN 11)    
♦ 497. “evaṃ vutte, ahaṃ, kevaṭṭa, taṃ bhikkhuṃ etadavocaṃ — ‘bhūtapubbaṃ, bhikkhu, sāmuddikā vāṇijā tīradassiṃ sakuṇaṃ gahetvā nāvāya samuddaṃ ajjhogāhanti. te atīradakkhiniyā nāvāya tīradassiṃ sakuṇaṃ muñcanti. so gacchateva puratthimaṃ disaṃ, gacchati dakkhiṇaṃ disaṃ, gacchati pacchimaṃ disaṃ, gacchati uttaraṃ disaṃ, gacchati uddhaṃ disaṃ, gacchati anudisaṃ. sace so samantā tīraṃ passati, tathāgatakova {tathāpakkantova (syā.)} hoti. sace pana so samantā tīraṃ na passati, tameva nāvaṃ paccāgacchati. evameva kho tvaṃ, bhikkhu, yato yāva brahmalokā pariyesamāno imassa pañhassa veyyākaraṇaṃ nājjhagā, atha mamaññeva santike paccāgato.

85. Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ta nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường đem theo con chim có thể thấy bờ.

Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa không trông thấy bờ, các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ. Con chim bay về phía Ðông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về phía Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian.

Nếu con chim thấy bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim không thấy bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền".

Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đã tìm cho đến Phạm thiên giới mà không gặp được câu trả lời cho câu hỏi ấy, nên nay trở về với Ta.

85. ‘I replied: “Monk, once upon a time seafaring merchants, when they set sail on the ocean, took in their ship a land-sighting bird.

When they could not see the land themselves, they released this bird. The bird flew to the east, to the south, to the west, to the north, it flew to the zenith and to the intermediate points of the compass.

If it saw land anywhere, it flew there. But if it saw no land, it returned to the ship.

In the same way, monk, you have been [223] as far as the Brahma world searching for an answer to your question and not finding it, and now you come back to me.

na kho eso, bhikkhu, pañho evaṃ pucchitabbo — ‘kattha nu kho, bhante, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti?

Này Tỷ-kheo, câu hỏi không nên hỏi như sau: "Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng ấy - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".

But, monk, you should not ask your question in this way:‘Where do the four great elements — the earth element, the water element, the fire element, the air element — cease without remainder?’

♦ 498. “evañca kho eso, bhikkhu, pañho pucchitabbo —

♦ ‘kattha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati.

♦ kattha dīghañca rassañca, aṇuṃ thūlaṃ subhāsubhaṃ.

♦ kattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhatī’ti.

Này Tỷ-kheo, câu hỏi phải nói như sau:

"Chỗ nào mà địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, dài ngắn, tế, thô, tịnh, bất tịnh không có chân đứng?

Chỗ nào cả danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn?"

Instead, this is how the question should have been put:

‘Where do earth, water, fire and air no footing find? Where are long and short, small and great, fair and foul -

Where are “name-and-form” wholly destroyed?’ (239)

♦ 499. “tatra veyyākaraṇaṃ bhavati —

♦ ‘viññāṇaṃ anidassanaṃ, anantaṃ sabbatopabhaṃ.

♦ ettha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati.

♦ ettha dīghañca rassañca, aṇuṃ thūlaṃ subhāsubhaṃ.

♦ ettha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhati.

♦ viññāṇassa nirodhena, etthetaṃ uparujjhatī’ti.

và đây là câu trả lời cho câu hỏi này:

"Thức là không thể thấy, vô biên, biến thông hết thảy xứ.

Ở đây, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng.

Ở đây, cũng vậy dài, ngắn, tế, thô, tịnh và bất tịnh.

Ở đây danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn.

Khi thức diệt, ở đây mọi thứ đều diệt tận".

And the answer is:

‘Where consciousness is signless, (240) boundless, allluminous, (241)

That’s where earth, water, fire and air find no footing,

There both long and short, small and great, fair and foul -

There “name-and-form” are wholly destroyed.

With the cessation of consciousness this is all destroyed.”” (242)

♦ 500. idamavoca bhagavā. attamano kevaṭṭo gahapatiputto bhagavato bhāsitaṃ abhinandīti.

kevaṭṭasuttaṃ niṭṭhitaṃ ekādasamaṃ.

Thế Tôn thuyết như vậy. Kevaddha, cư sĩ trẻ tuổi hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn. Thus the Lord spoke, and the householder Kevaddha, delighted, rejoiced at his words.

 

 

Notes: The numbers in square brackets [ ] in the actual text refer to the page number of the Dīgha Nikāya of the Pali Text Society's edition in Pali.

 

(230). Or Kevatta (‘Fisher’) as several manuscripts have it. RD admits that ‘it may turn out to be the better of the two.’

(231). Iddhi-pāṭihāriya: ‘miracle of iddhi’ (see n.128).

(232). Ādesanā-pāṭihāriya. This is actual telepathy, not the same as manesika ‘mind-searching’ or guessing another’s thoughts mentioned in DN 1.1.14.

(233). Anusāsani-pāṭihāriya. The Buddha’s teaching can be called miraculous because it leads to the most wonderful results.

(234). A charm for making oneself invisible.

(235). Or cintamani vijjā (DA), the ‘jewel of thought’ charm which enabled one to know the thoughts of others. The sceptic, of course, does not have a really convincing way of explaining things away. Modern parallels suggest themselves.

(236). Omitting DN 2.85 — 96, which deal with the powers disparagingly mentioned in verse 4ff.

(237). For all these realms and their inhabitants (verses 68-81) see Introduction p. 38f.

(238). Devaputta here denotes the ruler of a certain group of devas. In other contexts it simply means ‘male deva’.

(239). Mind and body, i.e. ‘subject and object’ (Neumann quoted by RD).

(240). Anidassanaṁ: or ‘invisible’. Ñāṇananda (n.242) renders it ‘non-manifesting’.

(241). This word (pabhaṁ or pahaṁ) has been variously interpreted. DA takes it in the sense of a ford, or a place to enter the water ‘accessible from all sides’, by means of which one can reach Nibbana. There is an improbable suggestion that the meaning is ‘rejecting’, and Mrs Bennett translates the line: ‘Where the consciousness that makes endless comparisons is entirely abandoned’, which seems to involve a misunderstanding of anidassanaṁ. (But see next note). The same sequence also occurs at MN 49.11rendered by I.B. Horner (MLS i, 392): ‘Discriminative consciousness (= viññāṇaṁ) which cannot be characterised (= anidassanaṁ), which is unending, lucid in every respect (= sabbato pabhaṁ).’ The two passages should be studied in conjunction. Cf. also AN 1.6: ‘This mind (citta) is luminous, but is defiled by adventitious defilements.’ See important discussion by Ñāṇananda, 57-63.

(242). G.C. Pande (Studies in the Origins of Buddhism, 92, n.21) says: ‘Buddha says that the question should not be asked in the manner in which it is done in the prose quotation above, but thus — as in the metrical lines that follow. One may pertinently ask: “Why? what is wrong with the prose formulation?” The only answer would seem to be: “Nothing. But the verses have to be brought in!”. Ñāṇananda (Concept and Reality, 59) explains it thus: ‘The last line of the verse stresses the fact that the four great elements do not find a footing — and that ‘Name-andForm’ (comprehending them) can be cut-off completely — in that ‘anidassana-viññāṇa’ (the ‘nonmanifestative consciousness’) of the Arahant, by the cessation of his normal consciousness which rests on the data of senseexperience. This is a corrective to that monk’s notion that the four elements can cease altogether somewhere — a notion which has its roots in the popular conception of selfexisting material elements. The Buddha’s reformulation of the original question and this concluding line are meant to combat this wrong notion.’

 

---oOo---

 

Nguồn (Source):
Vietnamese:
khemarama.net
Pāḷi - English:
 digitalpalireader.online

Những tập kinh khác:

DN 1: Brahmajāla – Kinh Phạm Võng – The All-embracing Net of Views

DN 2: Sāmannaphala sutta – Kinh Sa Môn Quả – The Fruits of the Contemplative Life

DN 3: Ambaṭṭhasuttaṃ – Kinh Ambaṭṭha (A-Ma-Trú) – A Young Brahman’s Rudeness And An Old One’s Faith

DN 4: Soṇadaṇḍasuttaṃ – Kinh Chủng Đức – The Qualities Of The True Brahman

DN 5: Kūṭadantasuttaṃ – Kinh Cứu La Đàn Đầu – About Kūṭadanta – A Bloodless Sacrifice

DN 6: Mahālisuttaṃ – Kinh Mahāli – About Mahāli

DN 7: Jāliyasuttaṃ – Kinh Jāliya – About Jāliya

DN 8: Mahāsīhanādasuttaṃ – Kinh Ca-diếp Sư tử hống – The Great Lion’s Roar (The Lion’s Roar to Kassapa)

DN 9: Poṭṭhapādasuttaṃ – Kinh Bố-Sá-Bà-Lâu – About Poṭṭhapāda (States of Consciousness)

DN 10: Subhasuttaṃ – Kinh Tu Ba – About Subha (Morality, Concentration, Wisdom)

DN 11: Kevaṭṭasuttaṃ – Kinh Kiên Cố – About Kevaddha (What Brahma Didn’t Know)

DN 12: Lohiccasuttaṃ – Kinh Lô Hi Gia – About Lohicca (Good and Bad Teachers)

DN 13: Tevijjasuttaṃ – Kinh Tam Minh – The Threefold Knowledge (The Way to Brahmā)

DN 14: Mahāpadānasuttaṃ – Kinh Đại Bổn – The Great Discourse on the Lineage

DN 15: Mahānidānasuttaṃ – Kinh Đại Duyên – The Great Discourse on Origination

DN 16: Mahāparinibbānasuttaṃ – Kinh Đại Bát-Niết-Bàn – The Great Passing (The Buddha’s Last Days)

DN 17: Mahāsudassanasuttaṃ – Kinh Ðại Thiện Kiến Vương – The Great Splendour (A King’s Renunciation)

DN 18: Janavasabhasuttaṃ – Kinh Xà-ni-sa – About Janavasabha (Brahmā Addresses the Gods)

DN 19: Mahāgovindasuttaṃ – Kinh Ðại Ðiển Tôn – The Great Steward (A Past Life of Gotama)

DN 20: Mahāsamayasuttaṃ – Kinh Đại Hội – The Mighty Gathering (Devas Come to See the Buddha)

DN 21: Sakkapañhasuttaṃ – Kinh Đế-Thích Sở Vấn – Sakka’s Questions (A God Consults the Buddha)

DN 22: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ – Kinh Đại Niệm Xứ – The Greater Discourse on the Foundations of Mindfulness

DN 23: Pāyāsisuttaṃ – Kinh Kệ-Túc – About Pāyāsi (Debate with a Sceptic)

DN 24: Pāthikasuttaṃ – Kinh Ba-lê – About Pāṭikaputta (The Charlatan)

DN 25: Udumbarikasuttaṃ – Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử Hống – The Great Lion’s Roar to the Udumbarikans

DN 26: Cakkavattisuttaṃ – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư tử Hống – The Lion’s Roar on the Turning of the Wheel

DN 27: Aggaññasuttaṃ – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn – On Knowledge of Beginnings

DN 28: Sampasādanīyasuttaṃ – Kinh Tự Hoan Hỷ – Serene Faith

DN 29: Pāsādikasuttaṃ – Kinh Thanh Tịnh – The Delightful Discourse

DN 30: Lakkhaṇasuttaṃ – Kinh Tướng – The Marks of a Great Man

DN 31: Siṅgālasuttaṃ – Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt – To Sigālaka (Advice to Lay People)

DN 32: Āṭānāṭiyasuttaṃ – Kinh A-sá-nang-chi – The Āṭānātā Protective Verses

DN 33: Saṅgītisuttaṃ – Kinh Phúng Tụng – The Chanting Together

DN 34: Dasuttarasuttaṃ – Kinh Thập Thượng – Expanding Decades

Những bộ Kinh khác :