[05] Lịch Sử Đức Phật Sumana

Thursday March 17, 2022

SUTTANTAPIṬAKE KHUDDAKANIKĀYE
TẠNG KINH - TIỂU BỘ

BUDDHAṂSA PĀḶI
Phật Sử

Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda
(Trương đình Dũng)

SRI JAYAWARDHANARAMAYA
COLOMBO – 2005

--------------------

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!

--ooOoo--

 

CATUTTHO SUMANABUDDHAVAṂSO

IV. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT SUMANA

***

Maṅgalassa aparena - sumano nāma nāyako

sabbadhammehi asamo - sabbasattānamuttamo. (1)

Sau (đức Phật) Maṅgala, vị Lãnh Đạo tên Sumana là bậc Tối Thượng của tất cả chúng sanh, không ai sánh bằng về tất cả các pháp (giới, định, tuệ).

Tadā amatabheriyo - āhani mekhale pure

dhammasaṅkhasamāyuttaṃ - navaṅgajinasāsanaṃ. (2)

Khi ấy ở thành phố Mekhala, Ngài đã gióng lên những tiếng trống bất tử được liên kết với những hồi tù và Giáo Pháp là lời giáo huấn của đấng Chiến Thắng gồm chín thể loại.

Vijinitvā kilese so - patto sambodhimuttamaṃ

māpesi nagaraṃ satthā - saddhammapuravaruttamaṃ. (3)

Sau khi chiến thắng các phiền não, đấng Đạo Sư ấy đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng và đã tạo lập thành phố là thành phố Chánh Pháp cao quý tối thượng.

Nirantaraṃ akuṭilaṃ - ujuṃ vipulavitthataṃ

māpesi so mahāvīthiṃ - satipaṭṭhānavaruttamaṃ. (4)

Vị ấy đã tạo ra con đường lớn không bị cách khoảng, không khúc khuỷu, thẳng tắp, dài và rộng, (ấy là) Tứ Niệm Xứ cao quý tối thượng.

Phale cattāri sāmaññe - catasso paṭisambhidā

chaḷabhiññāṭṭhasamāpattī - pasāresi tattha vīthiyaṃ. (5)

Nơi đó, ở tại con đường Ngài đã trưng bày bốn quả vị sa-môn, bốn tuệ phân tích, sáu thắng trí, và tám thiền chứng.

Ye appamattā akhilā - hiriviriyehupāgatā

te te ime guṇavare - ādiyanti yathā sukhaṃ. (6)

Những ai không bị xao lãng, (tâm) không bị ngăn trở, có được sự hổ thẹn tội lỗi và sự tinh tấn, chính những người ấy đạt được các đức hạnh cao quý này một cách dễ dàng.

Evametena yogena - uddharanto mahājanaṃ

bodhesi paṭhamaṃ satthā - koṭisatasahassiyo. (7)

Như thế bằng phương thức ấy, trong lúc nâng đỡ đại chúng bậc Đạo Sư đã giác ngộ trước tiên một trăm ngàn koṭi vị.

Yamhi kāle mahāvīro - ovadi titthiye gaṇe

koṭisatasahassāni - dutiye dhammadesane. (8)

Trong dịp thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhì là lúc đấng Đại Hùng giáo huấn các đồ chúng ngoại đạo, đã có một trăm ngàn koṭi (người lãnh hội).

Yadā devā manussā ca - samaggā ekamānasā

nirodhapañhaṃ pucchiṃsu - saṃsayañcāpi mānasaṃ. (9)

Vào lúc chư thiên và nhân loại có sự đồng lòng nhất trí đã vấn câu hỏi về sự Tịch Diệt và luôn cả sự nghi ngờ ở trong tâm nữa.

Tadāpi dhammadesane - nirodhaparidīpane

navutikoṭisahassānaṃ - tatiyābhisamayo ahu. (10)

Khi ấy, cũng vào dịp thuyết giảng Giáo Pháp giải thích rõ ràng về sự Tịch Diệt, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của chín mươi ngàn koṭi vị.

Sannipātā tayo āsuṃ - sumanassa mahesino

khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ - santacittāna tādinaṃ. (11)

Bậc Đại Ẩn Sĩ Sumana đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.

Vassaṃ vuṭṭhassa bhagavato - abhisaṅghuṭṭhe pavāraṇe

koṭisatasahassehi - pavāresi tathāgato. (12)

Khi đức Thế Tôn đã trải qua mùa (an cư) mưa, vào ngày lễ Pavāraṇā đã được công bố, Như Lai đã hành lễ Pavāraṇā cùng với một trăm ngàn koṭi vị.

Tato paraṃ sannipāte - vimale kañcanapabbate

navutikoṭisahassānaṃ - dutiyo āsi samāgamo. (13)

Sau đó vào lúc khác, khi các vị không còn ô nhiễm đã tụ hội ở ngọn núi Kañcana, đã có cuộc hội tụ thứ nhì của chín mươi ngàn koṭi vị.

Yadā sakko devarājā - buddhadassanupāgami

asītikoṭisahassānaṃ - tatiyo āsi samāgamo. (14)

Khi Chúa Trời Sakka đi đến chiêm ngưỡng đức Phật, đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám mươi ngàn koṭi vị.

Ahaṃ tena samayena - nāgarājā mahiddhiko

atulo nāma nāmena - uppannakusalasañcayo. (15)

Vào lúc bấy giờ, ta là vị Long Vương tên là Atula, có đại thần lực, có sự tích lũy các thiện pháp đã được thành tựu.

Tadāhaṃ nāgabhavanā - nikkhamitvā sañātibhi

nāgānaṃ dibbaturiyehi - sasaṅghaṃ jinamupaṭṭhahiṃ. (16)

Khi ấy, sau khi rời khỏi long cung ta đã cùng thân quyến phục vụ đấng Chiến Thắng cùng với hội chúng bằng các nhạc cụ thiên đình của loài rồng.

Koṭisatasahassāni - annapānena tappayiṃ

paccekadussayugaṃ datvā - saraṇaṃ tamupāgamiṃ. (17)

Ta đã làm hài lòng một trăm ngàn koṭi vị với thức ăn và nước uống. Sau khi đã dâng mỗi một vị hai xấp vải, ta đã quy y vị ấy.

Sopi maṃ buddho byākāsi - sumano lokanāyako

aparimeyye ito kappe - ayaṃ buddho bhavissati. (18)

Đức Phật ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumana, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna - katvā dukkarakārikaṃ.

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyattavaramaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi - bujjhissati mahāyaso.

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

Imassa janikā mātā - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma - ayaṃ hessati gotamo.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

Anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

kolito upatisso ca - aggā hessanti sāvakā

ānando nāmupaṭṭhāko - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

Khemā uppalavaṇṇā ca - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

Bodhi tassa bhagavato - assatthoti pavuccati.

citto ca hatthāḷavako - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

Nandamātā ca uttarā - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassasataṃ tassa - gotamassa yasassino.

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”

Idaṃ sutvāna vacanaṃ - asamassa mahesino

āmoditā naramarū - buddhavījaṅkuro ayaṃ.

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

Ukkuṭṭhisaddā vattanti - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti - dasasahassī sadevakā.

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

Yadimassa lokanāthassa - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ.

“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

Yathā manussā nadiṃ tarantā - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna - uttaranti mahānadiṃ.

Giống như những người đang băng ngang dòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua dòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

Evameva mayaṃ sabbe - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ

anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ. (19)

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

Tassāpi vacanaṃ sutvā - bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ

uttariṃ vattamadhiṭṭhāsiṃ - dasapāramipūriyā. (21)

Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.

Mekhalaṃ nāma nagaraṃ - sudatto nāma khattiyo

sirimā nāma janikā - sumanassa mahesino. (21)

Thành phố có tên là Mekhala, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Sudatta, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Sumana tên là Sirimā.

Navavassasahassāni - agāraṃ ajjhāvasi so

cando sucando vaṭaṃso - tayo pāsādamuttamā. (22)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Canda, Sucanda, và Vaṭaṃsa.

Tesaṭṭhisatasahassāni - nāriyo samalaṅkatā

vaṭaṃsakī nāma nārī - anupamo nāma atrajo. (23)

Có sáu mươi ba trăm ngàn (sáu triệu ba trăm ngàn) phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vataṃsakī. Con trai tên là Anupama.

Nimitte caturo disvā - hatthiyānena nikkhami

anūnadasamāsāni - padhānaṃ padahī jino. (24)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện voi và đã ra sức nỗ lực mười tháng không thiếu sót.

Brahmunā yācito santo - sumano lokanāyako

vattacakko mahāvīro - mekhale puravaruttame. (25)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Sumana có bánh xe (Chánh Pháp) đã được chuyển vận ở thành phố Mekhala cao quý tối thượng.

Saraṇo bhāvitatto ca - ahesuṃ aggasāvakā

udeno nāmupaṭṭhāko - sumanassa mahesino. (26)

Saraṇa và Bhāvitatta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumana tên là Udena.

Soṇā ca upasoṇā ca - ahesuṃ aggasāvikā

sopi buddho asamasamo - nāgamūle abujjhatha. (27)

Soṇā và Upasoṇā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Đức Phật ấy, là vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, đã giác ngộ cũng ở cội cây Nāga.

Varuṇo ceva saraṇo ca - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

cālā ca upacālā ca - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (28)

Varuṇa và luôn cả Saraṇa đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Cālā và Upacālā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

Uccattanena so buddho - navutihatthamuggato

kañcanagghikasaṅkāso - dasasahassī virocati. (29)

Đạt đến chín mươi cánh tay (45 mét) về chiều cao, đức Phật ấy tỏa sáng mười ngàn thế giới tợ như kim loại vàng quý giá.

Navutivassasahassāni - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so - tāresi janataṃ bahuṃ. (30)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

Tāraṇīye tārayitvā - bodhaneyye abodhayi

parinibbāyi sambuddho - uḷurājāva atthami. (31)

Sau khi đã giúp cho vượt qua những người xứng đáng được vượt qua và đã giác ngộ những người xứng đáng được giác ngộ, đấng Toàn Giác đã Vô Dư Niết Bàn ví như mặt trăng (vua của các vì sao) đã lặn.

Te ca khīṇāsavā bhikkhū - so ca buddho asādiso

atulaṃ pabhaṃ dassayitvā - nibbutā te mahāyasā. (32)

Đức Phật ấy là không gì sánh được và các vị tỳ khưu ấy là các bậc Lậu Tận. Sau khi thị hiện ánh sáng vô song, các vị có danh tiếng lớn lao ấy đã Niết Bàn.

Tañca ñāṇamatuliyaṃ - tāni ca atuliyāni ratanāni

sabbaṃ samantarahitaṃ - nanu rittā sabbasaṅkhārāti. (33)

Trí tuệ vô song ấy và các châu báu không gì so sánh ấy, tất cả đều hoàn toàn biết mất, phải chăng tất cả các hành là trống không?

Sumano yasadharo buddho - aṅgārāmamhi nibbuto

tattheva tassa jinathūpo - catuyojanamuggato. (34)

Đức Phật Sumana, bậc có danh tiếng, đã Niết Bàn tại tu viện Aṅgāra. Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy đã được dựng lên cao bốn do-tuần ở ngay tại nơi ấy.

Sumanabuddhavaṃso catuttho.

Lịch sử đức Phật Sumana là phần thứ tư.

--ooOoo--

Những tập kinh khác:

[00] Mục Lục và Giới Thiệu

[01] Chương Dẫn Nhập: Con Đường Kinh Hành Bằng Châu Báu

[02] Lịch Sử Đức Phật Dīpaṅkara – Bồ Tát Sumedha

[03] Lịch Sử Đức Phật Koṇḍañña

[04] Lịch Sử Đức Phật Maṅgala

[05] Lịch Sử Đức Phật Sumana

[06] Lịch Sử Đức Phật Revata

[07] Lịch Sử Đức Phật Sobhita

[08] Lịch Sử Đức Phật Anomadassī

[09] Lịch Sử Đức Phật Paduma

[10] Lịch Sử Đức Phật Nārada

[11] Lịch Sử Đức Phật Padumuttara

[12] Lịch Sử Đức Phật Sumedha

[13] Lịch Sử Đức Phật Sujāta

[14] Lịch Sử Đức Phật Piyadassī

[15] Lịch Sử Đức Phật Atthadassī

[16] Lịch Sử Đức Phật Dhammadassī

[17] Lịch Sử Đức Phật Siddhattha

[18] Lịch Sử Đức Phật Tissa

[19] Lịch Sử Đức Phật Phussa

[20] Lịch Sử Đức Phật Vipassī

[21] Lịch Sử Đức Phật Sikhī

[22] Lịch Sử Đức Phật Vessabhū

[23] Lịch Sử Đức Phật Kakusandha

[24] Lịch Sử Đức Phật Konāgamana

[25] Lịch Sử Đức Phật Kassapa

[26] Lịch Sử Đức Phật Gotama

[27] – [28]

Những bộ Kinh khác :