[01] Chương Dẫn Nhập: Con Đường Kinh Hành Bằng Châu Báu

Thursday March 17, 2022

SUTTANTAPIṬAKE KHUDDAKANIKĀYE
TẠNG KINH - TIỂU BỘ

BUDDHAṂSA PĀḶI
Phật Sử

Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda
(Trương đình Dũng)

SRI JAYAWARDHANARAMAYA
COLOMBO – 2005

--------------------

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!

--ooOoo--

RATANACAṄKAMANAKAṆḌO

CHƯƠNG DẪN NHẬP: CON ĐƯỜNG KINH HÀNH BẰNG CHÂU BÁU

(1) Brahmā ca lokādhipatī sahampati

katañjalī anadhivaraṃ ayācatha

santīdha sattā apparajakkhajātikā

desehi dhammaṃ anukampimaṃ pajanti. [1]

Khi ấy, vị Phạm Thiên Sahampati chúa tể của thế gian đã chắp tay thỉnh cầu đức Phật rằng: “Ở đây có những chúng sanh có bản chất ít bị ô nhiễm, xin Ngài hãy vì lòng bi mẫn thuyết giảng Giáo Pháp đến hạng chúng sanh này.”

Bhagavā lokādhipatī naruttamo

katañjalībrahmagaṇehi yācito

santīdha dhīrāpparajakkhajātikā

desetu dhammaṃ anukampimaṃ pajaṃ.

Đức Thế Tôn, vị chúa tể của thế gian và là đấng tối thượng của loài người, đã được hội chúng Phạm Thiên chắp tay lên thỉnh cầu rằng: “Ở đây có những chúng sanh có bản chất ít bị ô nhiễm, xin Ngài hãy vì lòng bi mẫn thuyết giảng Giáo Pháp đến hạng chúng sanh này.

Desetu sugato dhammaṃ - desetu amataṃ padaṃ

lokānamanukampāya - dhammaṃ desetu nāyaka.

Xin đấng Thiện Thệ hãy thuyết giảng Giáo Pháp. Xin Ngài hãy thuyết giảng đạo lộ Bất Tử. Hỡi đấng Lãnh Đạo, vì lòng bi mẫn đối với thế gian xin Ngài hãy thuyết giảng Giáo Pháp.

(2) Sampannavijjācaraṇassa tādino

jutindharass’antimadehadhārino

tathāgatass’appaṭipuggalassa

uppajji kāruññatā sabbasatte. 

Lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sanh đã sanh khởi đến Ngài là vị đã thành tựu toàn vẹn trí tuệ và đức hạnh (Minh Hạnh Túc) như thế ấy, là đấng Quang Minh có thân mạng cuối cùng, là đức Như Lai không người sánh kịp.”

Taṃ sutvā bhagavā satthā idaṃ vacanamabravi.

Nghe vậy, đức Thế Tôn bậc Đạo Sư đã nói lời này:

Apārutā te amatassa dvārā

ye sotavanto pamuñcantu saddhaṃ

vihiṃsasaññī paguṇaṃ na bhāsiṃ

dhammaṃ paṇītaṃ manujesu brahmeti.

“Những ai có tai nghe hãy cởi trói niềm tin. Các cánh cửa bất tử là không còn che lấp đối với các vị ấy. Này Phạm Thiên, do suy nghĩ là tai hại nên ta đã không thuyết giảng cho các chúng sanh về Giáo Pháp tuyệt vời đã được thuần thục.”

Bhagavā tasmiṃ samaye - veneyyānaṃnukampako

ajapālanigrodhadumā - pāyāsi munipuṅgavo.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, đấng Hiền Triết cao thượng, vị có lòng bi mẫn đối với những người cần được huấn luyện, đã khởi đầu từ cội cây Nigrodha của những người chăn dê.

Anukkamena gamanena - bārāṇasimupāgami

tasmiṃ hi pallaṅkavare - nisīdi bhagavā tadā.

Với sự ra đi theo tuần tự, đức Thế Tôn đã ngự đến Bārāṇasī. Khi ấy, Ngài đã ngồi xuống trong chính tư thế kiết già cao quý ấy.

Pañcannaṃ vaggiyānañca - dhammacakkappavattayi

dukkhaṃ dukkhasamuppādaṃ - nirodhaṃ maggamuttamaṃ.

Và Ngài đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp về Khổ, về sự sanh khởi của Khổ, về Diệt, và về Đạo Lộ tối thượng đến nhóm năm vị.

Pavattayi taṃ bhagavā - isī te pañcavaggiyā

aṭṭhārasakoṭi tadā - brahmadevagaṇā saha.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã chuyển vận điều ấy đến nhóm ẩn sĩ năm vị ấy cùng với hội chúng Phạm Thiên gồm mười tám koṭi vị.[2]

Paṭhamasmiṃ sannipāte - dhammābhisamayā labhu

koṇḍañño bhaddiyo vappo - mahānāmo ca assaji.

Trong lần tụ hội thứ nhất, Koṇḍañño, Bhaddiyo, Vappo, Mahānāmo, và Assaji đã đạt được sự lãnh hội Giáo Pháp.

Vinītā tena parena - sabbepi anupubbaso

aṭṭhārasakoṭi tadā - brahmadevagaṇā saha.

Khi ấy, tất cả đã được huấn luyện theo tuần tự từ vị này đến vị khác cùng với hội chúng Phạm Thiên gồm mười tám koṭi vị.

Paṭhamasmiṃ sannipāte - sotāpattiphalaṃ tadā

anukkamena gamanena - rājagahamupāgami.

Khi ấy, trong lần tụ hội thứ nhất đã có quả vị Nhập Lưu. Với sự ra đi theo tuần tự, Ngài đã ngự đến Rājagaha (Vương Xá).

Veḷuvanamahāvihāre - vihāsi munipuṅgavo

taṃ sutvā bimbisāro ca - bhagavantamupasaṅkami.

Vị Hiền Triết cao thượng đã ngự tại đại tu viện Veḷuvana. Và sau khi nghe được điều ấy, (đức vua) Bimbisāra (Bình Sa Vương) đã đi đến gặp đức Thế Tôn.

Ekādasanahuteneva - parivārā mahā ahu

dīpagandhadhūpamālādīni - bhagavantamabhipūjayi.

Đám tùy tùng là đông đảo với mười một nahuta (110.000) người.[3] (Đức vua) đã cúng dường đèn, hương thơm, nhang, tràng hoa, v.v... đến đức Thế Tôn.

Tasmiṃ samāgameyeva - kāmādīnava desayi

desanāpariyosāne - rājānampamukhaṃ tadā.

Khi ấy tại chính cuộc hội tụ này, Ngài đã thuyết giảng về tai hại của các dục đến vị vua lãnh tụ cho đến khi chấm dứt cuộc thuyết giảng.

Caturāsītisahassānaṃ - dhammābhisamayo ahu

taṃ sutvāna pitā rājā - nava dūtāni pesayi.

Đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người. Nghe được điều ấy, vua cha đã phái đi chín vị sứ giả.

Navasahassaparivārehi - pabbajjaṃ yācate muniṃ

navasahassaparivārā - arahattamupāgamuṃ.

Cùng với chín ngàn tùy tùng, họ đã cầu xin đấng Hiền Triết về việc xuất gia. Họ và đoàn tùy tùng chín ngàn người đã đạt đến phẩm vị A-la-hán.

Kāḷudāyi pariyosāne - bhikkhuvesaṃ gahetvā so

sahassaparivārehi - bhagavantaṃ nimantayi.

Cuối cùng, vị Kāḷudāyi ấy sau khi đạt được hình tướng tỳ khưu cùng với một ngàn tùy tùng đã mời thỉnh đức Thế Tôn.

Nimantamadhivāsetvā - mahāmaggaṃ paṭipajjati

vīsatisahassabhikkhūhi - pāyāsi sakyapuṅgavo.

Sau khi nhận lời thỉnh mời, đấng thực hành đạo lộ vĩ đại, vị Sakya cao thượng, đã lên đường cùng với hai mươi ngàn vị tỳ khưu.

Anukkamena gamanena - kapilavatthumupāgami

rohiṇiyā nadītīre - pāṭihāramakāsi so.

Với sự ra đi theo tuần tự, Ngài đã ngự đến Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Vị ấy đã thực hiện điều kỳ diệu ở bờ sông Rohiṇī.

Tasmiṃ pallaṅkamajjhamhi - nisīdi sakyapuṅgavo

mahāvessantaradhammaṃ - desetvā bhagavā pitu

caturāsītisahassānaṃ - dhammābhisamayo ahu.

Vị Sakya cao thượng đã ngồi xuống ở trung tâm với thế kiết già ấy. Đức Thế Tôn đã thuyết giảng Giáo Pháp về (Bổn Sanh) Vessantara vĩ đại đến người cha. Đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người.

(3) Na h’ete jānanti sadevamanussā

buddho ayaṃ kīdisako naruttamo

iddhibalaṃ paññābalañca kīdisaṃ

buddhabalaṃ lokahitassa kīdisaṃ. 

(Đức Phật quán rằng:) “Bởi vì chư thiên và đám người này không biết được đức Phật đấng Tối Thượng Nhân này là như thế nào, (không biết được) năng lực của thần thông và năng lực của trí tuệ là như thế nào, (không biết được) Phật lực của đấng tế độ chúng sanh là như thế nào.

(4) Na h’ete jānanti sadevamanussā

buddho ayaṃ īdisako naruttamo

iddhibalaṃ paññābalañca īdisaṃ

buddhabalaṃ lokahitassa īdisaṃ. 

Bởi vì chư thiên và đám người này không biết được đức Phật đấng Tối Thượng Nhân này là như vầy, (không biết được) năng lực của thần thông và năng lực của trí tuệ là như vầy, (không biết được) Phật lực của đấng tế độ chúng sanh là như vầy.

(5) handāhaṃ dassayissāmi - buddhabalaṃ anuttaraṃ

caṅkamaṃ māpayissāmi - nabhe ratanamaṇḍitaṃ. 

Như vậy, ta sẽ thị hiện Phật lực tối thượng. Ta sẽ làm hiện ra con đường kinh hành được trang hoàng bằng châu báu ở trên không trung.”

(6) Bhummā mahārājikā tāvatiṃsā

yāmā ca devā tusitā ca nimmitā

paranimmitā yepi ca brahmakāyikā

ānanditā vipulamakaṃsu ghosaṃ. 

Chư thiên thuộc địa cầu, thuộc cõi Tứ Đại Thiên Vương, thuộc cõi Đạo Lợi, thuộc cõi Dạ Ma, thuộc cõi Đẩu Suất, thuộc cõi Hóa Lạc Thiên, thuộc cõi Tha Hóa Tự Tại, luôn cả đoàn tùy tùng thuộc cõi Phạm Thiên nữa đều hoan hỷ và đã tạo nên tiếng hò reo vang dội.

(7) Obhāsitā ca paṭhavī sadevakā

puthū ca lokantarikā asaṃvutā

tamo ca tibbo vihato tadā ahu

disvāna accherakapāṭihīraṃ. 

Khi ấy, sau khi chứng kiến điều kỳ diệu phi thường, quả địa cầu cùng với các cõi trời đã được chiếu sáng và vô số khoảng không gian tối đen dầy đặc phân chia các cõi thế giới đều bị tiêu tan.

(8) Sadevagandhabbamanussarakkhase

ābhā uḷārā vipulā ajāyatha

imasmiṃ loke parasmiṃ cūbhaye

adhopi ca uddhaṃ tiriyañca vitthataṃ. 

Ánh sáng chói lọi rực rỡ đã hiện ra bên dưới, bên trên, chiều ngang, và chiều dọc ở giữa các hạng thiên nhân, càn-thát-bà, nhân loại, và quỷ sứ ở cả hai nơi: ở thế gian này và ở thế giới khác.

(9) Sattuttamo anadhivaro vināyako

satthā ahu devamanussapūjito

mahānubhāvo satapuññalakkhaṇo

dassesi accherakapāṭihīriyaṃ. 

Được chư thiên và nhân loại cúng dường, đấng Đạo Sư, bậc Tối Thượng của chúng sanh, không ai vượt trội, là nhà lãnh đạo có đại oai lực có trăm tướng mạo về phước báu, đã thị hiện điều kỳ diệu phi thường.

tasmiṃ samāgame satthā - abbhuggantvā nabhe tale

sinerupabbataṃ rammaṃ - caṅkamaṃ māpayī jino.

Trong cuộc hội tụ ấy, đấng Đạo Sư đấng Chiến Thắng, sau khi bay lên trên bề mặt không trung, đã làm hiện ra ngọn núi Sineru có con đường kinh hành xinh đẹp.

Dasasahassilokadhātu- - devatā - jinasantike

tathāgataṃ namassitvā - buddhapūjaṃ kariṃsu te.

Trong sự hiện diện của đấng Chiến Thắng, chư thiên của mười ngàn thế giới đã kính lễ đức Như Lai. Họ đã thực hiện sự cúng dường đến đức Phật.

(10) So yācito devavarena cakkhumā

atthaṃ samekkhitvā tadā naruttamo

caṅkamaṃ māpayi lokanāyako

suniṭṭhitaṃ sabbaratananimmitaṃ. 

Khi được thỉnh cầu bởi vị thiên nhân cao quý, bậc Hữu Nhãn ấy, đấng Tối Thượng Nhân, vị Lãnh Đạo Thế Gian, sau khi quán xét về điều lợi ích đã làm hiện ra con đường kinh hành được hoàn thành khéo léo và đã được thực hiện bằng tất cả các loại châu báu.

(11) Iddhi ca ādesanānusāsanī

tipāṭihīre bhagavā vasī ahu

caṅkamaṃ māpayi lokanāyako

suniṭṭhitaṃ sabbaratananimmitaṃ. 

Đức Thế Tôn đã thuần thục về ba điều kỳ diệu là: thần thông, tài thuyết giảng, và sự giáo hóa. Đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã làm hiện ra con đường kinh hành được hoàn thành khéo léo và đã được thực hiện bằng tất cả các loại châu báu.

(12) Dasasahassīlokadhātuyā - sinerupabbatuttame thambheva

dassesi paṭipāṭiyā - caṅkame ratanāmaye. 

Ở tại mười ngàn thế giới, Ngài đã thị hiện theo tuần tự những con đường kinh hành làm bằng châu báu giống như các cột trụ ở ngọn núi Sineru tối thắng.

(13) Dasasahassaṃ atikkamma - caṅkamaṃ māpayī jino

sabbasoṇṇamayā passe - caṅkame ratanāmaye. 

Sau khi vượt qua mười ngàn thế giới, đấng Chiến Thắng đã tạo ra con đường kinh hành làm toàn bằng vàng ở bên cạnh con đường kinh hành làm bằng châu báu.

(14) Tulāsaṅghāṭānuvattā - sovaṇṇaphalakatthatā

vedikā sabbasovaṇṇā - dubhato passesu nimmitā. 

Cả hai con đường đều tương đương, được lót nền bằng vàng miếng. Các lan can đều toàn bằng vàng đã được thực hiện ở cả hai bên.

(15) Maṇimuttāvālukākiṇṇo - nimmito ratanāmayo

obhāseti disā sabbā - sataraṃsīva uggato. 

Được thực hiện bằng các loại châu báu, được rải rắc lớp cát là ngọc ma-ni và ngọc trai, con đường rọi sáng khắp cả các phương giống như ánh mặt trời đã mọc lên.

(16) Tasmiṃ caṅkamane dhīro - dvattiṃsavaralakkhaṇo

virocamāno sambuddho - caṅkame caṅkamī jino. 

Trong việc đi kinh hành ấy, vị thông thái, bậc Toàn Giác, đấng Chiến Thắng, rực rỡ với ba mươi hai tướng trạng cao quý, đã đi kinh hành ở con đường kinh hành.

(17) Dibbaṃ mandāravaṃ pupphaṃ - padumaṃ pārichattakaṃ

caṅkamane okiranti - sabbe devā samāgatā. 

Tất cả chư thiên đã tụ hội lại rải rắc xuống bông hoa mạn-đà-la, hoa sen, hoa san hô thuộc về cõi trời (tán thán) sự việc đi kinh hành (của đức Phật).

(18) Passanti taṃ devasaṅghā - dasasahassī samāgatā

namassamānā nipatanti - tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā. 

Hội chúng chư thiên thuộc mười ngàn thế giới đã tụ hội lại chiêm ngưỡng đức Phật. Trong lúc kính lễ, họ hớn hở, vui mừng, hoan hỷ hạ thấp người xuống.

(19) Tāvatiṃsā ca yāmā ca - tusitā cāpi devatā

nimmānaratino devā - ye devā vasavattino

udaggacittā sumanā - passanti lokanāyakaṃ. 

Chư thiên ở cõi Đạo Lợi, cõi Dạ Ma, luôn cả cõi Đẩu Suất, chư thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên và chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại chiêm ngưỡng vị Lãnh Đạo Thế Gian với tâm phấn khởi hân hoan.

(20) Sadevagandhabbamanussarakkhasā

nāgā supaṇṇā athavāpi kinnarā

passanti taṃ lokahitānukampakaṃ

nabheva accuggatacandamaṇḍalaṃ. 

Cùng với chư thiên, các hạng càn-thát-bà, nhân loại, quỷ sứ, các loài rồng, thiên điểu, luôn cả loài kim-sỉ-điểu, nhìn thấy đấng tế độ chúng sanh có lòng bi mẫn ấy giống như mặt trăng tròn đã mọc lên ở ngay trên bầu trời.

(21) Ābhassarā subhakiṇhā - vehapphalā akaniṭṭhā ca

susuddhasukka vatthavasanā - tiṭṭhanti pañjalīkatā. 

(Chư thiên) ở các cõi Quang Âm Thiên, Biến Tịnh Thiên, Quảng Quả Thiên, và Vô Tưởng Thiên với trang phục vô cùng tinh khiết thanh bạch đứng chắp tay.

(22) Muñcanti pupphaṃ pana pañcavaṇṇikaṃ

mandāravaṃ candanacuṇṇamissakaṃ

bhamanti celāni ca ambare tadā

aho jino lokahitānukampako. 

Hơn nữa, các vị còn rắc xuống bông hoa mạn-đà-la năm màu được trộn lẫn với bột phấn gỗ đàn hương và vung vẫy các tấm vải ở trên không trung (ca ngợi rằng): “Ôi Đấng Chiến Thắng, bậc có lòng bi mẫn tế độ chúng sanh.

(23) Tuvaṃ satthā ca ketu ca - dhajo yūpo ca pāṇinaṃ

parāyano patiṭṭhā ca - dīpo ca dipaduttamo. 

Ngài là vị thầy, là ngọn cờ, là biểu hiện, là trụ cột của chúng sanh, là nơi chốn nâng đỡ, là ngọn đèn (là hòn đảo),[4] là bậc tối thượng của loài hai chân.”

(24) Dasasahassilokadhātuyā - devatāyo mahiddhikā

parivāretvā namassanti - tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā. 

(Với vẻ) hớn hở, vui mừng, hoan hỷ, chư thiên thuộc mười ngàn thế giới có đại thần lực vây quanh lại tỏ sự tôn kính.

(25) Devatā devakaññā ca - pasannā tuṭṭhamānasā

pañcavaṇṇikapupphehi - pūjayanti narāsabhaṃ. 

Với tâm tư hớn hở tín thành, các thiên nhân và các tiên nữ cúng dường những bông hoa ngũ sắc đến bậc Nhân Ngưu.

(26) Passanti taṃ devasaṅghā - pasannā tuṭṭhamānasā

pañcavaṇṇikapupphehi - pūjayanti narāsabhaṃ. 

Chiêm ngưỡng vị ấy, hội chúng chư thiên (khởi tâm) tín thành, có tâm tư hoan hỷ, rồi cúng dường những bông hoa ngũ sắc đến bậc Nhân Ngưu (tán thán rằng):.

(27) Aho acchariyaṃ loke - abbhūtaṃ lomahaṃsanaṃ

na medisaṃ bhūtapubbaṃ - accheraṃ lomahaṃsanaṃ. 

“Ôi thật là điều kỳ diệu ở thế gian! Thật là phi thường khiến lông dựng đứng! Điều kỳ diệu khiến lông dựng đứng giống như việc này trước đây chưa từng xảy ra!”

(28) Sakasakamhi bhavane - nisīditvāna devatā

hasanti tā mahāhasitaṃ - disvānaccherakaṃ nabhe. 

Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ở trên bầu trời, các thiên nhân ấy đã ngồi xuống ở cung điện của mỗi một vị và nở nụ cười vang vang.

(29) Ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā - tiṇosadhinivāsino

katañjalī namassanti - tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā. 

Các vị ngự ở không trung và ngự ở trên đất liền trang phục bằng lá cỏ, chắp tay lên nghiêng mình kính lễ (với vẻ) hớn hở, vui mừng, hoan hỷ.

(30) Yepi dīghāyukā nāgā - puññavanto mahiddhikā

pamoditā namassanti - pūjayanti naruttamaṃ. 

Ngay cả các loài rồng trường thọ có phước báu và đại thần lực cũng hoan hỷ lễ bái và cúng dường đến bậc Tối Thượng Nhân.

(31) Saṅgītiyo pavattanti - ambare anilañjase

cammanaddhāni vādenti - disvānaccherakaṃ nabhe. 

Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ở trên bầu trời, các vị xướng lên những bài đồng ca ở khoảng không gian trên bầu trời và trình tấu những chiếc trống da.

(32) Saṅkhā ca paṇavā c’eva - athopi ḍeṇḍimā bahū

antalikkhasmiṃ vajjayanti - disvānaccherakaṃ nabhe. 

Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ở trên bầu trời, nhiều vị cũng đã biểu diễn các tù và vỏ ốc, có các phèng la nữa, và luôn cả những chiếc trống con ở trên không trung.

(33) Abbhūto vata no ajja - uppajji lomahaṃsano

dhuvam-attha-siddhiṃ labhāma - khaṇo no paṭipāṭito. 

(Rồi tán thán rằng:) “Quả nhiên, điều phi thường khiến lông dựng đứng đã sanh khởi đến chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta đạt được sự thành tựu lợi ích bền vững. Thời điểm của chúng ta đã đến rồi.”

(34) Buddhoti tesaṃ sutvāna - pīti uppajji tāvade

buddho buddhoti kathayantā - tiṭṭhanti pañjalīkatā. 

Khi nghe rằng: “Đức Phật!” niềm phỉ lạc đã tức thời sanh khởi đến các vị ấy. Họ đã đứng yên, chắp tay, thốt lên rằng: “Đức Phật! Đức Phật!”

(35) Hiṅkāraṃ sādhukārañ ca - ukkuṭṭhisampanādanaṃ

pajā ca vividhā gagane - vattanti pañjalīkatā. 

Và ở trên không trung, nhiều hạng chúng sanh chắp tay, thốt lên lời tán thán, ca ngợi, cổ vũ, reo hò.

(36) Gāyanti seḷenti ca vādayanti ca

bhujānipphoṭenti ca naccayanti ca

muñcanti pupphaṃ pana pañcavaṇṇikaṃ

mandāravaṃ candanacuṇṇamissakaṃ. 

Các vị ca hát, hò hét, tấu nhạc, vỗ tay, và nhảy múa. Hơn nữa, các vị còn rắc xuống bông hoa ngũ sắc, bông hoa mạn-đà-la được trộn lẫn với bột phấn gỗ đàn hương.

(37) Yathā tuyhaṃ mahāvīra - pādesu cakkalakkhaṇaṃ

dhajaṃ vajirapaṭākaṃ - vaḍḍhamānaṅkusāpitaṃ. 

(Họ thốt lên rằng:) “Hỡi bậc Đại Hùng, tương tợ như dấu hiệu của bánh xe ở hai bàn chân của Ngài có ngọn cờ, lưỡi tầm sét, huy hiệu, sự hưng thịnh, và gậy móc câu là vật tô điểm.

(38) Rūpe sīle samādhimhi - paññāya ca asādiso

vimuttiyā asamasamo - dhammacakkappavattane. 

Không có ai tương đương về dáng vóc, về giới, về định, về tuệ. Ngài ngang bằng với các bậc không thể sánh bằng về sự giải thoát và trong việc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.

(39) Dasanāgabalaṃ kāye - tuyhaṃ pākatikaṃ balaṃ

iddhibalena asamo - dhammacakkappavattane. 

Sức mạnh tự nhiên trong cơ thể của Ngài là sức mạnh của mười con voi. Không ai sánh bằng Ngài về năng lực thần thông trong việc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.

(40) Evaṃ sabbaguṇūpetaṃ - sabbaṅgasamupāgataṃ

mahāmuniṃ kāruṇikaṃ - lokanāthaṃ namassatha. 

Các vị hãy kính lễ bậc Đại Hiền Triết, đấng Từ Bi, vị Chúa Tể Thế Gian đã được thành tựu tất cả các đức hạnh và đã đạt được toàn bộ các chi phần như thế ấy.

(41) Abhivādanaṃ thomanañca - vandanañca pasaṃsanaṃ

namassanañca pūjañca - sabbaṃ arahasī tuvaṃ. 

Ngài xứng đáng tất cả các sự tôn kính, ca tụng, đảnh lễ, tán dương, lễ bái, và cúng dường.

(42) Ye keci loke vandaneyyā - vandanaṃ arahanti ye

sabbaseṭṭho mahāvīra - sadiso te na vijjati. 

Bạch đấng Đại Hùng, ở trên thế gian bất cứ những ai nên được đảnh lễ, những ai xứng đáng sự đảnh lễ, Ngài là vị đứng đầu tất cả. Người bằng Ngài không tìm thấy được.”

(43) Sāriputto mahāpañño - samādhijjhānakovido

gijjhakūṭe ṭhitoyeva - passati lokanāyakaṃ. 

Sāriputta có đại trí tuệ, thông thạo về định và thiền, chiêm ngưỡng đấng Lãnh Đạo Thế Gian dầu đang đứng ở núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).

(44) Suphullaṃ sālarājaṃva - candaṃva gagane yathā

majjhanhikeva suriyaṃ - oloketi narāsabhaṃ. 

Vị ấy nhìn thấy đấng Nhân Ngưu trông giống như cây Sālā chúa nở hoa đều khắp, tương tợ như mặt trăng ở trên bầu trời, y như là mặt trời lúc chính ngọ.

(45) Jalantaṃ dīparukkhaṃva - taruṇasuriyaṃva uggataṃ

byāmappabhānurañjitaṃ - passati lokanāyakaṃ. 

Vị ấy nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian rực rỡ ánh hào quang trông giống như cây trụ đèn đang cháy rực, tương tợ như mặt trời hừng đông đã ló dạng.

(46) Pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ - katakiccāna tādinaṃ

khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ - khaṇena sannipātayi. 

Sāriputta đã tức thời tựu hội lại năm trăm vị tỳ khưu là những vị có các lậu hoặc đã tận, không còn ô nhiễm, có các phận sự đã được hoàn thành như thế ấy (nói rằng):

(47) Lokappasādanaṃ nāma - pāṭihīraṃ nidassayi

amhepi tattha gantvāna - vandissāma mayaṃ jinaṃ. 

“Đức Phật đã làm hiện rõ điều kỳ diệu tên là ‘Sự phô bày thế giới.’ Chúng ta cũng sẽ đi đến nơi ấy và chúng ta sẽ đảnh lễ đấng Chiến Thắng.

(48) Etha sabbe gamissāma - pucchissāma mayaṃ jinaṃ

kaṅkhaṃ vinodayissāma - passitvā lokanāyakaṃ. 

Hãy đến, tất cả chúng ta sẽ đi. Chúng ta sẽ hỏi đấng Chiến Thắng. Chúng ta sẽ xua tan mối hoài nghi sau khi nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian.”

(49) Sādhūti te paṭissutvā - nipakā saṃvutindriyā

pattacīvaramādāya - taramānā upāgamuṃ. 

Sau khi đáp lại rằng: “Lành thay!” các vị thông thái ấy, có các căn được hộ trì, đã cầm lấy y và bình bát rồi mau chóng đi đến.

(50) Khīṇāsavehi vimalehi - dantehi uttame dame

sāriputto mahāpañño - iddhiyā upasaṅkami. 

Bậc đại trí tuệ Sāriputta đã đi đến bằng thần thông cùng với các vị Lậu Tận đã được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, không còn ô nhiễm.

(51) Tehi bhikkhūhi parivuto - sāriputto mahāgaṇī

liḷanto devova gagane - iddhiyā upasaṅkami. 

Được tháp tùng bởi các vị tỳ khưu ấy, vị có hội chúng đông Sāriputta đã đi đến bằng thần thông tợ như vị thiên nhân đang đùa giỡn ở trên không trung.

(52) Ukkāsitañca khipitañca - ajjhupekkhitvāna subbatā.

sagāravā sappatissā - sambuddhaṃ upasaṅkamuṃ. 

Sau khi ngăn lại tiếng tằng hắng và sự khịt mũi, các vị có đức hạnh đã tiến đến gần bậc Toàn Giác với sự kính cẩn, thận trọng.

(53) Upasaṅkamitvā passanti - sayambhuṃ lokanāyakaṃ

nabhe accuggataṃ vīraṃ - candaṃva gagane yathā. 

Sau khi đến gần, các vị nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc tự mình chứng ngộ, vị Anh Hùng, đã ngự lên ở trên không trung trông tợ như mặt trăng ở trên bầu trời.

(54) Jalantaṃ dīparukkhaṃva - vijjuva gagane yathā

majjhanhikeva suriyaṃ - passanti lokanāyakaṃ. 

Các vị nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian tương tợ như là cây trụ đèn đang cháy rực, như là tia chớp ở trên không trung, như là mặt trời lúc chính ngọ.

(55) Pañcabhikkhusatā sabbe - passanti lokanāyakaṃ

rahadamiva vippasannaṃ - suphullaṃ padumaṃ yathā. 

Toàn bộ năm trăm vị tỳ khưu nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian tương tợ như là hồ nước sâu thẳm không bị chao động, như là đóa hoa sen đang nở rộ.

(56) Añjaliṃ paggahetvāna - tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā

namassamānā nipatanti - satthuno cakkalakkhaṇe. 

Hớn hở, vui mừng, hoan hỷ, các vị đã chắp tay lên và trong lúc kính lễ các vị quỳ xuống ở dấu hiệu bánh xe (nơi bàn chân) của bậc Đạo Sư.

(57) Sāriputto mahāpañño - koraṇḍasamasādiso

samādhijjhānakusalo - vandati lokanāyakaṃ. 

Vị có đại trí tuệ Sāriputta, thiện xảo về định và thiền, được xem như tương đương với loài hoa koraṇḍa, đảnh lễ đấng Lãnh Đạo Thế Gian.

(58) Gajjito kālameghova - nīluppalasamasādiso

iddhibalena asamo - moggallāno mahiddhiko. 

Vang động như là đám mây đen, vị có đại thần lực Moggallāna, được xem như tương đương với đóa sen xanh, là không ai sánh bằng về năng lực thần thông.

(59) Mahākassapatheropi - uggatakanakasannibho

dhūtaguṇe agganikkhitto - thomito satthuvaṇṇito. 

Còn vị trưởng lão Mahākassapa tương tợ vàng nguyên chất, được công nhận là vị đứng đầu trong đức hạnh đầu-đà, được (chư thiên và nhân loại) tán dương, được bậc Đạo Sư khen ngợi.

(60) Dibbacakkhūna yo aggo - anuruddho mahāgaṇī

ñātiseṭṭho bhagavato - avidūreva tiṭṭhati. 

Đứng đầu trong số các vị có thiên nhãn là Anuruddha, có đồ chúng đông đảo, hạng nhất trong hàng quyến thuộc của đức Thế Tôn, đang đứng không xa.

(61) Āpatti-anāpattiyā - satekicchāya kovido

vinaye agganikkhitto - upāli satthuvaṇṇito. 

Upāli là vị rành rẽ về sự phạm tội, về sự không phạm tội, về việc sám hối tội, được công nhận là vị đứng đầu về Luật, được bậc Đạo Sư khen ngợi.

(62) Sukhumanipuṇatthapaṭividdho - kathikānaṃ pavaro gaṇī

isi mantāniyā putto - puṇṇo nāmāti vissuto. 

Vị ẩn sĩ con trai của bà Mantānī, phân tích ý nghĩa vi tế và bén nhạy, đứng đầu các vị Pháp sư, có đồ chúng, được nổi tiếng với tên là Puṇṇa.[5]

(63) Etesaṃ cittamaññāya - opammakusalo muni

kaṅkhacchedo mahāvīro - kathesi attano guṇaṃ. 

Biết được tâm của các vị ấy, bậc Hiền Triết, là vị thiện xảo về sự so sánh, là đấng Đại Hùng, là vị dứt trừ sự nghi hoặc, đã thuyết giảng về đức hạnh của bản thân:

(64) Cattāro te asaṅkheyyā - koṭi yesaṃ na ñāyati

sattakāyo ca ākāso - cakkavāḷā anantakā

buddhañāṇaṃ appameyyaṃ - na sakkā ete vijānituṃ. 

“Có bốn điều không thể tính đếm được và không ai biết được điểm tận cùng của các điều ấy: Tập hợp các chúng sanh, bầu không gian, các cõi thế giới vô biên, trí tuệ vô lượng của chư Phật; những điều này là không thể biết rõ.

(65) Kimetaṃ acchariyaṃ loke - yaṃ me iddhivikubbanaṃ

aññe bahū acchariyā - abbhūtā lomahaṃsanā. 

Có phải sự biến hóa thần thông của ta là điều kỳ diệu ở thế gian? Còn có nhiều sự việc khác nữa là kỳ diệu, phi thường, khiến lông dựng đứng.

(66) Yadāhaṃ tusite kāye - santusito nāmahaṃ tadā

dasasahassī samāgamma - yācanti añjalī mamaṃ. 

Vào lúc ta ở tại cung trời Đẩu Suất, khi ấy ta có tên là Santusita. Các vị thuộc mười ngàn thế giới đã tụ hội lại chắp tay thỉnh cầu ta rằng:

(67) Kāloyaṃ te mahāvīra - uppajja mātukucchiyaṃ

sadevakaṃ tārayanto - bujjhassu amataṃ padaṃ. 

- Hỡi bậc Đại Hùng, giờ là thời điểm của Ngài. Hãy sanh vào bụng mẹ. Trong khi giúp cho thế gian luôn cả chư thiên vượt qua, Ngài sẽ giác ngộ đạo lộ Bất Tử.

(68) Tusitā kāyā cavitvāna - yadā okkami kucchiyaṃ

dasasahassī lokadhātu - kampati dharaṇī tadā. 

Sau khi mạng chung ở cõi trời Đẩu Suất, vào lúc ta hạ sanh vào bụng (mẹ), khi ấy mười ngàn thế giới và quả đất rúng động.

(69) Yadāhaṃ mātukucchito - sampajānova nikkhamiṃ

sādhukāraṃ pavattanti - dasasahassī pakampatha. 

Khi ta rời khỏi bụng mẹ với sự giác tỉnh, mười ngàn thế giới đã rúng động, thốt lên tiếng “Lành thay!”

(70) Okkanti me samo natthi - jātito abhinikkhame

sambodhiyaṃ ahaṃ seṭṭho - dhammacakkappavattane. 

Không gì sánh bằng việc nhập thai của ta. Từ việc sanh ra, trong việc ra đi cao cả, trong việc tự mình giác ngộ, và trong việc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, ta là vị đứng đầu.

(71) Aho acchariyaṃ loke - buddhānaṃ guṇamahantatā

dasasahassī lokadhātu - chappakāraṃ pakampatha

obhāso ca mahā āsi - accheraṃ lomahaṃsanaṃ. 

(Chư thiên đã thốt lên rằng): “Ôi Tính chất vĩ đại về đức hạnh của chư Phật là điều kỳ diệu ở trên đời!” Khi ấy, mười ngàn thế giới đã rúng động sáu cách.[6] Và có ánh sáng vĩ đại đã xuất hiện. Là điều phi thường khiến lông dựng đứng!”

(72) Bhagavā ca tamhi samaye - lokajeṭṭho narāsabho

sadevakaṃ dassayanto - iddhiyā caṅkamī jino. 

Và vào khoảng thời gian ấy, trong lúc hiện ra cho thế gian luôn cả chư thiên chiêm ngưỡng, đức Thế Tôn, bậc Tối Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, vị Chiến Thắng đã đi kinh hành bằng thần thông.

(73) Caṅkame caṅkamantova - kathesi lokanāyako

antarā na nivatteti - catuhatthe caṅkame yathā. 

Ngay trong lúc đang đi kinh hành ở đường kinh hành, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã thuyết giảng. Như thể (đang đi) ở trên con đường kinh hành (có chiều dài) bốn cánh tay, Ngài không quay ngược trở lại (khi đang) ở vào khoảng giữa (con đường).[7]

(74) Sāriputto mahāpañño - samādhijjhānakovido

paññāya pāramippatto - pucchati lokanāyakaṃ. 

Là vị có đại trí tuệ, thiện xảo về định và thiền, đã đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ, Sāriputta hỏi bậc Lãnh Đạo Thế Gian rằng:

(75) Kīdiso te mahāvīra - abhinīhāro naruttama

kimhi kāle tayā vīra - patthitā bodhimuttamā. 

- Bạch đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân, lời phát nguyện của Ngài là như thế nào? Bạch đấng Anh Hùng, sự giác ngộ tối thượng đã được Ngài mong mỏi vào thời gian nào?

(76) Dānaṃ sīlañca nekkhammaṃ - paññāviriyañca kīdisaṃ

khantisaccamadhiṭṭhānaṃ - mettūpekkhā ca kīdisā. 

Bố trí, (trì) giới, xuất ly, trí tuệ, tinh tấn là như thế nào? Nhẫn nại, chân thật, quyết định, bác ác, hành xả là như thế nào?

(77) Dasapāramī mahāvīra - kīdisā lokanāyaka

kathaṃ upapāramī puṇṇā - paramatthapāramī kathaṃ. 

Bạch đấng Đại Hùng, vị Lãnh Đạo thế gian, mười ba-la-mật là như thế nào? Thế nào là ba-la-mật bậc trên được tròn đủ? Thế nào là ba-la-mật bậc tối thượng?

Katikamma-adhiṭṭhāya - adhipati ca kīdisā

kīdisā pāramī honti - dhīrā lokasmi kīdisā.

Đã quyết định bao nhiêu việc làm? Và điều chủ đạo là như thế nào? Các ba-la-mật là như thế nào? Các điều chắc chắn ở thế gian là như thế nào?

Mettā karuṇā muditā - upekkhā cāpi kīdisā

kīdisaṃ buddhadhammānaṃ - kevalaṃ paripūraya

Từ, bi, hỷ, và xả là như thế nào? Làm cho tròn đủ toàn bộ các pháp của vị Phật là như thế nào?

(78) Tassa puṭṭho viyākāsi - karavīkamadhuragiro

nibbāpayanto hadayaṃ - hāsayanto sadevakaṃ. 

Được vị ấy hỏi, Ngài đã trả lời với giọng nói ngọt ngào (như giọng hót) của loài chim karavīka (ca-lăng-tần-già) làm mát mẻ con tim, làm hoan hỷ thế gian luôn cả chư thiên.

(79) Atītabuddhāna jināna desitaṃ

nikīḷitaṃ buddhaparamparāgataṃ

pubbenivāsānugatāya buddhiyā

pakāsayī lokahitaṃ sadevake. 

Bằng trí tuệ hướng về các kiếp sống trước đây, Ngài đã giảng giải về (lịch sử) của chư Phật quá khứ, của các đấng Chiến Thắng, đã được thuyết giảng, đã được truyền thừa theo tuần tự chư Phật, là điều lợi ích cho thế gian luôn cả chư thiên.

(80) Pītipāmojjajananaṃ - sokasallavinodanaṃ

sabbasampattipaṭilābhaṃ - cittaṃ katvā suṇātha me. 

(Lời đức Phật:) - (Lịch sử ấy) là điều làm sanh lên niềm hoan hỷ vui mừng, là sự nhổ lên mũi tên sầu muộn, là việc đạt được mọi sự thành tựu, các ngươi hãy chú tâm lắng nghe ta.

(81) Madanimmadanaṃ sokanudaṃ - saṃsāraparimocanaṃ

sabbadukkhakkhayaṃ maggaṃ - sakkaccaṃ paṭipajjathāti. 

(Lịch sử ấy) là điều làm tiêu tan các sự đắm say, là sự xua đi các nỗi buồn rầu, là việc hoàn toàn thoát khỏi luân hồi, là đạo lộ tiêu diệt tất cả khổ đau, các ngươi hãy nghiêm trang theo dõi.

Ratanacaṅkamanakaṇḍo niṭṭhito.

Dứt Chương Con Đường Kinh Hành Bằng Châu Báu.

--ooOoo--

[1] Số thứ tự này được căn cứ theo Tạng Pāli của Anh (Pali Text Society) để tiện việc tham khảo. Những câu kệ thấy ở Tạng Thái (CD Budsir IV) nhưng không có ở Tạng Anh sẽ không được ghi số.

[2] Là 180.000.000 vị. 1 koṭi = 10.000.000 (ND = người dịch).

[3] 1 nahuta = 10.000 (ND).

[4] Chú giải ghi nghĩa của dīpa theo cả hai cách: ngọn đèn và hòn đảo.

[5] Puṇṇa Mantāniputta, đệ nhất về thuyết Pháp, con trai nữ bà-la-môn Mantānī.

[6] Sáu cách là: trái đất ở trong mười ngàn thế giới đã nghiêng từ đông sang tây, từ tây sang đông, từ bắc qua nam, từ nam qua bắc, từ trung tâm ra bên ngoài, từ bên ngoài vào trung tâm.

[7] Con đường kinh hành này nối dài từ thế giới ở phía đông sang đến thế giới ở phía tây. Và đức Phật đã đi kinh hành từ đầu đường phía bên này sang đến điểm cuối con đường ở phía bên kia chứ không quay ngược trở lại lúc đang đi ở vào khoảng giữa.

-ooOoo-

Những tập kinh khác:

[00] Mục Lục và Giới Thiệu

[01] Chương Dẫn Nhập: Con Đường Kinh Hành Bằng Châu Báu

[02] Lịch Sử Đức Phật Dīpaṅkara – Bồ Tát Sumedha

[03] Lịch Sử Đức Phật Koṇḍañña

[04] Lịch Sử Đức Phật Maṅgala

[05] Lịch Sử Đức Phật Sumana

[06] Lịch Sử Đức Phật Revata

[07] Lịch Sử Đức Phật Sobhita

[08] Lịch Sử Đức Phật Anomadassī

[09] Lịch Sử Đức Phật Paduma

[10] Lịch Sử Đức Phật Nārada

[11] Lịch Sử Đức Phật Padumuttara

[12] Lịch Sử Đức Phật Sumedha

[13] Lịch Sử Đức Phật Sujāta

[14] Lịch Sử Đức Phật Piyadassī

[15] Lịch Sử Đức Phật Atthadassī

[16] Lịch Sử Đức Phật Dhammadassī

[17] Lịch Sử Đức Phật Siddhattha

[18] Lịch Sử Đức Phật Tissa

[19] Lịch Sử Đức Phật Phussa

[20] Lịch Sử Đức Phật Vipassī

[21] Lịch Sử Đức Phật Sikhī

[22] Lịch Sử Đức Phật Vessabhū

[23] Lịch Sử Đức Phật Kakusandha

[24] Lịch Sử Đức Phật Konāgamana

[25] Lịch Sử Đức Phật Kassapa

[26] Lịch Sử Đức Phật Gotama

[27] – [28]

Những bộ Kinh khác :