Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 4)

Monday April 22, 2024

 

Phật giáo Nguyên Thủy – Theravāda
Ni Viện Khemārāma – Tịnh An Lan Nhã
* * * * *

8 PĀRĀJIKA CỦA TỲ-KHƯU-NI (PHẦN 4)

Khemārāma tổng hợp

Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ

 

* * * * *

UTTARIMANUSSADHAMMASIKKHĀPADAṀ

Tội Khoe Pháp Thượng Nhân Không Thực Chứng

Bhikkhunī Visuddhiguṇā

 

1) Duyên sự - sự quy định lần 1:

- Có nhiều vị TK đồng quan điểm, thân thiết đã vào mùa (an cư) mưa ở bờ sông Vaggumudā.

- Xứ Vajjī có sự khó khăn về vật thực, đời sống khổ cực, dịch bệnh hoành hành, khó khăn trong vật thực. … “chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau, vậy bằng phương thức nào chúng ta có thể sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?” … chúng ta hãy quyết định làm công việc cho các người tại gia đi; như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta … chúng ta hãy đưa tin tức cho các người tại gia đi …

- Này các đại đức, chúng ta sẽ nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia rằng: “Vị tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt nhị thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt tam thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt tứ thiền, vị tỳ khưu như vầy là vị Nhập Lưu, vị tỳ khưu như vầy là vị Nhất Lai, vị tỳ khưu như vầy là vị Bất Lai, vị tỳ khưu như vầy là vị A-la-hán, vị tỳ khưu như vầy có tam Minh, vị tỳ khưu như vầy có lục Thông;” như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.

- Các Tỳ kheo ấy đã bàn nhau sẽ nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia.

- Những người dân tin vậy nên đã dâng cho họ những vật thực thượng hạng mà họ không dâng đến cha mẹ, không tự mình dùng, không cho con cái.

- Các vị ấy có tướng mạo, căn quyền sung mãn, sắc diện rạng rỡ. Sau mùa hạ các Tỳ kheo ấy về thành Vesālī để đảnh lễ Thế Tôn. Trong khi các Tỷ kheo khác ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao thì các Tỷ kheo này ngược lại, Thế Tôn đã tra hỏi và biết được lý do.

- Đức Phật thuyết về năm loại kẻ cướp và ban hành điều học:
“Vị tỳ khưu nào tuyên bố về pháp thượng nhân chưa được thắng tri, là pháp thể nhập của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết của bậc thánh rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.’ Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi, (vị ấy) có ước muốn được trong sạch tội đã vi phạm lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá;’ vị ấy cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”

 


(*) Năm loại kẻ cướp – 5 hạng đạo tặc Tỳ-khưu:

i. Hạng ác tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đến khi nào được tùy tùng bởi một trăm hay một ngàn, ta sẽ đi quanh làng mạc phố thị kinh thành và được tiếp rước, được cung kính, được nể sợ, được cúng dường, được tôn trọng, và có được lợi lộc về vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh của các gia chủ và các bậc xuất gia.” Một thời gian sau, được tùy tùng bởi một trăm hay một ngàn, vị ấy đi quanh làng mạc phố thị kinh thành và được tiếp rước, được cung kính, được nể sợ, được cúng dường, được tôn trọng, và có được lợi lộc về vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh của các gia chủ và các bậc xuất gia.

ii. Ở đây có hạng ác tỳ khưu sau khi đã học tập Pháp và Luật được công bố bởi Như Lai lại xem là của chính bản thân.

iii. Ở đây có hạng ác tỳ khưu bôi nhọ vị trong sạch, có Phạm hạnh, đang thực hành Phạm hạnh thanh tịnh bằng điều phi Phạm hạnh không có nguyên cớ.

iv. Ở đây có hạng ác tỳ khưu chiêu dụ mua chuộc các người tại gia bằng các trọng vật là các vật dụng chủ yếu của hội chúng như là tu viện, vùng đất của tu viện, trú xá, vùng đất của trú xá, gường, ghế, nệm, gối…

v. Trong thế gian bao gồm cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, và loài người, kẻ cướp lớn đứng hàng đầu là kẻ khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng.


2) Sự quy định lần 2:

- Có nhiều vị TK trong khi không thấy tưởng là đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. => Này Ānanda, có các vị tỳ khưu trong khi không thấy tưởng là đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt, trong khi không đắc chứng tưởng là đã đắc chứng, trong khi không thực chứng tưởng là đã thực chứng, đã nói với sự tự tin thái quá về trí giải thoát; điều ấy vốn không thuộc về trường hợp này.

- Đức Phật sửa lại điều học:
“Vị tỳ khưu nào tuyên bố về pháp thượng nhân chưa được thắng tri, là pháp thể nhập của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết của bậc thánh rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.’ Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi, (vị ấy) có ước muốn được trong sạch tội đã vi phạm lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá,’ ngoại trừ vì sự tự tin thái quá; vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”

 

3) Giải thích thuật ngữ:

i. Pháp thượng nhân nghĩa là thiền, sự giải thoát, định, sự chứng đạt, trí tuệ và sự thấy biết, sự tu tập về Đạo, sự thực chứng về Quả, sự dứt bỏ phiền não, sự không còn bị che lấp của tâm, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng.

ii. Trí tuệ: là tam Minh.

- Định: là vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định.

- Sự chứng đạt: là sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện. (1)

- Trí tuệ: là tam Minh.

- Sự tu tập về Đạo: là tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác Chi, bát Thánh Đạo.

- Sự thực chứng về Quả: là sự thực chứng quả vị Nhập Lưu, sự thực chứng quả vị Nhất Lai, sự thực chứng quả vị Bất Lai, sự thực chứng quả vị A-la-hán.

- Sự dứt bỏ phiền não: là sự dứt bỏ tham ái, sự dứt bỏ sân, sự dứt bỏ si.

- Sự không còn bị che lấp của tâm: nghĩa là tâm không còn bị che lấp bởi tham ái, tâm không còn bị che lấp bởi sân, tâm không còn bị che lấp bởi si.

- Sự thỏa thích ở nơi thanh vắng: là sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với sơ thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với nhị thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tam thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tứ thiền.

 

4) Không phạm tội:

Vì sự tự tin thái quá, vị không có ý định khoác lác, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.


5) Các trường hợp:

- Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ do sự tự tin thái quá đã nói về trí giải thoát (aññā). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. -Này tỳ khưu, do sự tự tin thái quá thì vô tội.

- Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: Đại đức có pháp thượng nhân không?- Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự hành trì chơn chánh. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)... - Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.

- Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ cư ngụ ở trong rừng sau khi mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)... Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên cư ngụ ở trong rừng sau khi đã mong mỏi; vị nào cư ngụ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

- Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực sau khi mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)... Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên đi khất thực sau khi đã mong mỏi; vị nào đi thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

- Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này: Này đại đức, tất cả các vị đệ tử của thầy tế độ của chúng ta đều là các vị A-la-hán. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

  • Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
  • Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
  • Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

- Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác về pháp thượng nhân đến vị tỳ khưu khác. Vị ấy cũng đã nói như vầy: - Này đại đức, những sự trói buộc (saṃyojanā) của tôi cũng đã được đoạn tận. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

- Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến nơi vắng vẻ rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Có vị tỳ khưu biết được tâm người khác đã phản bác vị tỳ khưu ấy => - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

- Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: - Này đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? - Này các đại đức, phàm nhân thì không thể chịu đựng nổi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)... Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

  • Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
  • Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
  • Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

- Vào lúc bấy giờ, có người bà-la-môn nọ đã thỉnh mời các tỳ khưu và đã nói điều này: - Thưa các ngài, xin các ngài A-la-hán hãy ngự đến… - Này các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.

- Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở trú xứ nọ sau khi thỏa thuận rằng: “Vị nào sẽ rời trú xứ này trước tiên, chúng ta sẽ biết vị ấy là: ‘Vị A-la-hán.’” Có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Hãy để cho các vị biết ta là: ‘Vị A-la-hán,’” rồi đã rời trú xứ ấy trước tiên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

 

*****

(1) Vô phiền não giải thoát (suññato vimokkho) là nội tâm không còn tham sân si, vô tướng giải thoát (animitto vimokkho) là nội tâm không còn các biểu hiện của tham sân si, vô nguyện giải thoát (appaṇihito vimokkho) là không còn trạng thái mong mỏi về tham sân si (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).

 

Link tải file pdf: Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 4)

Những tập kinh khác:

Bài 1: Giới Thiệu Tổng Quan Về Luật Tạng

Bài 2: Pātimokkha Của Tỳ Kheo Và Tỳ Kheo Ni

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 1)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 2)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 3)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 4)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần Cuối)

Những bộ Kinh khác :