[59] Kinh Nhiều cảm thọ – Bahuvedanīya sutta

Tuesday September 21, 2021

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở tại Sāvatthi (Xá vệ), Jetavana (Rừng Kỳ đà), tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi người thợ mộc Pancakanga (Ngũ Phần) đến Tôn giả Udāyi (Ưu đà di), sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, người thợ mộc Pancakanga thưa Tôn giả Udāyi

—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn thuyết có bao nhiêu thọ?

—Này Gia chủ, Thế Tôn thuyết có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Gia chủ, ba thọ này được Thế Tôn nói đến.

—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không thuyết ba thọ. Thế Tôn chỉ thuyết hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Thưa Tôn giả, bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn thuyết là tối thắng lạc đối với vị đã chứng được tịch tịnh.

Lần thứ hai, Tôn giả Udāyi nói với người thợ mộc Pancakanga

—Này Gia chủ, Thế Tôn không thuyết hai thọ. Thế Tôn thuyết ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Gia chủ, ba thọ này được Thế Tôn nói đến.

Lần thứ hai, người thợ mộc Pancakanga thưa Tôn giả Udāyi

—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không thuyết ba thọ. Thế Tôn chỉ thuyết hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Thưa Tôn giả, bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn thuyết là tối thắng lạc đối với vị đã chứng được tịch tịnh.

Lần thứ ba, Tôn giả Udāyi nói với người thợ mộc Pancakanga

—Này Gia chủ, Thế Tôn không thuyết hai thọ. Thế Tôn thuyết ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Gia chủ, ba thọ này được Thế Tôn nói đến.

Lần thứ ba, người thợ mộc Pancakanga thưa Tôn giả Udāyi

—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không thuyết ba thọ. Thế Tôn chỉ thuyết hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Thưa Tôn giả, bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn thuyết là tối thắng lạc đối với vị đã chứng được tịch tịnh.

Như vậy, Tôn giả Udāyi không thể thuyết phục được thợ mộc Pancakanga. Và thợ mộc Pancakanga cũng không thể thuyết phục được Tôn giả Udāyi.

Tôn giả Ānanda nghe được cuộc đàm thoại này giữa Tôn giả Udāyi với thợ mộc Panacakanga. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda thuật lại Thế Tôn rõ toàn diện cuộc đàm thoại giữa Tôn giả Udāyi và thợ mộc Pancakanga. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda

—Này Ānanda, dầu cho pháp môn của Udāyi là đúng, nhưng thợ mộc Pancakanga không chấp nhận. Dầu cho pháp môn của người thợ mộc Pancakanga là đúng, nhưng Udāyi không chấp nhận. Này Ānanda, hai thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; ba thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; năm thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; sáu thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; mười tám thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; ba mươi sáu thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; một trăm lẻ tám thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn. Như vậy, này Ānanda, pháp được Ta thuyết giảng tùy theo pháp môn.

Này Ānanda, vì pháp được Ta thuyết giảng tùy theo pháp môn như vậy, nên đối với những ai không chấp nhận, không tán đồng, không tùy hỷ những điều được khéo nói, khéo thuyết, khéo trình bày cùng nhau, thời sự kiện này sẽ xẩy ra: họ sẽ sống đấu tranh, khẩu tranh, luận tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi. Như vậy, này Ānanda pháp được Ta thuyết giảng tùy theo pháp môn. Này Ānanda, vì pháp được Ta thuyết giảng tùy theo pháp môn như vậy, nên đối với những ai chấp nhận, tán đồng, tùy hỷ những điều được khéo nói, khéo thuyết, khéo trình bày cùng nhau, thời sự kiện này sẽ xẩy ra: họ sẽ sống hòa hợp, tán đồng, tùy hỷ với nhau, như nước với sữa, và nhìn nhau với cặp mắt tương ái.

Này Ānanda, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn, các tiếng do tai nhận thức … các hương do mũi nhận thức … các vị do lưỡi nhận thức … các xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn. Này Ānanda, như vậy là năm dục trưởng dưỡng. Này Ānanda, duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và hỷ, như vậy gọi là dục lạc.

Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng mà các chúng sanh có thể cảm thọ”, Ta không thể chấp nhận như vậy. Vì sao vậy? Vì có một lạc khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn. Và này Ānanda, lạc ấy khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.

Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng mà chúng sanh có thể cảm thọ”, Ta không thể chấp nhận như vậy. Vì sao vậy? Vì có một lạc thọ khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn. Và này Ānanda, lạc ấy khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỳ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.

Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.

Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.

Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng, không tư niệm sai biệt tưởng, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Hư không vô biên xứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.

Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện Hư không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên,” chứng và trú Thức vô biên xứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.

Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện Thức vô biên xứ, nghĩ rằng không có vật gì, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.

Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.

Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng mà chúng sanh có thể cảm thọ”, Ta không thể chấp nhận như vậy. Vì sao vậy? Vì có một lạc thọ khác với lạc thọ kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn. Và này Ānanda, lạc ấy khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.

Sự kiện này xẩy ra, này Ānanda, những du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama nói đến Diệt thọ tưởng định, và chủ trương định ấy thuộc về lạc thọ. Như vậy là gì, như vậy là thế nào? Này Ānanda, được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo cần phải được trả lời như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn không chủ trương rằng chỉ có những gì tùy thuộc lạc thọ là thuộc về lạc; vì rằng, chư Hiền, Thế Tôn chủ trương rằng chỗ nào, chỗ nào có được lạc thọ, như vậy chỗ ấy, chỗ ấy thuộc về lạc”.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Những tập kinh khác:

[01] Kinh Pháp Môn Căn Bản – Mūlapariyāya Sutta

[02] Kinh Tất Cả Lậu Hoặc – Sabbāsava Sutta

[03] Kinh Thừa Tự Pháp – Dhammadāyāda Sutta

[04] Kinh Khiếp Đảm Sợ Hãi – Bhayabherava Sutta

[05] Kinh Không Uế Nhiễm – Anaṅgaṇa Sutta

[06] Kinh Ước Nguyện – Ākaṅkheyya Sutta

[07] Kinh Ví Dụ Tấm Vải – Vatthūpama (Vattha) Sutta

[08] Kinh Đoạn Giảm – Sallekha Sutta

[09] Kinh Chánh Tri Kiến – Sammādiṭṭhi Sutta

[10] Kinh Niệm Xứ – Satipaṭṭhāna Sutta

[11] Tiểu Kinh Sư Tử Hống – Cūḷasīhanāda Sutta

[12] Đại Kinh Sư Tử Hống – Mahāsīhanāda Sutta

[13] Đại Kinh Khổ Uẩn – Mahādukkhakkhandha Sutta

[14] Tiểu Kinh Khổ Uẩn – Cūḷa­dukkha­kkhandha Sutta

[15] Kinh Tư Lượng – Anumāna Sutta

[16] Kinh Tâm Hoang Vu – Cetokhila Sutta

[17] Kinh Khu Rừng – Vanapattha Sutta

[18] Kinh Mật Hoàn – Madhupiṇḍika Sutta

[19] Kinh Song Tầm – Dvedhāvitakka Sutta

[20] Kinh An Trú Tầm – Vitakka­saṇṭhāna Sutta

[21] Kinh Ví Dụ Cái Cưa – Kakacūpama Sutta

[22] Kinh Ví Dụ Con Rắn – Alagaddūpama Sutta

[23] Kinh Gò Mối – Vammika Sutta

[24] Kinh Trạm Xe – Rathavinīta Sutta

[25] Kinh Bẫy Mồi – Nivāpa Sutta

[26] Kinh Thánh Cầu – Ariyapariyesanā (Pāsarāsi)

[27] Tiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi – Cūḷahatthi­padopama Sutta

[28] Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi – Mahāhatthipadopama Sutta

[29] Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây – Mahāsāropama Sutta

[30] Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây – Cūḷasāropama Sutta

[31] Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò – Cūḷagosiṅga Sutta

[32] Đại Kinh Rừng Sừng Bò – Mahāgosiṅga Sutta

[33] Đại Kinh Người Chăn Bò – Mahāgopālaka Sutta

[34] Tiểu Kinh Người Chăn Bò – Cūḷagopālaka Sutta

[35] Tiểu Kinh Saccaka – Cūḷasaccaka Sutta

[36] Đại Kinh Saccaka – Mahāsaccaka Sutta

[37] Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái – Cūḷataṇhā­saṅkhaya Sutta

[38] Đại Kinh Đoạn Tận Ái – Mahātaṇhā­saṅkhaya Sutta

[39] Đại Kinh Xóm Ngựa – Mahā-Assapura Sutta

[40] Tiểu Kinh Xóm Ngựa – Cūḷa-Assapura Sutta

[41] Kinh Sāleyyaka – Sāleyyaka Sutta

[42] Kinh Verañjaka – Verañjaka Sutta

[43] Đại Kinh Phương Quảng – Mahāvedalla Sutta

[44] Tiểu Kinh Phương Quảng – Cūḷavedalla Sutta

[45] Tiểu Kinh Pháp Hành – Cūḷadhamma­samādāna Sutta

[46] Đại Kinh Pháp Hành – Mahādhamma­samādāna Sutta

[47] Kinh Tư Sát – Vīmaṃsaka Sutta

[48] Kinh Kosambiya – Kosambiya sutta

[49] Kinh Phạm Thiên cầu thỉnh – Brahmanimantanika sutta

[50] Kinh Hàng ma – Māratajjanīya sutta

[51] Kinh Kandaraka – Kandaraka sutta

[52] Kinh Bát thành – Aṭṭhakanāgara sutta

[53] Kinh Hữu học – Sekha sutta

[54] Kinh Potaliya – Potaliya sutta

[55] Kinh Jīvaka – Jīvaka sutta

[56] Kinh Ưu-ba-ly – Upāli sutta

[57] Kinh Hạnh con chó – Kukkuravatika sutta

[58] Kinh Vương tử Vô Úy – Abhayarājakumāra sutta

[59] Kinh Nhiều cảm thọ – Bahuvedanīya sutta

[60] Kinh Không gì chuyển hướng – Apannaka sutta

[61] Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala – Ambalaṭṭhikā­rāhulovāda Sutta

[62] Ðại Kinh Giáo Giới La-Hầu-La – Mahārāhulovāda Sutta

[63] Tiểu Kinh Māluṅkya – Cūḷamāluṅkya (Cūḷamālukya) Sutta

[64] Đại Kinh Mahāmāluṅkya – Mahāmāluṅkya (Mahāmālukya) Sutta

[65] Kinh Bhaddāli – Bhaddāli Sutta

[66] Kinh Ví Dụ Con Chim Cáy – Laṭukikopama Sutta

[67] Kinh Cātumā – Cātumā Sutta

[68] Kinh Naḷakapāna – Naḷakapāna Sutta

[69] Kinh Gulissāni – Gulissāni (Goliyāni) Sutta

[70] Kinh Kīṭāgiri – Kīṭāgiri Sutta

[71] Kinh Dạy Vacchagotta Về Tam Minh – Tevijjavacchagotta (Tevijjavaccha) Sutta

[72] Kinh Dạy Vacchagotta Về Lửa – Aggivacchagotta (Aggivaccha) Sutta

[73] Đại Kinh Vaccagotta – Mahāvacchagotta (Mahāvaccha)

[74] Kinh Trường Trảo – Dīghanakha Sutta

[75] Kinh Māgandiya – Māgandiya Sutta

[76] Kinh Sandaka – Sandaka Sutta

[77] Đại Kinh Mahāsakuludāyi – Mahāsakuludāyi Sutta

[78] Kinh Samaṇa­maṇḍikā – Samaṇa­maṇḍikā (Samaṇamuṇḍika)

[79] Tiểu Kinh Sakuludāyi – Cūḷasakuludāyi Sutta

[80] Kinh Vekhanassa – Vekhanassa (Vekhanasa) Sutta

[81] Kinh Ghaṭīkāra – Ghaṭīkāra (Ghaṭikāra) Sutta

[82] Kinh Raṭṭhapāla – Raṭṭhapāla Sutta

[83] Kinh Makhādeva – Makhādeva (Maghadeva) Sutta

[84] Kinh Madhurā – Madhurā Sutta

[85] Kinh Vương Tử Bồ Đề – Bodhirājakumāra Sutta

[86] Kinh Aṅgulimāla – Aṅgulimāla Sutta

[87] Kinh Ái Sanh – Piyajātika Sutta

[89] Kinh Pháp Trang Nghiêm – Dhammacetiya Sutta

[90] Kinh Kaṇṇakatthala – Kaṇṇakatthala Sutta

[91] Kinh Brahmāyu – Brahmāyu Sutta

[92] Kinh Sela – Sela Sutta

[93] Kinh Assalāyana – Assalāyana Sutta

[94] Kinh Ghoṭamukha – Ghoṭamukha Sutta

[95] Kinh Caṅkī – Caṅkī Sutta

[96] Kinh Esukārī – Esukārī Sutta

[97] Kinh Dhānañjāni – Dhānañjāni (Dhanañjāni) Sutta

[98] Kinh Vāsettha – Vāsettha Sutta

[99] Kinh Subha – Subha Sutta

[100] Kinh Saṅgārava- Saṅgārava Sutta

[101] Kinh Devadaha – Devadaha Sutta

[102] Kinh Năm Và Ba – Pañcattaya (Pañcāyatana)

[103] Kinh Nghĩ Như Thế Nào – Kinti Sutta.

[104] Kinh Làng Sama – Sāmagāma Sutta

[105] Kinh Thiện Tinh – Sunakkhatta Sutta

[106] Kinh Bất Động Lợi Ích – Āneñjasappāya Sutta

[107] Kinh Ganaka Moggallāna – Gaṇakamoggallāna Sutta

[108] Kinh Gopaka Moggallāna – Gopakamoggallāna Sutta

[109] Đại Kinh Mãn Nguyệt – Mahāpuṇṇama Sutta

[110] Tiểu Kinh Mãn Nguyệt – Cūḷapuṇṇama Sutta

[111] Kinh Bất Đoạn – Anupada Sutta

[112] Kinh Sáu Thanh Tịnh – Chabbisodhana Sutta

[113] Kinh Chân Nhân – Sappurisa Sutta

[114] Kinh Nên Hành Trì, Không Nên Hành Trì – Sevitabbāsevitabba Sutta

[115] Kinh Mật Hoàn – Bahudhātuka Sutta

[116] Kinh Thôn Tiên – Isigili Sutta

[117] Đại Kinh Bốn Mươi – Mahācattārīsaka Sutta

[118] Kinh Nhập Tức, Xuất Tức Niệm (Kinh Quán Niệm Hơi Thở) – Ānāpānasati Sutta

[119] Kinh Thân Hành Niệm – Kāyagatāsati Sutta

[120] Kinh Hành Sanh – Saṅkhārupapatti Sutta

[121] Kinh Tiểu Không – Cūḷasuññata Sutta

[122] Kinh Đại Không – Mahāsuññata Sutta

[123] Kinh Hi Hữu Vị Tằng Hữu – Acchariya-abbhūta Sutta

[124] Kinh Bạc-câu-la – Bakkula (Bākula) Sutta

[125] Kinh Điều Ngự Địa – Dantabhūmi Sutta125

[126] Kinh Phù-di – Bhūmija Sutta

[127] Kinh A-na-luật – Anuruddha Sutta

[128] Kinh Tùy Phiền Não – Upakkilesa Sutta

[129] Kinh Hiền Ngu – Bālapaṇḍita Sutta

[130] Kinh Thiên Xứ – Devadūta Sutta

[131] Kinh Nhất Dạ Hiền Giả – Bhaddekaratta Sutta

[132] Kinh A-nan Nhất Dạ Hiền Giả – Ānanda­bhaddekaratta Sutta

[133] Kinh Ðại Ca-chiên-ciên Nhất Dạ Hiền Giả – Mahākaccāna­bhaddekaratta Sutta

[134] Kinh Lomasakangiya Nhất Dạ Hiền Giả – Lomasa­kaṅgiya­bhaddekaratta Sutta

[135] Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt – Cūḷakamma­vibhaṅga Sutta

[136] Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt – Mahākamma­vibhaṅga Sutta

[137] Kinh Phân Biệt Sáu Xứ – Saḷāyatana­vibhaṅga Sutta

[138] Kinh Tổng Thuyết Và Biệt Thuyết – Uddesavibhaṅga Sutta

[139] Kinh Vô Tránh Phân Biệt – Araṇavibhaṅga Sutta

[140] Kinh Giới Phân Biệt – Dhātuvibhaṅga Sutta

[142] Kinh Phân Biệt Cúng Dường – Dakkhiṇā­vibhaṅga Sutta

[143] Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc – Anātha­piṇḍik­ovāda Sutta

[144] Kinh Giáo Giới Channa – Channovāda Sutta

[145] Kinh Giáo Giới Phú-lâu-na – Puṇṇovāda Sutta

[146] Kinh Giáo Giới Nandaka – Nandakovāda Sutta

[147] Tiểu Kinh Giáo Giới La-hầu-la – Cūḷarāhulovāda Sutta

[148] Kinh Sáu Sáu – Chachakka Sutta

[149] Đại Kinh Sáu Xứ – Mahāsaḷ­āyatanika Sutta

[150] Kinh Nói Cho Dân Nagaravinda – Nagaravindeyya Sutta

[151] Kinh Khất Thực Thanh Tịnh – Piṇḍapāta­pārisuddhi Sutta

[152] Kinh Căn Tu Tập – Indriyabhāvanā Sutta

Những bộ Kinh khác :