Đại Nhân Tướng Và Oai Nghi Của Thế Tôn Trong Kinh Điển Nikāya – Khemārāma

Tuesday September 7, 2021

Tác giả: Ni viện Khemārāma

Bài kinh Brahmayu (Trung Bộ 91) kể về Bà-la-môn Brahmayu trú tại Mithila là một vị trưởng thượng, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda. Bà-la-môn ấy nghe đồn Thế Tôn Gotama được người đời tán thán là một vị đại A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, sau khi tự mình giác ngộ, đã tuyên thuyết chánh pháp làm lợi lạc cho vô số chúng sanh. Với tâm tư hoan hỷ, Bà-la-môn Brahmayu phái đệ tử của mình là thanh niên Uttara đi đến Thế Tôn để xem Ngài có đúng như thật lời đồn. Sau bảy tháng liên tục ở gần Thế Tôn như bóng không rời hình, thanh niên Uttara xác thực với vị sư trưởng của mình về đức Chánh Đẳng Giác với những oai nghi tế hạnh cùng đại nhân tướng không thể nghĩ bàn.

*Đức Thế Tôn có đầy đủ 32 tướng đại nhân:

  1. Lòng bàn chân bằng phẳng.
  2. Dưới bàn chân hiện ra hình bánh xe với ngàn tăm xe, với trục xe vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ.
  3. Có gót chân thon dài.
  4. Có ngón tay, ngón chân thon dài.
  5. Có tay chân mềm mại.
  6. Bàn tay, bàn chân có màn da lưới.
  7. Có mắt cá tròn như con sò.
  8. Có ống chân to như con dê rừng.
  9. Khi đứng thẳng, không cong lưng vẫn có thể rờ đầu gối với hai bàn tay.
  10. Có tướng mã âm tàng.
  11. Có màu da như đồng, màu sắc như vàng.
  12. Làn da trơn mướt khiến bụi không thể bám dính vào.
  13. Có lông da mọc từng lỗ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông.
  14. Có lông mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt.
  15. Có thân hình cao thẳng.
  16. Có bảy chỗ tròn đầy.
  17. Có nửa thân trước như con sư tử.
  18. Không có khuyết lõm xuống giữa hai vai.
  19. Có thân thể cân đối như cây bàng.
  20. Bề cao thân ngang bằng bề dài hai tay sải rộng, bề dài hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân.
  21. Có bán thân trên vuông tròn.
  22. Có vị giác hết sức sắc bén.
  23. Có quai hàm như con sư tử.
  24. Có 40 cái răng.
  25. Có răng đều đặn không có khuyết hở.
  26. Có răng cửa trơn láng.
  27. Có tướng lưỡi rộng dài.
  28. Có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim ca-lăng- tần-già (karavika).
  29. Có hai mắt màu xanh đậm.
  30. Có lông mi như con bò cái.
  31. Giữa hai lông mày, có sợ lông trắng mọc lên mịn màng như bông nhẹ.
  32. Có nhục kế trên đầu.

*Oai nghi của Thế Tôn Gotama:

  • Khi Thế Tôn bước đi:

Thế Tôn bước chân phải trước.
Không đặt chân xuống quá xa, không rút chân lên quá gần, không bước quá mau, không bước quá chậm.
Khi đi đầu gối không va chạm đầu gối, khi đi mắt cá không va chạm mắt cá, không co bắp vế lên, không duỗi bắp vế xuống, không đưa bắp vế vào trong, không đưa bắp vế ra ngoài.
Khi bước đi, chỉ di động phần thân ở dưới và không dùng toàn thân lực.
Khi đi không có ngưỡng mặt lên, không cúi mặt xuống, không có ngó quanh, và chỉ ngó xuống khoảng một tầm (yugamattam, bề dài một cái cày).

  • Khi Thế Tôn ngó quanh: Thế Tôn ngó quanh với toàn thân.
  • Khi Thế Tôn đi vào nhà: Không ngửa thân về phía sau, không cúi thân về phía trước, không đưa thân về phía trong, không đưa thân về phía ngoài.
  • Khi Thế Tôn ngồi ghế:

Quay lưng không quá xa ghế ngồi, không quá gần ghế ngồi.
Ngồi trên ghế, không nắm chặt thành ghế, không gieo thân ngồi xuống ghế.

  • Khi Thế Tôn ngồi trong nhà:

Ngài không rung tay, không rung chân.
Không ngồi tréo đầu gối với nhau, tréo mắt cá với nhau.
Không ngồi tay chống cằm.
Khi ngồi trong nhà, không có sợ hãi, không có run rẩy, không có dao động, không có hoảng hốt, lông tóc không dựng ngược, thiền tịnh độc cư.

  • Khi Thế Tôn rửa bình bát:

Không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài.
Nhận nước không quá ít, không quá nhiều.
Ngài rửa bát, không sanh tiếng động, rửa bát không xoay tròn bình bát.
Không đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai tay rửa xong, bát cũng rửa xong, khi bát rửa xong, tay cũng rửa xong.
Ngài đổ nước bình bát không quá xa, không quá gần, và không vẩy nước cùng khắp.

  • Khi Ngài nhận cơm và dùng cơm:

Không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận cơm không quá ít, không quá nhiều.
Ngài ăn đồ ăn vừa phải (với cơm), không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng thức ăn.
Thế Tôn đưa miếng cơm quanh miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân không bị nghiến nát và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước khi ăn miếng cơm khác.
Không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị.
Thế Tôn ăn đồ ăn có đầy đủ tám đức tánh: không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ không lỗi lầm, sống được an ổn".

Khi ăn xong, Ngài đặt bình bát xuống đất, không quá xa, không quá gần, không phải không nghĩ đến bình bát, cũng không quá lo cho bình bát.
Khi ăn xong, Ngài ngồi im lặng một lát nhưng không để quá thì giờ nói lời tùy hỷ (công đức).
Ngài nói lời tùy hỷ (công đức), không chỉ trích bữa ăn ấy, không mong bữa ăn khác; trái lại, Ngài với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ rồi ngài ra đi.
Ngài đi không quá mau, không quá chậm. Ngài đi không phải (như muốn) lánh xa hội chúng ấy.

  • Khi Thế Tôn đắp y:

Thế Tôn Gotama đắp y không kéo lên quá cao trên thân, không kéo xuống quá thấp, không dính sát vào thân, không có lơi ra khỏi thân.
Gió thổi không thoát y khỏi thân Thế Tôn.
Bụi nhớp không dính trên thân Ngài.

  • Khi Thế Tôn đi đến tu viện:

Ði đến tu viện, Ngài ngồi trên ghế đã soạn sẵn, sau khi ngồi liền rửa chân, Ngài không sống chú tâm vào công việc làm đẹp hai chân.
Ngài ngồi kiết già, lưng thẳng và đặt niệm trước mặt.
Ngài không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai. Thế Tôn ngồi, tâm hướng đến lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thế giới.

  • Khi Thế Tôn thuyết pháp:

Ngài thuyết pháp cho hội chúng, không tán dương hội chúng ấy, không chỉ trích hội chúng ấy, trái lại với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Tiếng nói thoát ra từ miệng Thế Tôn có tám đức tánh: lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động.
Khi Thế Tôn Gotama giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi hội chúng.
Hội chúng sau khi được Tôn giả Gotama khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho thích thú, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi vẫn quay nhìn lại, không muốn rời bỏ.
Bà-la-môn ấy sau khi được Thế Tôn tuần tự thuyết pháp, đã phát tin đức sanh trong sạch nơi tam bảo, quy y làm đệ tử cư sĩ năm giới; mạng chung vị ấy chứng được quả vị Bất Lai, hóa sanh về Phạm Thiên giới và từ đó nhập Niết Bàn.

Các bài viết khác :