Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 1)

Monday April 22, 2024

Phật giáo Nguyên Thủy – Theravāda
Ni Viện Khemārāma – Tịnh An Lan Nhã
* * * * *

8 PĀRĀJIKA CỦA TỲ-KHƯU-NI (PHẦN 1)

Bhikkhunī Visuddhiguṇā

Khemārāma tổng hợp

Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ

Các mục trong bài viết:

A. Tổng quát

B. Định nghĩa

C. Xử phạt

D. Phân tích chi tiết


A. TỔNG QUÁT

Tỳ khưu ni phải thọ trì bốn điều pārājika đã được quy định cho tỳ khưu được gọi là điều quy định chung và bốn điều quy định riêng được trình bày ở đây; như thế, tổng cộng là 8 điều pārājika.

B. ĐỊNH NGHĨA

- Pārājika là loại trọng giới nặng nề nhất của Tăng Ni, phạm vào lập tức trở thành cư sĩ và suốt đời không thể tái thọ đại giới.
- Sớ giải Kaṅkhavitaranī giải thích: “Pārājiko hotīti parājito hoti parājayaṃ āpanno” – Ba-la-di có nghĩa là bại trận, là thua trắng, là mất hết cho đối phương.
- Đức Phật đã so sánh tình trạng của một Tăng Ni phạm Ba-la-di bằng hình ảnh một người đã bị chặt đầu, một chiếc lá đã lìa cành, một ngọn đá đã vỡ đôi hay một cây thốt nốt đã bị mất ngọn.
- Tăng Ni đã phạm tội Ba-la-di trọn đời không bao giờ được đắp y trở lại.

C. XỬ PHẠT

- Bất cứ người nào phạm tội đó (Pārājika) phải xả y ngay lập tức. Sau đó, vị ấy có thể chọn sống như một Sa-di hoặc như một cư sĩ.
- Ngay cả nếu vị ấy không xả y và tội của vị ấy vẫn còn bị che giấu không cho người khác biết thì vị ấy cũng không còn được xem là một vị TK nữa.
- Trong bất cứ trường hợp nào, vị ấy cũng không thể trở thành một vị TK lần nữa trong suốt cuộc đời hiện tại. Cách duy nhất để được thọ lại y TK là chờ đợi kiếp sau.

D. PHÂN TÍCH CHI TIẾT

1) Tội Thực Hiện Việc Đôi Lứa - Methunadhammasikkhāpadaṁ:

a) Duyên Sự:

  • - Sudinna Kalapaputta là người con trai nhà đại phú. Sudinna Kalandaputta đã đi đến Vesālī do vài công việc tình cờ được nghe pháp bởi Đức Phật và muốn xin xuất gia.
  • Đức Phật bảo Sudinna về xin phép cha mẹ - > cha mẹ không cho phép nên nằm giữa nhà 7 ngày và tuyệt thực > Rồi với lời khuyên của những người bạn, Sudinna được phép xuất gia.
  • Rồi xứ Vajjī nơi ĐĐ Sudinna sống có sự khó khăn về vật thực nên ĐĐ Sudinna về lại quê nhà với ý định nhận từ gia đình. > Rồi mẹ Sudinna đề nghị ĐĐ Sudinna để lại chủng tử và ĐĐ Sudinna đã đồng ý. (để các Licchavi khỏi đoạt lấy tài sản không người thừa tự) => Chư Thiên ở địa cầu đã phàn nàn, phê phán, chê bai.
  • Vợ ĐĐ Sudinna sinh được con trai, sau này cả hai đều xuất gia và đắc A-la-hán.
  • Rồi vì tâm hối hận nên ĐĐ Sudinna đã trở nên ốm o cằn cỗi ...

==> Đức Thế Tôn khiển trách và ban hành điều luật (Quy định lần thứ 1)
“VỊ TK NÀO THỰC HIỆN VIỆC ĐÔI LỨA LÀ VỊ PHẠM TỘI PĀRĀJIKA, KHÔNG ĐƯỢC CỘNG TRÚ.”

  • Có vị TK nọ dùng thức ăn để dụ dỗ con khỉ cái rồi thực hiện việc đôi lứa với nó. Nhiều TK đã thấy con khỉ cái với những dấu hiệu như vậy bèn rình sau bụi cây -> phát hiện sự thật -> trình sự việc lên Đức Thế Tôn.

=> Đức Phật sửa lại luật – (Quy định lần thứ 2)
“VỊ TK NÀO THỰC HIỆN VIỆC ĐÔI LỨA NGAY CẢ VỚI LOÀI THÚ CÁI LÀ VỊ PHẠM TỘI PĀRĀJIKA, KHÔNG ĐƯỢC CỘNG TRÚ”

  • Nhiều vị TK nhóm Vajjīputtaka cư trú ở Vesālī đã thọ thực theo ý thích, ngủ theo ý thích, tắm theo ý thích; sau đó đã thực hiện việc đôi lứa.
  • Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
    “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược mà thực hiện việc đôi lứa thì vị ấy không được tu lên bậc trên trong tương lai. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sau khi lìa bỏ sự học tập và sau khi tuyên bố sự yếu nhược rồi thực hiện việc đôi lứa thì vị ấy được tu lên bậc trên trong tương lai. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào thọ trì sự học tập và lối sống của các tỳ khưu, khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược, mà thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú cái là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”

==> Đức Phật sửa lại luật – (Quy định lần thứ 3)
“VỊ TK NÀO THỌ TRÌ SỰ HỌC TẬP VÀ LỐI SỐNG CỦA CÁC TK, KHI CHƯA LÌA BỎ SỰ HỌC TẬP VÀ CHƯA BÀY TỎ LÒNG YẾU NHƯỢC, MÀ THỰC HIỆN VIỆC ĐÔI LỨA NGAY CẢ VỚI LOÀI THÚ CÁI LÀ VỊ PHẠM TỘI PĀRĀJIKA, KHÔNG ĐƯỢC CỘNG TRÚ.”

b) Chú Thích Thuật Ngữ:

i. Sự học tập: Có ba sự học tập: sự học tập về tăng thượng giới, sự học tập về tăng thượng tâm, sự học tập về tăng thượng tuệ. Ở đây, “sự học tập” được đề cập trong ý nghĩa này là sự học tập về tăng thượng giới.

ii. Lối sống: nghĩa là điều học nào đã được đức Thế Tôn quy định.

iii. Này các tỳ khưu, thế nào là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ?
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)... mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ đức Phật.”… “Tôi còn liên quan gì với đức Phật?”… “Tôi đã chán đức Phật (alaṃ me buddhenāti).” … “Tôi đã chán Phạm hạnh (alaṃ me sabrahmacārīhi).”… Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.

iv. Việc đôi lứa nghĩa là việc nào là việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa; việc ấy gọi là việc đôi lứa.

v. Thực hiện nghĩa là vị nào đưa vật biểu tượng (nimittaṃ) vào vật biểu tượng (nimittena), đưa dương vật (aṅgajātaṃ) vào âm vật (aṅgajātena) cho dầu chỉ (đưa vào) khoảng cách bằng hạt mè, vị ấy được gọi là thực hiện.

vi. Ngay cả với loài thú cái: Sau khi thực hiện việc đôi lứa với giống cái của loài thú thì không còn là sa-môn, không phải là Thích tử nữa chứ không phải chỉ với người nữ; vì thế được gọi là “ngay cả với loài thú cái.”

vii. Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như người đàn ông bị chặt đứt đầu không thể sống bám víu vào thân thể ấy; tương tợ như thế, vị tỳ khưu sau khi thực hiện việc đôi lứa thì không còn là sa-môn, không phải là Thích tử; vì thế được gọi “là vị phạm tội pārājika.”

viii. Không được cộng trú: cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là “không được cộng trú.”

ix. Nữ tánh (itthī) có ba loại: người nữ, phi nhân nữ, thú cái.

: Vị TK nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện, đường tiểu tiện, miệng của người nữ, phi nhân nữ ...(như trên)... của thú cái ...(như trên)... của người lưỡng căn ...(như trên)... của phi nhân lưỡng căn ...(như trên)... của thú lưỡng căn thì phạm tội Pārājika.

c) Không Phạm Tội:

Vị không biết, vị không ưng thuận, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.


d) Lưu ý: Đối với TKN: VỊ TKN CHỈ ĐƯỢC XUẤT GIA MỘT LẦN

1. Yā pana bhikkhunī chandaso methunaṃ dhammaṃ paṭiseveyya antamaso tiracchānagatenapi pārājikā hoti asaṃvāsā.

1. Vị tỳ khưu ni nào thuận tình thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú đực là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú. (bct.1, tk.)

[601] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ đã hoàn tục khi chưa xả bỏ sự học tập. Cô ấy đã quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu ni sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ khưu, không có việc xả bỏ sự học tập đối với tỳ khưu ni; chính khi cô ta bỏ đi thì khi ấy cô ta không còn là tỳ khưu ni nữa.

[602] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ vẫn mang y ca-sa đã chuyển sang sinh hoạt trong khu vực của ngoại đạo. Cô ấy đã quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu ni sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni nào mang y ca-sa chuyển sang sinh hoạt trong khu vực của ngoại đạo, khi cô ấy quay trở lại thì không nên cho tu lên bậc trên nữa. Không có việc từ bỏ học giới đối với tỳ khưu ni. Tỳ khưu ni từ bỏ học giới thì không cho tu nữa, vị tỳ khưu ni chỉ được tu 1 lần thôi. VỊ TỲ KHƯU NI CHỈ ĐƯỢC TU MỘT LẦN DUY NHẤT THÔI

Culavagga - tiểu phẩm /chương Tỳ Khưu Ni/Tụng phẩm thứ ba

 

Dowload file pdf: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 1)

Những tập kinh khác:

Bài 1: Giới Thiệu Tổng Quan Về Luật Tạng

Bài 2: Pātimokkha Của Tỳ Kheo Và Tỳ Kheo Ni

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 1)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 2)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 3)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần 4)

Bài 3: 8 Pārājika Của Tỳ-Khưu-Ni (Phần Cuối)

Những bộ Kinh khác :